" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

Phần III – Chương 8 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC BÀN VỀ LỐI KHẢO XÉT NGƯỜI CÁCH TRỰC TIẾP

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Bất luận một công cuộc làm ăn nào, xét theo nghĩa chung cũng phải đi đến chỗ tranh chấp về quyền lợi, dù là một cuộc mua bán, việc ký kết một tờ hợp đồng, một bản thỏa hiệp hay việc thành lập một hội buôn.

Kinh doanh là một cuộc tranh đấu mà chúng ta phải chiến thắng nhưng không đè bẹp đối phương vì trong những công cuộc làm ăn phải cố làm thế nào cho đối phương trở nên một đồng minh, một người bạn với mình, đó mới là thượng sách.

Trong cuộc tranh đấu ấy, biết rõ đối thủ là một điểm lợi không nhỏ. Lẽ đương nhiên, trong những công cuộc làm ăn to, trước khi xuất trận ai cũng biết dò dẫm đường đất trước hoặc lo thu thập những tài liệu, những điều cần biết về công cuộc ấy. Chúng ta cũng hay dò xét về bề thế, về dĩ vãng, về địa vị xã hội của những người mình định hợp tác, song về cá tính của họ thì chúng ta không mấy rõ bởi chúng ta chỉ gặp gỡ họ trong công việc làm ăn, không có dịp đi sâu vào đời tư của họ.

Những tay doanh nghiệp cừ mà người ta khâm phục và quen gọi họ là những “con cáo già” trong thương trường là những người rất hoạt động, đầu óc lại tinh nhuệ, phụ vào đó, họ rất giàu kinh nghiệm về người và việc.

Nói rằng sự thấu hiểu những định luật tâm lý có thể thay thế hẳn cái kinh nghiệm quý báu ấy có khi hơi quá đáng, song điều chắc chắn là nó có thể giúp chúng ta thâu thập kinh nghiệm ấy một cách dễ dàng, nhanh chóng hơn và biết sử dụng nó một cách kiến hiệu hơn.

Trong đời sống, chúng ta thường gặp phải bài toán này: chúng ta mưu tính một công cuộc làm ăn, chúng ta nghiên cứu nó; trong giai đoạn nghiên cứu ấy chúng ta có dịp tiếp xúc với một người nào đó mà thường khi chúng ta chỉ biết về địa vị xã hội của họ. Như vậy làm thế nào để nhận định rõ cá tính của họ? Làm cách nào để vạch ra cái phương trình cá tính của người ấy?

Những phương pháp để dò xét cá tính con người mà chúng tôi vừa chỉ ở chương trước không thể áp dụng trong trường hợp này. Chỉ có lối dò xét trực tiếp và những cuộc quan sát tinh xác mới có thể giải quyết phần nào bài toán khó giải ấy.

Trước hết phải nhận xét về cái “mặt tiền” của người:

Việc quan sát đầu tiên mà chúng ta có thể làm là quan sát cá tính tập thành, cái phần cá tính dễ nhận xét nhất. Trước khi giao dịch làm ăn với ai, lẽ dĩ nhiên chúng ta phải dò xét về người đó.

Chẳng những dò xét về cái “chân đứng” của họ trên thương trường, dựa theo những tài liệu do các ngân hàng hoặc các cơ quan chuyên môn cung cấp; ngoài ra chúng ta còn phải dò xét những thị hiếu, những thói quen, xét về tư tưởng, về trình độ văn hóa của họ.

Nội một việc phân tách cái cá tính tập thành như chúng tôi đã có chỉ ở một phần trước, cũng có thể giúp chúng ta “hiểu” đôi chút về một người nào đó.

Một nhà thể thao (nên hiểu là người thích tập thể thao chứ không phải người thích xem những cuộc thịnh diễn thể thao), một người hay đi du lịch, năng xê dịch, quen dậy sớm, có thể kể là người hoạt động.

Một người thích “chơi bời”, thích “ăn nhậu” ắt có ít nhiều tham muốn.

Người có óc thẩm mỹ, thích âm nhạc, thích chơi tranh, viết văn hoặc ngâm thơ ắt phải có nhiều cảm xúc tính, nhiều trí tưởng tượng.

Cứ trông vào nhà một người, nếu chúng ta thấy nơi ấy thường có những cuộc tiếp tân, tiệc tùng, chúng ta có thể đoán chủ gia là người có nhiều óc hợp đoàn, nhưng cũng đừng quên ảnh hưởng của người đàn bà; lắm gia đình có bộ mặt rất niềm nở, nhưng chúng ta đừng vội đoán rằng chủ gia là người thích giao du, vì thực ra đó chỉ là sở thích riêng của bà vợ, còn ông chồng thì tính vốn thích cô độc, kém xã giao.

Thấy một người tham gia nhiều hội hè, hoặc có chân trong hội thể thao, hội phước thiện, chúng ta có thể tạm đoán: lòng nhân người ấy khá cao. Ngoài ra nhận xét này cũng có thể là chứng chỉ của lòng tham muốn, của óc hợp đoàn bởi có người tham gia vào những công cuộc ấy chỉ vì háo danh, ham chức. Chúng ta há chẳng thường thấy những tấm danh thiếp trên đó có ghi hàng loạt chức vị nào là chủ tịch hội này, tổng thư ký hội kia, hội trưởng danh dự phong trào nọ, lại có những người bất luận ở đám nào người ta cũng thấy họ chường mặt đến.

Những tham vọng về chính trị cũng là điềm chỉ về lòng tham muốn và óc hợp đoàn.

Trái lại, người nhận lãnh chức tổng thư ký của một hội ái hữu, một chức vụ ở trong bóng tối nhưng đòi hỏi nhiều hy sinh, bởi viên tổng thư ký của một hội trường phải cáng đáng hầu hết công việc của hội, ắt phải là người biết hy sinh tức là giàu lòng nhân.

Trong một vài cuộc gặp gỡ khó mà nhận xét óc phán đoán của một người, họa chăng chúng ta biết dựa vào một vài câu chuyện người khác nói về họ rồi suy diễn ra để dò biết.

Sức khỏe:

Đã có những tài liệu đầu tiên ấy bây giờ chúng ta sẽ trực tiếp dò xét người ấy để tìm hiểu họ rõ hơn.

