" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

Đề Đốc Byrd – Gương thành công 21

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Năm 1910 một thiếu niên ở Winchester (tiểu bang Virginia) chép nhật ký. Đọc truyện đề đốc Peary hùng tâm gắng sức để tiến tới Bắc cực, em nhỏ mười hai tuổi đó cao hứng viết vào trong tập:

– Tôi đã quyết định sẽ là người thứ nhất tới được Bắc cực.

Và tức thì em dự bị cho một cuộc mạo hiểm gay go đó. Em vốn sợ lạnh, để tập chịu lạnh, em mặc những quần áo mỏng hơn và bỏ luôn chiếc bành tô. Sau em nhỏ tới được bằng phi cơ và là người thứ nhất tới Nam cực. Tên của em như bạn đã đoán được, là Richard Evelyn Byrd.

Đề đốc Byrd nghĩ rằng những khoảng băng tuyết mênh mông ở Nam cực lần lần thu lại và hằng trăm ngàn mẫu đất hoang hiện nay băng phủ, một ngày kia có thể thành một miền phú nguyên dồi dào vô cùng. Vì vậy ông quyết tâm cắm cờ Hoa Kỳ trên đất đó và chiếm nó cho xứ sở ông. Ý kiến của ông có thể đúng. Chính tôi đã thấy những mỏ than ở cách Bắc cực sáu trăm cây số và phần đông các nhà  địa chất học tin rằng có những mỏ than vĩ đại và có lẽ cả những mỏ dầu lửa nữa ở gần Bắc cực.

Đời Đề đốc Byrd là một tấm gương rực rỡ của một em nhỏ có lòng cao vọng không hề lay chuyển, và thắng được những trở ngại nhiều vô kể để làm được những việc lớn.

Nó cho ta thấy rõ giá trị thực tế của một mục đích độc nhất. Kẻ nào ngay từ nhỏ đã vạch một mục đích lớn và suốt đời không rời bỏ quyết định chủ yếu đó thì có việc gì mà làm không được!.

Trước hết, Byrd du lịch để coi các miền xa lạ. Hồi mười bốn tuổi ông đã đi vòng quanh địa cầu, mà  đi một mình! Rồi ông trở về nhà, vô trường đại học, nhưng học thì ít mà luyện các môn đấu quyền, vận lộn, đá banh thì nhiều. Ông chơi hăng quá đến nỗi gãy một chân, bể xương mắt cá, thành tàn tật mà thủy quân cho ông là không hợp cách nên miễn dịch ông. Bạn thử tưởng tượng: chưa đầy ba chục tuổi bị miễn dịch vì không đủ sức… biết bao người trong địa vị ông đã chán nản, tự cho là  đời mình bỏ đi rồi!

Nhưng Byrd không chịu thua. Ông tuyên bố rằng một người không cần đứng được mới lái nổi phi cơ, và dù chân ông có tật, mắt cá gãy nát, ông vẫn có thể lái phi cơ như thường. Nghĩ vậy, ông tập lái phi cơ, bị ba tai nạn, có lần máy bay của ông đâm vào một chiếc máy bay khác, nhưng rốt cuộc ông cũng lấy được bằng cấp phi công.

Luôn luôn khao khát mạo hiểm, ông nóng lòng được bay trên những khoảng băng tuyết ở Bắc cực, nơi mà từ trước chưa phi công nào dám bay tới. Nhưng ông bị người ta từ chối mấy lần.

Trước hết, ông định thám hiểm bằng một khí cầu máy, chiếc Shenandoah khi bay thử, chiếc khí cầu đó đâm bổ xuống đất, tan nát. Rồi ông xin chính phủ cho phép bay thử để hoàn thành một phi cơ có thể vượt Đại Tây Dương. Chính phủ từ chối vì ông tàn tật.

Ông lại năn nỉ người ta cho phép ông cầm lái một chiếc trong đoàn phi cơ mà Amundsen tính dùng để bay trên miền băng gần Bắc cực. Người ta lại từ chối nữa, lần này vì lý do ông đã có gia đình. Mấy lần thất vọng liên tiếp như vậy rồi cuối cùng lại thêm cái tin rằng Thủy quân miễn dịch ông lần nữa, cũng vẫn vì cái chân có tật của ông.

Chắc chắn là sở Thủy quân không thể lầm được, nhưng Byrd có quan niệm lố lăng này, là óc sáng kiến, lòng can đảm và trí thông minh quan trọng hơn một cái chân lành mạnh. Ông vận động, kiếm được những nhóm tư nhân chịu bỏ tiền giúp công việc thám hiểm của ông và tức thì ông phiêu lưu, làm cả thế giới ngạc nhiên. Ông vượt Đại Tây Dương, lên tới Bắc cực, liệng một chiếc cờ Hoa Kỳ xuống, rồi xuống Nam cực, cắm một chiếc cờ Hoa Kỳ khác.

Và khi ông trở về xứ sở thì hai triệu người hoan hô ông cuồng nhiệt có phần hơn dân La Mã hoan hô César thắng Pompée nữa.

Và rốt cuộc, chính phủ Hoa Kỳ tặng chức Đề đốc cho con người mà mười bốn năm trước bộ Hải quân đã chê là tàn tật và cho miễn dịch.

F. W. Woolworth – Gương thành công 20

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Năm hai mươi mốt tuổi, Barbara Hutton làm một tiệc đãi khách. Không khí trong nhà  đầy âm nhạc du dương và các danh ca bực nhất hát lên những bài tình tứ. Nàng mới hưởng được một gia tài khoảng hai chục triệu Mỹ kim thì ngại gì mà không tiếp tân một cách sang trọng?

Hai chục triệu Mỹ kim đó ở đâu ra? Thưa, do chứng chi tiêu lặt vặt của hàng triệu người Mỹ.

Nàng là cháu nội ông Frank Woolworth và mỗi lần một người Mỹ tiêu một cắc trong một cửa hàng “giá độc nhất của Woolworth” thì một phần số tiền đó vào trong túi của thiếu nữ mỹ miều tóc hung hung đó.

Frank Woolworth đã làm cách nào để gây gia tài đồ sộ đó? Thưa bạn, là nhờ ông được một điều may từ hồi mới khởi sự làm ăn: điều may đó là ông nghèo. Nghèo làm cho bước đầu khó khăn. Muốn có một tài sản trung bình thì tất nhiên là sinh trong một gia đình giàu lợi hơn là sinh trong một gia đình nghèo. Nhưng nếu muốn có một tài sản phi thường, một gia sản khổng lồ, thì vấn đề lại khác. Cần phải có một óc thực tế, một nghị lực, một lòng hăng hái đặc biệt, mà những đức tính đó rất ít khi thấy trong hạng người khởi sự làm ăn một cách dễ dàng.

Cho nên phần đông các nhà tỷ phú đều có bước đầu gian nan. Frank Woolworth sống trong một trại ruộng gần Watertown và nghèo khổ tới nỗi mỗi năm phải đi đất sáu tháng: mùa đông gió bấc lạnh như cắt mà không có tiền mua một chiếc áo bành tô nữa.

Cảnh nghèo giúp ông được nhiều việc lớn: nó gây cao vọng cho ông và làm ông nhiệt tâm muốn tiến tới. Ông ghét đời sống trong trại ruộng, muốn đi buôn. Cho nên năm hai mươi mốt tuổi, ông đóng một con ngựa cái già vào một chiếc xe chạy trên tuyết rồi tới Carthage ở tiểu bang Nữu Ước, ngừng trước mỗi cửa hàng để xin việc. Nhưng không ai muốn mướn ông hết. Ông cục mịch quá, chậm chạp quá. Ai lại tóc không hớt mà áo thì để hở ngực.

Sau cùng, một nhân viên hỏa xa chịu dùng ông. Nhân viên đó ngoài việc sở ra, còn trử đồ tạp hóa trong một cái kho. Frank Woolworth chịu làm không công để học nghề.

Sau ông xin một chân trong một tiệm bán đồ trang sức. Mặc dầu đã hai mươi mốt tuổi, chủ tiệm không tin rằng ông có đủ tư cách để tiếp khách. Người ta muốn giao cho ông việc dậy sớm đốt lửa, quét cửa hàng, lau kính, và  đi giao đồ. Ông không có quyền đứng bán, trừ những giờ đông khách, như buổi trưa, lại thêm chủ tiệm không muốn trả công cho ông trong sáu tháng đầu. Ông đáp rằng, trong mười năm làm mướn ở trại ruộng, ông đã dành được năm chục Mỹ kim, tất cả gia tài của ông chỉ có bấy nhiêu thôi, nhưng ông bằng lòng làm không công trong ba tháng đầu vì có số tiền đó đủ ăn rồi, từ tháng thứ tư trở đi thì ông xin được lãnh mỗi ngày năm cắc. Chủ tiệm bằng lòng, tới khi ông được lãnh mỗi ngày năm cắc thì người ta bắt ông làm việc mười lăm giờ một ngày, tính ra mỗi giờ vào khoảng ba xu.