Công việc phải làm trước tiên là thử đoán về sức khỏe của họ. (Trong quyển tiểu thuyết “Những Con Người” của Pierre Hamp, một bác thợ cạo nói: “Khi đôi tay tôi nắm giữ lấy cái đầu của một người khách, tôi tự hỏi ông ta mắc chứng bệnh gì?”). Ở một phần trước chúng tôi đã nói qua về ảnh hưởng của toàn thân cảm giác đối với hành động và thái độ của con người. Chúng ta có ích lợi mà nhận xét về sức khỏe của những người chúng ta định hợp tác. Sức khỏe của họ dồi dào, tinh thần họ vui vẻ, bãi bôi, họ yêu đời. Thiếu sức khỏe hoặc mắc bệnh hoạn, họ sẽ là người lạnh lạt, cau có, vả lại đối với người bệnh chúng ta phải dè dặt khi mưu sinh với họ những công cuộc làm ăn dài hạn, họ có thể nằm trên giường bệnh hàng năm, để chúng ta gánh lấy tất cả công việc, hoặc giả họ dám bỏ rới chúng ta dọc đường để bước sang thế giới khác.

Chúng ta sẽ không xin hội kiến với người đau dạ dày sau buổi ăn, vì lúc ấy họ bị dạ dày hành và họ đâm ra cáu kỉnh. Trái lại, người sung huyết rất vui vẻ sau khi ăn uống no đủ. Đối với người thuộc thần kinh chất nên tiếp xúc với họ vào buổi sáng hơn buổi tối.

Hình dáng thể chất của một người cũng có thể là những điềm chỉ về các chứng bệnh thuộc tạng phủ. Đành rằng những dấu hiệu bên ngoài ấy chưa đủ để quyết đoán về căn bệnh, một người gầy yếu lại thường ho khúc khắc chưa hẳn là người bị lao, một người mập mạp, hồng hào có thể mang chứng bệnh ung thư, nhất là thời kỳ bệnh này mới phát triển.

Những triệu chứng chỉ về bệnh tật mà chúng tôi vạch ra dưới đây chỉ là những phỏng đoán, những tài liệu đầu tay, tuy thế tưởng cũng nên biết qua.

Những gân máu ở hai mang tang nổi gồ ra là điềm chỉ người sung huyết. Ở những người có tuổi, đó là triệu chứng bệnh mạch cứng.

Cái bướu thịt ở cổ (trái cấm) và mắt lồi (mắt ốc bưu) là dấu hiệu tim yếu.

Người gầy đét, nét mặt nhăn thường đau quặn ở dạ dày, sau bữa ăn bị bức rứt, hay cáu kỉnh, là điềm chỉ bệnh ăn khó tiêu kinh niên, hoặc cuống dạ dày sưng, nổi bướu, nếu không phải do gốc ung thư, có thể chữa hết bằng cách mổ.

Người bị lao thường gày còm, đôi mắt sáng một cách đặc biệt, hay ho khan, khó thở.

Những khớp xương ngón tay nổi gồ hoặc méo mó là triệu chứng bệnh thống phong, bệnh phong thấp.

Người đau gan, con mắt thường vàng như nghệ. Nước da người yếu gan cũng thường vàng và ngâm ngâm.

Trí nhớ đột nhiên bị mất, nhất là trường hợp nó mất hẳn nhưng chỉ trong một chập là dấu hiệu bệnh kinh gián.

Trí nhớ bị mất dần dần, nhất là ở người hơi có tuổi là điềm chỉ báo hiệu bệnh lẩm cẩm. Bệnh tim la ăn vào óc, bệnh nghiện rượu, nghiện thuốc phiện cũng có thể làm suy giảm trí nhớ.

Những thương tích, tinh thần bị xúc động quá mạnh cũng có thể làm mất trí nhớ một phần nào hoặc mất hẳn.

Môi da chì lại có những chấm nâu nâu là triệu chứng của bệnh addison tức là chứng bệnh thuộc về thượng thận.

Người thiếu máu thì da mặt thường mét hoặc trắng bạch chản, môi trắng nhợt, mắt thiểu thần mất sắc. người thiếu máu không hẳn là người gầy nhưng luôn luôn họ cáu kỉnh và có vẻ uể oải, mệt nhọc.

Có hai mẫu người nghiện rượu, một mẫu “bợm nhậu” cổ điển: sắc mặt láo liên, gương mặt đẫy đà luôn luôn nhuộm màu ớt, gân máu ở mặt nổi gồ, đầu chóp mũi đỏ au; một mẫu “bợm nhậu” khác da mặt lại tái mét, khuôn mặt gầy gò, da khô lùi xùi. Môi và lưỡi người nghiện rượu thường bị run nên họ hay nói lắp. Lúc chưa ăn, khi họ đặt bàn tay xuống bàn và xòe những ngón tay ra chúng ta để ý thấy một vài ngón run rẩy. Nên để ý điều này là người có thể vướng bệnh nghiện rượu mặc dầu chưa bao giờ bị say rượu.

Đặc điểm của người nghiện thuốc phiện hoặc các chất ma túy như cocain và mọt-phin là khi đã no say với ả phù dung thì họ trải qua một giai đoạn khích thích, nói năng huyên thuyên, cử chỉ nhanh nhẹn, để rồi một thời gian sau đó, họ lại trải qua một giai đoạn suy nhược nằm không muốn cựa quậy, lo âu, rã rượi, nếu họ không kịp tiếp tế chất độc ấy vào người.

Chứng run rẩy có nhiều nguyên do: run vì rét lạnh, vì sợ hãi, vì quá xúc động là nguyên do ở sinh lý. Song ngoài ra có những chứng run rẩy khi đều đều khi bất thường, đó là do sự suy nhược của thần kinh, cái run rẩy của những người đa cảm xúc.

Môi và lưỡi những người bị chứng tê liệt toàn diện thường run rẩy. Do đó họ nuốt mất nhiều tiếng khi nói chuyện (nói đớt đát). Nên để ý điều này: trong giai đoạn đầu của chứng tê liệt toàn diện, người bệnh hay có những tật của trẻ con.

Người cầm ly rượu đưa vào miệng uống mà tay run rẩy đã có triệu chứng ngạnh kết. Tiếng nói hơi run, bước đi chập chững cũng là triệu chứng của bệnh này.

Tay của người bị lậm vì chất độc của thủy ngân, của thuốc lá, của thuốc phiện trắng cũng bị run rẩy như người nghiện rượu (khi bắt họ xòe các ngón tay ra).

Lúc đi mà chân bị run hoặc bước đi cứng đơ như hình nộm là triệu chứng của bệnh ta bét (tabès), một chứng bệnh có nguyên nhân xa ở bệnh tim la.

Chứng đái đường không có dấu hiệu bên ngoài, người mắc chứng bệnh ấy có khi mập mạp phốp pháp, có khi lại gầy đét. Tuy nhiên, xem cách ăn uống của họ: cữ các thức ăn có chất đường, có chất bột chúng ta có thể đoán biết.

Những người bị sưng nhiếp hộ tuyến bị đau thận, bị bệnh trĩ không thể ngồi lâu một chỗ được.

Những người bị chứng tĩnh mạnh trường, nổi gân xanh hoặc sung tĩnh mạch, đứng lâu không được. Hai chứng bệnh này do máu huyết lưu thông không đều. Riêng về bệnh sưng tĩnh mạch, nếu không khéo chữa có thể gây ra bệnh tắt huyết.

Những tật giật gân cũng đáng cho chúng ta quan tâm. Nên phân biệt những tật giật gân với những tật giật thịt. Tật giật thịt thường diễn ra trên mặt và có tính cách bất thường, vô ý thức. Tật giật gân trái lại là mọt sự lệch lạc của vận động tinh thần. Thoạt tiên tật giật gân là một cử động có mục đích rõ rệt nhưng vì đặng lặp lại mãi về sau biến thành một cử động tự động.

Những tật giật gân (như vuốt râu, gải tay, cạy mũi, cắn móng tay) thường đặng lập lại một cách vô ý thức, tự động.

Như đã nói trước, tật giật gân thoạt tiên là một cử động ý thức (thí dụ nheo mắt, lối nhướng mắt của người cận thị).

Phái nam hay phái nữ và ở tuổi nào cũng có thể vướng tật này, nhưng sớm nhất ít ra cũng phải từ độ lên năm lên sáu trở đi.

Những người có tật giật gân luôn luôn là người đa cảm xúc.

Những tật giật gân có tính cách hay biến đổi. Nó có thể diễn ra từng chập, từng quãng bất thường, không theo một nhịp điệu duy nhất nào cả. Nó thường diễn ra từng hồi, từng cơn. Có lúc tưởng như nó chấm dứt nhưng rồi nó lại nổi cơn lên còn mạnh hơn trước. Trong giấc ngủ nó mới dịu bớt và ngưng hẳn.

Có những tật giật gân thuộc về mặt, nó làm giật môi, miệng, lưỡi, con mắt, có những tật giật gân thuộc về cổ (tật ngoáy cổ, lật lắc đầu), thuộc về thân vai (lật uốn mình) v.v…

Lại có những tật giật gân thuộc về bộ hô hấp (ho hen, đằng hắng), thuộc về cách phát âm (thinh không lại phát ra những tiếng “a a”, “oa”), thuộc về lới nói (trong khi nói chuyện đệm vào những tiếng vô nghĩa).

Nói lắp (nói cà lăm) không phải là một tật giật gân.

Người nói lắp có thể là người thông minh. Người nói lắp là người nhiều cảm xúc vì muốn nói nhanh quá nên bị lắp.

Nếu biết cách huấn luyện có thể chữa được tật nói lắp.

Để chấm dứt đoạn nói về bệnh học, chúng tôi tưởng cũng nên nói qua một lối quan sát khác để đoán về sức khỏe của một người. Đó là cách xem họ đi chữa bệnh ở thành phố nào. (Bên Pháp có những thành phố để người ta đến đó chữa bệnh hoặc dưỡng bệnh. Phần nhiều mấy thành phố này có những mạch nước thiên nhiên mà trong nước có chất thuốc chuyên trị một vài chứng bệnh nào đó khi suối Vĩnh Hảo ở miệt Phan Thiết).

Thấy một người thường đi nghỉ ở vichy, chúng ta có thể đoán họ yếu gan đau dạ dày hoặc bị đái đường. Người đi chữa bệnh ở Vittel, Evian chắc có đau khớp xương. Người đi dưỡng bệnh ở Aix-les-Bains chắc có bị phong thấp v.v…

Quan sát về thể chất:

Ngoài việc quan sát những bẩm chất thuộc về bệnh học mà chúng ta vừa duyệt qua trên, việc quan sát về thể chất của một người cũng có thể giúp chúng ta nhiều tài liệu để hiểu rõ về họ.

Điều đáng chú ý trước tiên là giọng nói, cách ăn nói của họ. Mỗi giọng nói có bộ mặt riêng của nó. Điều này ai cũng phải nhìn nhận, vì chỉ nghe qua một giọng nói trong điện thoại chúng ta có thể nhận ra người đang nói ở đầu dây. Mỗi người đều có giọng nói khác nhau.

Người nói quá nhanh, hoặc khi nhanh khi chậm, nói những câu không đứt đoạn thường là người đa cảm xúc. Nội việc quan sát một người nói nhiều hay ít cũng đủ cho chúng ta ước đoán về óc hợp đoàn của họ. Người nói nhiều, song chỉ nói những chuyện không đâu, những câu vô nghĩa lý hẳn là người có nhiều óc hợp đoàn, rất có thể là người nói dóc, nói khoác, hoặc giả đó là bị kích thích đến độ…

Người ăn nói chậm rãi, từ tốn, nói từng câu một ngắn, nhưng rõ ràng, chứng chỉ một người trầm tĩnh, điềm nhiên, kém cảm xúc tính.

Người hoạt động cũng nói nhanh song rõ ràng.

Người tự cao luôn luôn bắt đầu một câu nói bằng tiếng “Tôi”. “Tôi như thế này…”, “Tôi sẽ làm thế kia…”. Người khiêm tốn trái lại không thích đưa cái “tôi” của họ ra trước và ít hay nói về họ. Trái lại người kiêu hãnh hoặc vênh váo dù là khi họ tự quán sát về họ.