Sau cùng ông kiếm việc trong một hãng khác, tiền công mỗi tuần mười Mỹ kim, và ông phải ngủ dưới hầm, với một khẩu súng lục ở dưới gối để coi chừng kẻ trộm. Đời ông lúc đó như một cơn ác mộng. Chủ tiệm hành hạ ông, đánh đập ông, mắng ông là  đồ vô dụng, rút tiền công xuống và dọa tống cổ ra cửa. Frank Woolworth hoàn toàn thất vọng. Tin rằng không sao thành công được, ông về trại ruộng, thần kinh suy loạn và suốt một năm chẳng làm được việc gì cả.

Bạn thử tưởng tượng. Con người sau này thành nhà buôn lớn nhất thế giới đó, thất vọng tới nỗi bỏ ý định làm ăn mà  đi về ruộng nuôi gà.

Rồi một hôm, ông ngạc nhiên vô cùng, một người chủ cũ sai người kiếm ông, muốn giao việc cho ông. Hôm đó là một ngày tháng ba, lạnh buốt, ở cuối thế kỷ trước. Mặt đất phủ tuyết dày tới non một thước. Ông thân sinh ra ông chở khoai tây ra chợ bán, ông leo lên xe, ngồi trên đống khoai, ra Watertown, ông sắp bước vào một nghề nó đưa ông tới cảnh giàu sang, quyền thế ngoài tất cả những hy vọng hão huyền nhất của ông.

Bí quyết thành công của ông ở đâu? Trước hết, ông có một ý, một ý mới mẻ. Ông mượn ba trăm Mỹ kim và lập một cửa hàng ở Nữu Ước tại đó không có một món gì bán quá năm xu. Mới đầu thất bại hoàn toàn. Mỗi ngày không lời được trên hai Mỹ kim rưỡi. Ông mở bốn tiệm thì phải đóng cửa ba tiệm.

Nhưng lần đầu ông thành công. Ý đó hay, cách thực hành cũng đúng, bấy nhiêu đủ cho ông tin chắc rằng ông sẽ thịnh vượng. Nhưng bấy nhiêu chưa đủ cho ông thành một tỷ phú, bí quyết thành tỷ phú của Woolworth cũng như bí quyết thành tỷ phú của Rockefeller, là gom góp vốn mà không phải đi vay, nói một cách khác là kiếm được lời thì đập cả vào vốn.

Nhất định không chịu mang nợ, ông cứ khuếch trương rất từ từ công việc làm ăn, trong mười năm đầu chỉ mở mười chi nhánh thôi. Rốt cuộc, ông thành một trong những người giàu nhất Hoa Kỳ.

Ông cất một ngôi nhà cao nhất thời đó làm phòng giấy. Ông trả tiền mặt ngôi nhà  đó mười bốn triệu Mỹ kim, mua một cái đ àn ống giá năm trăm ngàn Mỹ kim, và bắt đầu sưu tầm những di vật của Nã Phá Luân.

Hồi ông trẻ và nghèo, chịu bao nỗi thất bại đến hết tin ở tài mình nữa, thì bà cụ thân sinh ra ông quàng vai ông bảo:

– Cứ vững chí, con, thế nào con cũng sẽ thành công.

Zane Grey – Gương thành công 19

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Zane Grey đã chiến đấu với cơ hàn và thất vọng để chiếm được một địa vị trong hàng những tiểu thuyết gia nhiều độc giả nhất đương thời. Và ông chiến đấu như vậy khi ông sống trong một ngôi làng nhỏ.

Các nhà báo ngày nay trả ông vạn rưỡi Anh kim để ông viết cho một truyện, mà hồi đầu thì mỗi cuốn của ông bán không được ba đồng. Các nhà xuất bản nói rằng luôn ba năm nay mỗi năm trung bình bán được trên một triệu cuốn của Zane Grey, nhưng hồi mới viết, ông thất bại phải sống trong cảnh đói rét.