Cấp điệu của giọng nói cũng có nhiều ý nghĩa. Có những giọng nói gò bó, sửa giọng, chứng chỉ một tâm hồn giả dối. Có những giọng nói êm dịu, giàu âm điệu chứng chỉ người giàu tưởng tượng, cảm xúc tính và óc hợp đoàn điều hòa.

Lại có những giọng nói chát chúa chứng chỉ một người ích kỷ, thiếu óc hợp đoàn.

Câu nói:

Mỗi câu nói, xét trong toàn thể câu chuyện, có thể giúp chúng ta nhận định về trình độ văn hóa hoặc tình độ giáo dục của một người.

Người văn hóa khá cao trong khi nói chuyện dùng lối văn không mấy khác văn viết. Tự nhiên họ biết tránh câu văn tầm thường, những danh từ không rõ nghĩa những câu khách sáo, hoặc những câu lặp đi lặp lại mãi. Biết dùng những danh từ sát nghĩa, dùng những câu ngắn nhưng vẫn đầy đủ ý, bỏ bớt những lời lẽ vô ích, là chứng chỉ một người vừa có văn hóa khá cao vừa có nhiều óc phán đoán. Tuy thế, trong khi nói chuyện chúng ta không bắt buộc phải hoàn toàn áp dụng lối văn viết, trong văn nói, chúng ta có thể dùng lối láy đi láy lại nó làm cho câu văn thêm mạnh, hoặc nuốt bớt những âm cuối cùng để có thể nói nhanh.

Những người lúc nói chuyện quen gò bó, uốn nắn câu văn y theo lối văn viết chứng tỏ hai điều: hoặc giả đó là người kiểu cách, hoặc là người bị ảnh hưởng của chức nghiệp. Những giáo sư, trạng sư, thẩm phán, có thói quen mang dùng lối hành văn nhà nghề trong câu chuyện hằng ngày.

Người thiếu giáo dục quen dùng những danh từ thô tục, những tiếng “lóng”, những câu văn khách sáo. Người kém phán đoán nói chuyện nhạt phèo, vô vị.

Những bác nhà quê, thiếu học thường dùng sai danh từ, nói trật cú pháp, nhưng nếu họ không thiếu óc phán đoán, họ vẫn biết nói chuyện một cách có ý nhị.

Cái cách mà một người nghe người khác nói chuyện cũng là điềm chỉ đáng quan tâm. Người có giáo dục bao giờ cũng biết nhẫn nại nghe người khác nói, không bao giờ ngắt lời của ké đối thoại. Người kém sức chú ý hay tỏ vẻ xao lãng trong lúc nghe người khác nói. Đừng lầm lộn với cái vẻ xao lãng của một người trầm tĩnh, họ làm tuồng như không nghe song họ vẫn ghi rõ trong trí nhớ những lời nói của người khác.

Một lối xếp loại đã lỗi thời:

Từ ngàn xưa, người ta đã biết xếp loại con người thành bốn hạng tùy theo khí chất của họ: hạng đa huyết chất; hạng thần kinh chất; hạng lâm ba chất; hạng đảm trấp chất.

Lối xếp loại ấy cổ thật, nhưng cổ kính chưa ắt đã có giá trị. Đứng về mặt tâm lý học mà xét, những danh từ: thần kinh chất; đa huyết chất; v.v… không thể chỉ định rõ ràng về một hạng người nào cả. Nếu có thể xếp những con người thành bốn loại, dù là chỉ xếp loại một cách đại khái đi nữa thì thực cũng quá giản dị. Hẳn thí dụ rằng có thể phân chia con người thành bốn hạng tùy theo khí chất của họ, và có thể phân làm bốn loại khí chất thật là thuần túy nghĩa là không bị pha trộn thì với hàng hà sa số con người đã sinh sống trên quả địa cầu này từ xưa đến giờ, chúng ta phải nghĩ rằng khí chất của những con người ấy đã từng bị pha trộn hằng bao nhiêu lượt.

Tướng học, một khoa học giả hiệu:

(Theo người dịch: Về đoạn này chúng tôi không hoàn toàn đồng ý với tác giả. Dù vậy chúng tôi vẫn dịch đúng theo nguyên bản không bỏ bớt đoạn nào, cốt giữ đúng tư tưởng của tác giả).

Vì thế chúng ta không nên quan tâm đến lối xếp loại theo khí chất, cũng như đừng quá tin tưởng ở khoa xem tướng, cái khoa học mà người ta cho rằng nó có thể giúp chúng ta đoán biết tính tình và những khả năng trí thức của một người bằng cách quan sát hình thái của gương mặt, của tay chân, của thân hình, hoặc của mái tóc người ấy.

Tướng học không phải là một khoa học mới mẽ gì. Từ thế kỷ 18, ông Lavater nhân quan sát chỗ giống nhau của một vài gương mặt người với mặt của những cầm thú, đã lập ra nền móng khoa xem tướng. Nó gần giống khoa xem xương sọ người của ông De Gall, cho rằng những xương gồ trên sọ người có liên quan đến tính tình con người, phương pháp xem xương sọ này hiện nay không còn mấy ai dùng.

Thiếu cơ sở vững chắc, phương pháp xem tướng của Lavater lần hồi bị chìm trong lãng quên, nhưng trong thế kỷ vừa qua một vài nhà sinh lý học trong khi nghiên cứu về sự liên quan giữa những cử động các thớ thịt trên mặt với những cảm xúc, đã gián tiếp làm sống lại khoa xem tướng ấy trong một thời.

Mấy nhà tướng học lập thành một bảng kê chỉ rõ sự liên quan giữa những bẩm chất thuộc tính tình và trí tuệ con người với hình dáng của mũi, miệng, trai, của lông mày, khuôn mặt v.v… Nếu chủ trương của họ đúng thì còn gì hay bằng. Chúng ta chỉ cần học nằm lòng bảng kê ấy là có thể thấu rõ tâm can bác hàng xóm và tất cả mọi người đều là quyển sách đã lật sẵn, chúng ta chỉ cần ghé mắt qua là đọc thông suốt nội dung sách ấy.