Thân phụ ông chỉ muốn ông học nghề nha y mà ông thì cho làm nha y chẳng hơn gì thợ mỏ. Nhưng lệnh cha, ông đâu dám cãi, cho nên ông phải học nghề nhổ răng, và mở một phòng nhổ răng cho thiên hạ trong nhiều năm.

Trong khi tay ông nhổ răng cấm, răng nanh thì óc ông chỉ nghỉ đến công việc khác, đến việc viết truyện.

Năm tháng trôi qua, ông càng thấy không chịu nổi bi kịch hàng ngày của ông. Ông khinh tởm nghề của ông mà cứ sáng sáng phải đánh xe tới phòng nhổ răng, như một tên nô lệ bị người ta quất, bắt phải chèo thuyền tới ngục tối vậy.

Sau khi quyết định làm một nhà văn, ông bỏ nghề nha y, dọn về một làng nhỏ để có thể sống kiệm tiện, vừa săn bắn, câu cá kiếm ăn, vừa tập viết.

Ông khó nhọc hàng tháng, có khi trọn một năm để viết một truyện, sửa đi sửa lại, đổi tình tiết, đổi nhân vật. Viết xong, ông đọc lớn tiếng từ đầu tới cuối, giọng hăng hái. Ông thấy hay lắm, tin chắc rằng mình sắp thành một văn hào. Khốn nỗi, ngoài ông ra, chẳng ai tin như vậy cả. Trong khắp xứ, không một nhà xuất bản nào chịu mua truyện của ông.

Ông đem hết tâm trí và thì giờ để viết luôn trong năm năm đằng đẳng, và trong năm năm ấy ông không kiếm được lấy một xu. Chơi dã cầu trong một đội nhà nghề thì thỉnh thoảng lại kiếm được ít nhiều, còn viết tiểu thuyết thì tuyệt nhiên không.

Một hôm ông đương tìm cách bán một tiểu thuyết thì gặp đại tá Buffalo. Đại tá muốn kiếm một người biết viết lách đi theo qua miền Tây để chép du ký. Zane Grey vồ ngay lấy cơ hội, nghĩ sắp được sống một cuộc đời phiêu lưu mà mê mẫn cả tâm thần.

Sống sáu tháng với bọn cao bồi và các bẫy ngựa rừng ở miền Tây, ông trở về nhà, viết tiểu thuyết nhan đề The last of the Plainsmen. Lần này ông chắc chắn có người mua bèn gởi bản thảo cho nhà xuất bản Harper và  đợi hai tuần, không thấy tin tức gì, ông nóng lòng quá, chạy lại hỏi nhà  đó.

Người ta trả bản thảo, nói: “Chúng tôi ân hận lắm, nhưng đọc hết cuốn mà không thấy chút gì chứng tỏ rằng ông có thể viết tiểu thuyết được”. Lòng ông tan nát. Ông choáng váng. Cuốn đó là cuốn thứ năm bị từ chối. Có ai cầm gậy đập mạnh vào đầu ông, cũng không làm ông điếng người bằng. Loạng choạng xuống thang gác, ông phải bíu chặt một cột đ èn cho khỏi té, và bản thảo kẹp ở nách, ông dựa cột nước mắt chảy dòng dòng.

Ông về nhà, đau đớn thất vọng. Ông đã sống nhờ bà vợ có chút của riêng, nhưng sau năm năm hết nhẵn tiền rồi mà nhà lại thêm một đứa con thơ nữa. Hai vợ chồng chán nản quá. Nhưng bà vợ cũng rán khuyến khích ông thử viết thêm một truyện nữa. Lúc đó vào cuối đông. Lò sưởi nhỏ quá, không đủ ấm, tay ông cóng lại, cứ viết được năm phút lại phải mở lò, đưa hai bàn tay lại gần ngọn lửa để sưởi.

Suốt mùa đông đó và cho tới mùa hè năm sau, ông cặm cụi viết tiểu thuyết đó, và khi viết xong, ông lại mang đến nhà xuất bản Harper. Cuồng loạn vì thất vọng, ông yêu cầu ông giám đốc nhà  đó đem về nhà và  đích thân đọc giùm cho ông. Hai ngày sau, Zane Grey trở lại, ông giám đốc cười, nói: “Nhà tôi thức gần trọn đ êm hôm qua để đọc tiểu thuyết ông, khen là hay. Vậy chúng tôi xuất bản cho ông”.