Những người chủ trương xem tướng này cả quyết nhiều điểm thật đáng kinh ngạc. Chẳng hạn họ cho rằng không cần phải nghiên cứu về tâm lý học, cũng không cần gì hiểu qua các thứ tính tình, người ta vẫn có thể dùng phép xem tướng để nhận biét đâu là một tên côn đồ, dù rằng tên côn đồ ấy ăn vận rất sang chẳng khác một trang công tử.

Hoặc giả có người cả quyết rằng: “Một người gầy yếu, cổ ốm teo, có vẻ bệnh hoạn trừ một vài trường hợp rất hiếm, khó mà trở nên một tay chỉ huy giỏi”. Thực ra người đã thốt ra câu ấy hẳn đã quên phứt những nhân vật như thánh Paul, như hoàng đế Napoléon lúc còn là tướng Bonaparte đánh trận Ý đại lợi, như Richelieu là những người không có vẻ gì là bậm trợn, lực lưỡng cả, song họ vẫn là những vị thủ lãnh đại tài, và các nhà xem tướng ấy cũng quên hẳn rằng có rất nhiều chàng trai trẻ vạm vỡ, có bộ mặt gân guốc, nhưng khi ra trận thì nhuệ khí của họ đã bay đâu mất.

Có người cho rằng: Có thể đoán biết một người là công chức khi họ có những điệu bộ nhừa nhựa. Theo các nhà tướng học ấy, một cơ quan, mọi nét mặt đều có ý nghĩa khác nhau tùy theo chiều dài, theo chiều ngang, theo bề dày v.v… Và những đức tính tinh thần của con người thì lộ diện ở những vùng khác nhau trên khuôn mặt và nếu vùng này to rộng hơn vùng kia đó là những triệu chứng rất đáng quan tâm. Những người có cặp mắt xanh biếc thì tính tình lạnh lạt, nếu họa hoằn cái nhìn của họ đượm vẻ tình tứ thì đó là giả dối. Những đôi mắt nhung chứng chỉ những tâm hồn nồng nhiệt. Nhận xét này làm cho chúng ta nhớ lại một thành kiến hơi ngộ nghĩnh và rất đặng phổ thông là những đàn bà người Y-pha-nho với những cặp mắt đen huyền của họ thường rất nồng nhiệt. Nhưng thật ra không thiếu gì đàn bà Y-pha-nho lạnh lạt, trái lại nhiều đàn bà phương bắc với những cặp mắt xanh biếc lại tỏ ra rất nhiệt tình.

Đọc những sách bàn luận về tướng học, chúng ta thấy không biết bao nhiêu là quyết đoán đại để thẹo như loại vừa kể qua. Lối khảo xét của mấy nhà tướng học này thật là tỉ mỉ: những vết nhăn của cái cằm, những chi tiết của một ngón tay, của mớ tóc và ngay cho đến cái hình dáng, cái vị trí của mép tai đối với họ cũng rất quan trọng.

Đành rằng họ cũng khéo rào đón là không nên căn cứ vào một điểm nào đó rồi ước đoán mà phải nhận xét toàn diện, kiểm soát, đối chiếu một điểm này với điểm khác, một điểm tốt có thể giảm bớt tai hại của một điểm xấu. Nhưng, chúng tôi cũng từng đã nghe mấy bà thầy bói bài hoặc mấy “giáo sư” xem tử vi dùng luận điệu ấy.

Ai muốn chứng minh quá nhiều sẽ không chứng minh đặng gì. Và sau đây là một ít nhận xét của chúng tôi về khoa học giả hiệu ấy.

Hình thái học không liên quan chi đến tâm lý học cả:

Trước hết chúng ta nhận thấy: những điểm tương quan giữa hình dáng bên ngoài với tâm trí của con người mà các nhà tướng học thường nêu ra không có gì làm chắc chắn, bởi trong mớ thuật ngữ họ dùng khi đề cập đến tâm lý học còn nhiều danh từ quá cổ lỗ, cái thuật ngữ còn mù mờ chưa phân biệt cảm xúc với tình cảm, còn nói đến những gì thuộc về “đầu óc” với những gì thuộc “thể chất”, hoặc còn phân loại “khí chất” con người làm bốn hạng v.v… lối phân loại mà chúng tôi vừa có dịp nhận định giá trị của nó.

Điều sai lầm của các nhà tướng học là họ tin rằng có sự liên quan mật thiết giữa những hình dáng bên ngoài, nói theo các nhà khoa học là giữa hình thái học với những bẩm chất thuộc tâm lý. Song thực ra chỉ có sự liên quan giữa những “phát hiện vận động bên ngoài” tức là những phản ứng, những xung động, những hành động với một vài bẩm chất tâm lý.

Mà đó là hai điều khác nhau hẳn. Màu sắc của đôi mắt chẳng hạn, không thể ăn chịu gì điến tính tình. Những đặc điểm theo thể chất loại này (và có lẽ những hình dáng bên ngoài cũng thế) đặng truyền sang từng phần riêng biệt nhau, từ đời cha đến đời con theo những định luật di truyền mà ông Mendel (Mendel (Johann Gregor), vị tu sĩ mà cũng là nhà thảo mộc học người Áo (1922 – 1884). Trong khi nghiên cứu về cách gây giống lai cho các loại cây, về sự di truyền của loài thảo mộc ông đã tìm ra một vài định luật về sự di truyền) đã nêu ra và sau này nhiều nhà sinh vật khác như Morgan (Morgan (Thomas Hunf), nhà sinh vật học người Hoa Kỳ (1866 – 1945) chuyên khoa khảo cứu về những đặc tính của di truyền, giải thưởng Nobel 1933) đã chứng minh. Hơn nữa, những đặc tính thể chất này đã không lệ thuộc những yếu tố tâm lý nó đặng di truyền theo những thể thức mà hiện giờ người ta chưa thể nghiên cứu tuy đó không phải là một điều bí mật mà chỉ vì người ta chưa tìm ra một thứ đơn vị nào để đo lường những bẩm chất tâm lý này.