Nhan đề truyện đó là Heritage of the Desert. (Di sản của sa mạc). Sách ra được hoan nghênh nhiệt liệt.

Vậy sau mấy năm nghèo khổ và thất bại. Zane Grey đã thành một nhà văn kiếm được nhiều tiền nhất và một tiểu thuyết gia được nhiều người đọc nhất đương thời. Vì từ hồi đó, ông đã xuất bản khoảng sáu chục truyện và  độc giả đã mua của ông trên mười lăm triệu cuốn.

Dorothy Dix – Gương thành công 18

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Theo ý bạn, ký giả nào có nhiều độc giả nhất? Tôi thì cho rằng ký giả đó là một người đ àn bà sung sướng nhất Hoa Kỳ, vì đã giúp cho đủ hạng người giải quyết những vấn đề tình cảm của họ. Đã bao lâu nay, bà là người mẹ, là giáo sĩ rửa tội cho hàng triệu người đau khổ, cả đ àn ông lẫn đ àn bà. Chưa có ai đã tránh cho đồng bào được nhiều vụ li dị, đã cứu vớt được nhiều gia đình như bà.

Tên bà là Elizabeth Meriwether Gilmer. Bạn chưa nghe nói về bà ư? Có chứ! Đã nghe nói nhiều lần rồi, nghe tên Dorothy Dix nhiều lần rồi chứ! Dorothy Dix chính là bà. Hồi mới cầm viết, bà lựa bút hiệu đó vì bà thích nó, mà cũng vì bà muốn kỷ niệm một người mọi tên là Dix đã hầu hạ gia đình bà lúc bà còn nhỏ.

Vậy bà ký tên Dorothy Dix dưới những bài đăng trong hai trăm tờ nhật báo, để cho hàng triệu độc giả khắp thế giới đọc, từ Luân Đôn tới Châu Úc, từ Nữu Ước tới Nam Mỹ và Nam Phi Châu.

Cách đây ít lâu, tôi hân hạnh được uống trà với bà ở New Orleans, bà kể chuyện về tuổi thơ, về sự giáo dục của bà trong mười năm, sau cuộc nội chiến. Thân phụ bà có một trại nuôi ngựa giống ở biên giới Tennessee và Kentucky. Gia đình bà là một gia đình cổ ở phhương Nam vì chiến tranh mà sa sút. Bà nói:

– Chúng tôi sống kỳ cục lắm, nghèo không ra nghèo, sang không ra sang. Ngôi nhà cũ của chúng tôi đẹp lắm, chung quanh có những cánh đồng cỏ mơn mởn, bò và cừu mập ú, nhởn nhơ bên cạnh những cánh đồng trồng lúa và bông vải. Ăn thì chén dĩa bằng bạc. Như tiền thì không có.

Bà bận những đồ bằng len nhà, dệt ở hàng xóm. Bà thích kể rằng vú nuôi của bà là một con ngựa cái để đua, vì già và bệnh tật nên được thả ở trước nhà. Bà nói thêm:

– Tôi biết cưỡi ngựa trước khi đi học. Ba tôi đặt tôi lên lưng ngựa, tôi níu chặt bờm ngựa trong khi nó ăn cỏ. Khi nào nó luồng qua một sợi dây thừng mắc quần áo hoặc một cành cây là tôi bị hất xuống đất. Tôi la hét cho tới khi có người chạy ra bồng tôi lên, đặt tôi trên lưng ngựa.

Một chị vú da đen dạy cách ăn nói cư xử cho bà và chị em bà. Trong bữa cơm, chị ta đứng sau lưng bà, rình như một tên lính gác. Vô phúc mà láu ăn hoặc bốc đồ ăn hoặc khóc thì, cốp! Bị cú trên đầu liền.

– Ăn uống cho đàng hoàng. Đừng làm như những thằng nhỏ mất dạy da trắng đó nữa!

Ba đứa nhỏ phải chơi một mình, làm lấy đồ chơi mà chơi. Nhưng chơi với chó và ngựa, thú vị biết bao! Bà nói:

– Chúng tôi được tự do như chim trên trời vậy. Không bị bó buộc gì hết. Muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm. Chúng tôi thắng yên cương rồi cho ngựa chạy phi vô rừng, đằng sau là một bầy chó sủa vang trời. Chúng tôi biết hết cả những bí mật của rừng, những chỗ chim cùn cút trốn ở đâu, chim ưng làm tổ ở đâu, thỏ giấu con ở đâu. Chúng tôi cũng biết chỗ nào có trái lý dại và mùa thu tới, chỗ nào có những hạt dẽ ngon nhất. Lòng tự tin của chúng tôi tăng lên rất mau, vì chúng tôi biết xoay sở lấy, biết biển báo khi gặp nỗi khó khăn.

Đây là một điều lạ lùng nhất về bà. Chính một ông cụ già gần như điên, đã dạy bà  được nhiều điều rất quí. Ông cụ đó là bạn cũ của ông nội bà và sống trong nhà bà như người thân. Không những cụ dạy bà tập đọc mà còn hướng dẫn bà yêu những sách quí trong tủ sách nhà nữa. Bà nói:

– Chưa đầy hai mươi tuổi, tôi đã thuộc lòng Shakespeare, Scott, Dickens, tôi đã đọc Smollet, Fielding và Richardson. Không có sách để trẻ em đọc, tôi đ ành nhai đại những sách khó tiêu nhất nhưng bổ ích của người lớn. Và lúc nào tôi cũng thấy sung sướng được đọc những sách đó.

Bà  đi học trường nhà nước rất ít.

Cha tôi cho tôi lại học trường cô Alice hay cô Jenny không phải vì các cô ấy dạy giỏi mà chỉ vì thân phụ các cô ấy đã có công lao với xứ sở, hoặc làm đại tá dưới quyền chỉ huy của tướng Beauregard, hoặc đã tử trận ở Gettysburg. Làm sao được? Đó cũng là một cách giúp các cô ấy sống.

Trước khi biết bảy lần bảy là bốn mươi chín, bà  đã leo cây giỏi như một con sóc và cưỡi ngựa tài như một chú nài. Sự thật bà chỉ được học trong những sách cũ của thân phụ để lại.

Rồi năm mười tám tuổi, bà về nhà chồng, tính sống cuộc đời yên ổn như mọi thiếu phụ khác trong trường hợp đó. Nhưng một bi kịch xảy ra, vùi bà trong một tai biến về hai phương diện gia đình và tài chánh. Mới cưới nhau được ít lâu, chồng bà thành một người tàn tật, một phế nhân. Bà phải săn sóc chồng, nuôi chồng cho tới khi chồng chết, trong ba mươi lăm năm đằng đẳng. Lúc đó bà không biết làm sao kiếm đủ nuôi thân mình, đừng nói là nuôi chồng nữa. Bà lo lắng quá, hóa đau, phải tới Gulf Coast ở Mississipi để dưỡng sức.

Lần đi xa nhà  đó đã làm thay đổi hẳn đời bà. Trong khi nghỉ ngơi trên bờ biển, bà viết một truyện ngắn kể một việc xảy ra trong gia đình bà hồi nội chiến. Song thân bà sợ những đồ quí bằng bạc bị lính phương Bắc cướp mất, sai một tên nô lệ đem chôn ở bên mộ tổ tiên. Hắn chôn xong còn làm phép phù thủy yếm cho kẻ trộm khỏi tới gần. Bà bán truyện đó cho một bà hàng xóm làm chủ nhiệm một tờ nhật báo lớn nhất miền Nam, tờ Picayune ở New Orléans. Người ta trả bà ba Mỹ kim và dùng bà làm phóng viên trong tòa soạn. Như vậy bà chỉ kiếm được năm Mỹ kim mỗi tuần, vừa đủ cho hai ông bà sống, nhưng nhờ viết phóng sự mà sau này bà nổi danh khắp trong nước.

Công việc đầu tiên của bà là mỗi chủ nhật viết một bài dài khuyên bảo phụ nữ về đời tình cảm của họ đối với chồng con.