Những đặc tính thể chất của chúng ta là kết quả một sự phối hợp mới mẻ của những yếu tố mà cha mẹ chúng ta truyền sang, chính những đấng sanh thành chúng ta đã đặng thừa hưởng những yếu tố này của ông cha do một sự phân phối theo rủi may. Điều nên biết là cái di sản này chúng ta thừa hưởng một phần bên nội và một phần bên ngoại. Song cái di sản thể chất mà cha mẹ chúng ta để lại đó không hẳn là những gì m các đấng ấy đã có sử dụng trong đời sống của họ. Rất có thể chúng ta thừa hưởng một đặc tính nó chỉ ngấm ngầm, chỉ tiềm tàng ở cha mẹ hoặc ông bà chúng ta từ bao nhiêu đời. Những đặc tính tâm lý cũng đặng truyền sang theo thể thức ấy.

Trong việc di truyền chính là do rủi may định đoạt. Chúng ta dễ nhận thấy cái sự cách biệt giữa những đặc tính thể chất và những đặc tính tâm lý.

Hai anh em ruột giống nhau như đúc, tình tính có thể khác hẳn nhau. Một đứa trẻ, về thể chất có thể giống bên nội nhưng về những đặc tính tâm lý thì lại giống bên ngoại hoặc trái lại. (Về điểm này chúng ta có nhận xét hơi tầm thường sau đây: Con cái của những bậc thiên tài thường không đặng ưu tú của cha mẹ, trái lại những bậc vĩ nhân thường xuất thân từ nơi những gia đình tầm thường. Tuy thế, luật đa số nó chỉ huy việc di truyền đôi khi cũng có thể bảo tồn những đức tính trí thức hoặc tâm thần từ đời này sang đời kia nhất là khi cả hai họ ngoại và nội đều nảy sinh những người ưu tú.. .Có những gia đình mà con cháu đều là những họa sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ hoặc chánh khách có tài, song thường hơn, trải qua hai ba đời, cái “thiên tư” ấy cũng tiêu dần. Cũng có thể nó tồn tại năm bảy đời nhưng đó là những ngoại lệ nó chứng minh quy tắc). Các bà mẹ nói về con cái của họ cũng đã biết nhận xét đại để: “Vẻ mặt, dáng người của nó thì giống tôi, nhưng về tâm tính thì nó giống cha nó”. Chỉ những người sanh đôi thực sự (tức là do một trứng nở sanh) là có thể giống nhau về thể chất cũng như về tâm thần, bởi họ đều do một nhiễm thể mà ra. Nếu khi đã trưởng thành cá tính của họ không còn giống nhau nữa đó là do cá tính tập thành, bởi họ đã sinh sống trong những hoàn cảnh khác nhau.

Những sắc mặt:

Nếu màu sắc của cặp mắt chẳng hạn, không ăn chịu gì với những bẩm chất tinh thần, trái lại sắc mặt, thí dụ cách biểu lộ của đôi mắt chẳng hạn, có liên quan mật thiết đến phần tâm lý, bởi đó là một lối phát hiện của thể chất. Nhưng ở đây chúng ta cũng nên dè dặt khi xén đoán.

Ai cũng biết những cắp mắt hay nhìn xéo là chứng chỉ người nhút nhát (nhiều cảm xúc tính), nhưng nó cũng có thể chứng chỉ một tâm hồn nham hiểm (suy nhược và ích kỷ) hoặc giả đó là một đặc tính tập thành (cái nhìn của những đứa trẻ bị đòn).

Những người mơ mộng tức là những người giàu tưởng tượng, không nhìn xéo nhưng lại có cái nhìn xa xắm, nhìn lên trời. Họ quen “nhìn lên cung trăng” như người ta thường nói. (Những nhà thủy thủ cũng có cái nhìn xa xăm ấy và trong số những người đeo theo nghề bể vì xu hướng có lắm người có tâm hồn thi sĩ mà họ không ngờ). Song cử chỉ này – vì cách nhìn cũng là một cử chỉ – là một kết quả chứ không phải là một nguyên nhân.

Cái nhìn “thẳng thắn”, nhìn ngay vào mặt người là điềm chỉ người hoạt động, nhiều tự tin, xin nhớ chúng tôi không nói là điềm chỉ một tâm hồn “ngay thẳng”, chân thành. Bởi không có gì chứng tỏ rằng cái nhìn “thẳng thắn” là dấu hiệu tính cách ngay thẳng. Điềm chỉ ấy cần phải đặng kiểm soát lại. Không thiếu gì gã lưu manh có cái nhìn đáng ngợi hoặc những đàn bà trắc nết có đôi mắt “thiên thần”.

Vẻ mặt của một người bạc nhược, thiếu nghị lực, tự nhiên lần hồi sẽ đâm ra bí xị. Luôn luôn buồn bực, họ có thói quen trề môi nhíu mày, thét rồi những nét mặt bị ủ rủ. Một người hay suy nghĩ, quen chú ý sẽ sớm có những vết nhăn trên trán. Một tay hoạt động, yêu đời và hay cười thét rồi niềm hân hoan của họ cũng biểu lộ trên gương mặt.

Cũng nên để ý là chỉ có một vài bẩm chất tâm lý có thể biểu lộ ra ngoài, đại khái như cảm xúc tính và hoạt động tính.

Muốn xét đoán về một gương mặt chúng ta nên nhớ rằng con người rất dễ bị ảnh hưởng của lối trang điểm, cách ăn mặc và cái khung cảnh bên ngoài. Lấy một người thuộc hạng phong lưu, có vẻ là người lương thiện đứng đắn, cho họ ăn mặc quần áo tả tơi, để tóc tai bờm xờm, dơ dáy, khi nhìn lại họ chúng ta sẽ có cảm tưởng khác ngay. Hoặc giả khi chúng ta có dịp nhìn thấy một người đàn bà xinh xắn nhưng không son phấn đang lau nhà, quét bếp…

Như chúng ta thấy, giữa hai hình thái và cá tính con người không có sự liên quan nào chắc chắn cả. Chúng ta vẫn tìm thấy nhiều tâm hồn cao thương ẩn núp sau những bộ mặt “trời đánh”, hoặc chứa đựng trong nhiều thân hình xấu xí.

Điều đáng kể là cái sắc mặt, nhưng đừng quên rằng không gì chóng thay đổi bằng sắc mặt. Còn một nhận xét nữa, là sự vui vẻ, sự khoan khoái cũng như một mối đau khổ vô hạn có thể thay đổi hẳn sắc diện của con người, làm chúng ta không còn nhận ra họ nữa.