Phần đông nữ sĩ viết một lối văn cầu kỳ. Họ rán dùng một bút pháp có vẻ thông thái, độc đáo để tỏ ra mình hơn người, họ muốn tự tạo một tư cách “thượng đẳng”. Dorothy Dix trái lại, viết rất giản dị, thành thử nữ độc giả thích ngay. Bà không cần tự tạo một tư cách giả tạo, chính bà  đã có một tư cách chân thực, mạnh mẽ của một phụ nữ Mỹ sống giữa thiên nhiên và những truyền thống của một gia đình cổ phương Nam. Một xã hội càng rập theo đời sống mới nhất luật bao nhiêu thì lại càng trọng những người còn giữ được cái ý nhị, tự nhiên của cổ nhân bấy nhiêu. Ở thời đại này, nhiều người nhờ bí quyết đó mà thành công trong nghề viết văn, nghề làm báo, truyền thanh, hát bóng, diễn kịch…

Những bài của Dorothy Dix được hoan nghênh nhiệt liệt. William Rodolp Hearst luôn luôn tìm những tài ba mới, tặng bà những số tiền lớn để bà viết cho tờ Evening Journal ở Nữu Ước. Bà cần tiền lắm nhưng không bỏ chủ báo cũ, vì chính nhờ tờ Picayune mà bà  đã học được nghề viết báo. Vả lại lúc đó chủ tờ Picayune đau, cần bà ở lại giúp việc. Vì vậy bà không nhận lời William Rodolp Hearst, nhưng năm 1901, khi chủ báo cũ mất, bà qua viết tờ Evening Journal. Trong hai chục năm sau chẳng những bà giữ mục Tâm tình mà còn viết nhiều bài phóng sự lớn để đứng về phương diện nhân đạo mà phê bình những tin tức kích thích nhất, như vụ xử lớn về hình sự. Chẳng hạn bà viết phóng sự vụ xử Harry K. Thaw, nhà triệu phú ở Pittsburg đã giết kiến trúc sư nổi danh nhất Nữu Ước là Stanford White(…) Bà thuật lại vụ Hall Mills, một tội đại hình bí mật nhất của thế kỷ XX.

Thành thử một thiếu nữ rất giản dị, mà hồi hai mươi tuổi còn quê mùa, chưa đi xe lửa quá sáu lần, chưa đi coi hát hoặc ra thành thị quá hai lần, sống trong một trại hẻo lánh ở Kentucky, nay đã thành một ký giả nổi danh nhất Nữu Ước.

Người ta thường hỏi bà có phải chính bà viết những bức thư ký tên độc giả rồi lại tự đáp trên mục “Thư tâm tình” không. Bà  đáp:

– Đâu có vậy! Cần gì phải thế? Mỗi ngày tôi nhận được từ một trăm tới một ngàn bức thư của độc giả mà!

Những bức thư đó là những tài liệu lạ lùng về lòng người. Người ta không giấu giếm gì cả, cởi hết lòng với bà. Đọc nó, bà biết được hơn ai hết những thắc mắc của con người thời này.

Bà  được các trường Đại học Tulane và Oglethorpe tặng nhiều vinh hàm, nhưng vì bà không có con, nên những vinh hàm đó không làm cho bà vui bằng khi nhận được những hàng chữ như vầy của thanh niên đau khổ, hoang mang: “Tôi trọng bà hơn má tôi, tôi biết rằng bà hiểu tôi…”

Enrico Caruso – Gương thành công 17

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Khi Enrico Caruso mất năm 1921, hồi bốn mươi tám tuổi, hàng triệu người buồn rầu, vì giọng hát của thời đại đã bặt hẳn từ ngày đó. Ông đã tắt nghỉ trong tiếng vỗ tay khen ông ở khắp thế giới văng vẳng bên tai ông. Ông làm việc quá sức, bị cảm hàn nhẹ, nhưng ông coi thường không thèm chữa, và suốt sáu tháng ông can đảm chống cự với thần chết, trong khi một triệu tín đồ yêu ông cầu nguyện cho ông qua khỏi.

Giọng hát mê hồn của Caruso không phải là do trời cho mà là phần thưởng của nhiều năm gắng sức, kiên nhẫn luyện tập, giữ vững quyết định.

Mới đầu giọng ông nhỏ quá, nhẹ quá đến nỗi thầy dạy hát bảo ông:”Anh không thể hát được. Anh không có giọng. Anh hát như tiếng gió thổi vào cửa lá sách vậy”.

Trong nhiều năm giọng ông vỡ ra và một lần ông bị thính giả huýt còi. Ít người đã được uống cạn ly rượu thành công như ông, vậy mà hồi danh thịnh nhất, nhớ lại ngày xưa đã thất bại, ông thường đau đớn đến sa lệ.

Má ông mất khi ông mười hai tuổi và từ đó, bất kỳ đi đâu, ông cũng mang theo một tấm hình của bà cụ.

Bà cụ sanh hai mươi mốt lần mà chỉ nuôi được có ba người con. Vốn quê mùa cụ có biết gì khác ngoài sự làm ăn khó nhọc và nhẫn nhục đau khổ, vậy mà cụ có linh tính bảo rằng một người con trai của cụ có thiên tài, danh tiếng sẽ vang lừng, và không có việc nào ích lợi cho con, mà cụ không làm, dù phải hy sinh rất lớn. Caruso thường vừa khóc vừa nói: “Má tôi nhịn mua giày dép, đi chân không, để tôi có tiền học hát”.

Hồi ông mới mười tuổi, thân phụ ông bắt ông thôi học, cho ông vào làm trong một xưởng. Mỗi tối, sau khi làm việc xong, ông học đ àn, nhưng mãi đến năm hai mươi mốt tuổi, ông mới được vui vẻ ca hát từ giã xưởng.

Người ta cho ông hát trong một quán cà phê, không chịu trả công ông mà chỉ cho ông ăn bữa tối. Ông vồ ngay lấy cơ hội ấy.

Sau cùng ông được hát trong một nhạc kịch trường. Lần đó mới thực là lần may mắn đầu tiên của ông. Trong lúc diễn thử, ông bị kích thích quá, thành thử giọng ông bể ra như những mảnh kính. Ông thử đi thử lại mấy lần, nhưng kết quả chỉ tai hại, ông khóc mướt, chạy về nhà.

Lần đầu ra sân khấu, ông lảo đảo, tới nổi thính giả huýt còi phản đối. Lần đó ông chỉ đóng một vai tạm để thay thế vai chánh. Một tối, vai chánh thình lình đau mà ông không có mặt ở rạp. Người ta bảo đi tìm ông khắp đường phố. Sau cùng người ta thấy ông trong một tiệm rượu, gần say khướt. Hay tin, ông chạy một mạch về rạp, tới nơi ông hết hơi, người nóng bừng vì rượu và vì không khí trong phòng thay quần áo. Rồi thình lình trái đất quay như chong chóng. Và khi Caruso bước ra sân khấu, ông hát bậy bạ như điên, cả rạp nhao nhao lên phản đối.

Sau buổi hát đó, ông bị đuổi. Hôm sau ông đau lòng quá, thất vọng quá, muốn tự tử.

Trong túi chỉ còn mỗi một đồng, đủ để mua một chai rượu. Ngày hôm đó ông nhịn đói. Và  đúng lúc ông đương nghĩ nên tự tử cách nào thì một người nhạc kịch trường sai tới đẩy cửa bước vào, la:

– Caruso! Về rạp ngay đi! Thính giả không muốn nghe ca sĩ đó nữa. Họ huýt còi đuổi hắn ra khỏi sân khấu rồi. Họ la đòi anh ra. Đòi anh cho kỳ được!

Caruso đáp:

– Đòi tôi! Họ khùng hở? Tại sao lại đòi tôi? Họ có biết tên tôi là gì đâu mà  đòi tôi?

– Họ không biết tên anh thật. Nên họ bảo gọi cái anh say rượu hôm qua ra. Thì là anh chứ còn ai nữa!

Khi Enrico Caruso mất, ông có mấy triệu bạc. Chỉ riêng một việc hát để người ta thu thanh vào đĩa, ông cũng kiếm được bốn trăm ngàn Anh kim rồi. Nhưng vì nhớ lại cảnh nghèo hồi bé, nên ông mới cần kiệm ghi hết thảy những chi phí bất kỳ lớn nhỏ vào một cuốn sổ cho tới khi ông chết.

Có lẽ phút vui nhất trong đời ông là lúc ông được bồng đứa con gái ông lần đầu. Ông nói đi nói lại hoài rằng ông chỉ cần đợi khi nào con gái ông lớn một chút, chạy lăng xăng trong nhà, và mở được cửa phòng ông mà vô là ông mãn nguyện rồi. Và một hôm, ở Ý, ông đứng bên cạnh chiếc dương cầm, thì sở nguyện của ông thực hành được: con gái ông chạy vô, ông bồng nó lên, rồi nước mắt dòng dòng, ông nói với vợ: “Mình còn nhớ không, anh chỉ mong mỏi được thấy lúc này?”.

Không đầy một tuần sau ông mất.

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.