Ngoài ra, trong khi nhận xét chúng ta còn phải lưu ý đến triệu chứng của các chứng bệnh. Chúng tôi thấy một quyển sách dạy xem tướng cho rằng: người có đôi mắt lồi là người thiếu tự tin (thế là không hay cho những người vì yếu tim nên có bướu ở cổ và mắt lồi), còn người có đôi mắt sưng híp là người không biết kềm chế thú tính, người đa vật dục. Nhưng hỡi ôi, những người đau gan mắt cũng thường bị sưng híp.

Đã có bao nhiêu tội nhân ra trước tòa đại hình với vẻ mặt rất lương thiện và đã có bao nhiêu đàn bà có đôi mắt bồ câu, gương mặt trong sáng như thiên thần nhưng thực ra là… quỷ.

Nên xếp khoa tướng học vào hàng các trò chơi ở khách thính là hơn. Chỉ có việc quan sát một cử chỉ, một cái nhìn, một điệu bộ, một sắc mặt mới có thể dẫn dắt nhà tâm lý học vào con đường chân lý.

Những bẩm chất tâm lý thiên nhiên không bao giờ lộ diện trên nét mặt, kể ra như thế cũng có chỗ hay vì nếu trái lại thì thực khó sống trên cõi đời này.

Việc một người để râu hay không để râu hoặc cách họ để râu cũng có ý nghĩa đối với nhà tâm lý học vì đó là một sự quyết định của người ấy.

Ngoài trừ trường hợp những người vì bị thương tích làm méo mặt hoặc lẹm cằm thường để râu dài che lắp vết thương, thói quen những người để râu dài là những người tốt bụng, hoặc là người bất chấp những ràng buộc của xã hội, những dư luận của quần chúng, cũng có thể là người có óc châm biếm (để râu theo lối nhà hiền triết Socrate) (Bộ râu của nhà văn châm biếm Pháp Trisian Bernard) hoặc giả là người hay giả vở. Vì bộ râu là một thứ mặt nạ người ta mang lên mặt để làm cho nó có vẻ điểm nhiên.

Những tay hoạt động, những nhà thể thao thường để râu mép (râu Clark Gable) (Cũng nên bàn thêm: Ở Sài Gòn hiện nay có nhiều chàng trai trẻ thuộc hạng “cà lơ” chỉ biết thả rong ngoài phố và thân hình ốm teo như cọng sậy nghĩa là không hoạt động và không chơi thể thao nhưng cũng tập tễnh để râu “Clark Gable) cho giống mấy ông kép xi-nê. Vậy chúng ta có thể nhận xét thêm: rất có thể mấy sợi râu mép lún phún đó là chứng chỉ một tâm hồn a dua, hay bắt chước). Một bộ mặt nhẵn nhụi, trơn bén không râu ria tuy không hẳn là một điềm chỉ về tính ngay thẳng nhưng rất có thể là điềm chỉ một người thành thực không có gì phải giấu giếm, hoặc giả là một người giả vờ ít cảm xúc.

Nhận xét về cách ăn mặc:

Không có câu tục ngữ nào sai lầm bằng câu “Áo mặc không làm thành một vị thầy tu”. Thực ra, xem về cách ăn mặc của một người chúng ta có thể đoán biết ít nhiều về tâm tính của họ. (Người Việt chúng ta có câu: Quen sợ dạ, lạ sợ áo).

Người ở địa vị xã hội khá cao nhưng ăn mặc lôi thôi tỏ ra tính keo kiệt, thiếu óc hợp đoàn. Trái lại, lối ăn mặc lôi thôi thường chứng chỉ người kém tham vọng hoặc người lẩn thẩn hay lãng trái, trường hợp của một vài nhà thông thái.

Người nhiều óc hợp đoàn luôn luôn biết chải chuốt, áo quần lúc nào cũng bảnh bao, đó cũng là chứng chỉ lòng tham muốn vì bộ cánh là cái mặt tiền có thể giúp ta trong công việc giao thiệp làm ăn.

Người không biết cách ăn mặc: mang những cà vạt lòe loẹt hoặc đeo vòng vàng đỏ chói là người thiếu nhãn thức. Mà những lỗi lầm về nhãn thức là do óc phán đoán sai lầm hoặc do sự khuyết kém về giáo dục.

Thấy một người vắt chiếc khăn túi màu sắc rực rỡ hoặc ở túi áo trên có một cặp bút máy đứng xếp hàng cho ra vẻ người làm ăn dù là bút hiệu Parker hay Evershap chính cống chúng ta có thể đoán: tư cách người ấy rất tầm thường.

Người ăn mặc quá nghiêm chỉnh, luôn luôn vận “đồ lớn” cà vạt màu xậm, chứng chỉ một tâm hồn đạo mạo, bi quan, đôi khi đó cũng là dấu hiệu của người kém óc hợp đoàn, không thích giao du.

Người đầu có điều hòa cũng ăn vận theo thời trang nhưng một cách kín đáo, không theo đòi một cách mù quáng, thái quá. Brummel (Một trang hào hoa phong nhã người Anh có tiếng bên Âu Tây thế kỷ 19) đã chẳng từng nói đại để: người phong nhã là người ăn mặc lịch sự nhưng kín đáo, nên lối phục sức cua rhọ không “đánh” vào mắt ai cả.

Người chỉ đeo một món tư trang nhưng thật quý hay thật hiếm chứng chỉ người có óc thẩm mỹ cao và nhiều cảm xúc.

Có cách khác để xét lại điềm chỉ nói trên có đúng chăng, là quan sát cái khung cảnh người ấy sinh sống hàng ngày. Người có óc thẩm mỹ tự nhiên biết chọn cái khung cảnh sống thích hợp với mình tức là đúng thẩm mỹ. Dù rằng một người giúp việc, không có quyền trang trí bài biện cái phòng văn cho thích hợp với ý thích của mình song nếu người giúp việc ấy có óc thẩm mỹ họ rất có thể tô điểm cái phòng văn đôi khi quá tầm thường ấy bằng một vài món đồ trang trí riêng của họ: một bức tranh, một lọ hoa, một món đồ vật bày biên bàn giấy mà kiểu vở rất độc đáo v.v…

Tính đúng mực:

Tính đúng mực là một điềm hay để chúng ta quan sát. Bắt một người khách mà chúng ta đã hẹn một giờ nhất định phải đời chờ là thiếu lễ độ. Người quá bận vì công việc có thể sai hẹn vài phút hoặc mười lăm phút. Nhưng một người để sai hẹn cả giờ hẳn là người thiếu trật tự, thiếu cả phương pháp. Điều ấy cũng có thể giải thích: đó là người bị kích thích, người quá giàu tưởng tượng.

Khi chúng ta lỡ bắt ai phải chờ đợi mình một cách vô lý, và nếu chúng ta biết nói một câu xin lỗi điều đó chứng tỏ chúng ta có giáo dục và biết nhã nhặn (có lòng nhân lại có óc hợp đoàn).

Nên biết rằng có khách đến viếng và tuy chưa tiếp người đặng nhưng chúng ta vẫn bước ra phòng để xin lỗi và yêu cầu khách chịu khó đợi trong chốc lát, cử chỉ ấy cũng tỏ ra chúng ta có nhiều lòng nhân, nhiều óc hợp đoàn.

Cái khung cảnh:

Người nhã nhặn bao giờ cũng mau mắn đứng lên đón khách khi khách bước vào và lúc khách cáo từ cũng biết chịu khó tiễn khách đến tận ngõ. Trái lại người không thích giao du (kém óc hợp đoàn) vẫn điềm nhiên ngã người trên ghế phô-tơi, lạnh lùng mời khách ngồi và để cho khách tự mở đầu câu chuyên, không có một cử chỉ nào để đánh tan không khí tẻ lạnh buổi sơ giao.

Còn bao nhiêu dấu hiệu khác có thể giúp chúng ta nhận xét về một người mà chúng ta mới gặp gỡ lần đầu để bàn tính công việc làm ăn. Nếu chúng ta có dịp gặp họ trong cái khung cảnh làm việc hằng ngày thì việc nhận xét có phần dễ hơn vì nơi đó, trong cái không khí họ sinh sống hằng ngày ấy họ không gò bó, trái lại rất cởi mở, do đó chúng ta dễ nhận xét cá tính của họ hơn.

Chúng ta đều biết trong giới doanh nghiệp có những quy tắc về phép xã giao. Chẳng hạn người ở địa vị xã hội kém hoặc người muốn xin xỏ hay cầu cạnh ai một điều gì thì tự nhiên phải đích thân đến viếng người ấy trước nơi gia cư hoặc nơi phòng văn của họ. Mà như thế người khách có nhiều điểm lợi hơn người chủ, vì người khách muốn giấu giếm tâm tư của mình chỉ có một việc là đề phòng, giữ gìn “con người” của mình thôi, trong khi đó họ có thể chẳng những là nhận xét về “con người” của chủ gia mà con có thể quan sát cái khung cảnh, cái ngõ ngách trong nhà, hoặc giả khi ngồi đợi ở phòng khách họ có thể gợi chuyện với các gia nhân để hiểu thêm về người chủ nhà. Có ai ngờ rằng trong mười lăm phút chờ đợi ở phòng khách ấy, người ta lại có thể biết đặng rất nhiều điều.

Những viên chủ hãng tiện tặn không dám dành riêng một căn phòng tiếp khách hoặc giả chỉ dọn một phòng khách sơ sài cho lấy có, thật đã tiết kiệm không phải lối. Nếu họ lại đặt viên gác điện thoại ngồi ở ngay lối bước vào phòng khách, hoặc giao cho người ấy thêm phận sự rước khách thì họ lại thiếu dè dặt, bởi viên gác điện thoại thường biết rất nhiều điều trong nhà chủ, lỡ hắn ta có tính hay bép xép…

Nghe một người chủ hãng nói chuyện với người giúp việc chúng ta cũng có thể đoán biết ít nhiều về tâm tính ông ta. Có những cách nói, những giọng nói nó thố lộ tình giao bảo giữa chủ và nhân viên.

Trong lúc viên chủ hãng tiếp chuyện với chúng ta, nếu họ phải ngưng câu chuyện nhiều lượt để trả lời điện thoại, điều ấy chứng tỏ viên thư ký của họ không rành nghề. Hoặc giả nó chứng tỏ người chủ ấy qua tham quyền, tham việc nên ngay trong những công việc nhỏ như việc trả lời điện thoại chẳng hạn họ cũng không dám để người khác làm thay họ… Về mặt tâm lý điều ấy chứng tỏ quá nhiều tham muốn nhưng óc phán đoán kém. Thiếu sự tin cậy ở người là do lòng nhân kém.

Cách bắt tay cũng có ý nghĩa. Đành rằng nhờ giáo dục người ta có thể tập tành cách bắt tay đúng lề lỗi xã giao nhưng thường hơn, cái bắt tay ấy để bộc lộ cá tính con người vì nó là một cử chỉ tự động.

Cái bắt tay chắc nịch, nhưng không siết quá mạnh chứng chỉ người hoạt động, thành thật, cảm tính vừa phải.

Cái siết tay quá mạnh, quá chặt (theo lối võ sĩ nhu đạo) chứng chỉ người rất nhiều hoạt động tính nhưng lại kém lòng nhân, ít cảm xúc tính.

Cái bắt tay hờ hững có vẻ miễn cưỡng lấy lệ (hoặc chỉ chìa hai ngón tay ra hoặc đưa tay trái) chứng chỉ người tự kiêu, tự mãn (nhiều tham muốn).

Những cách chào hỏi khác cũng có thể giúp chúng ta nhiều nhận xét hay.

Nhận xét về cách nói chuyện:

Trong khi hầu chuyện nếu chúng ta nhận thấy người đối thoại hiểu chúng ta rất nhanh, đó là do những chu kỳ tâm lý ở họ hoạt động rất mạnh. Và điểm này chứng chỉ văn hóa của họ khá cao, guồng máy trí thức của họ thường đặng vận dụng. Cũng có thể đoán: óc phán đoán họ rất tinh xác bởi họ ước lượng rất nhanh.

Khi chúng ta trình bày một vấn đề nào với người nào mà họ biết nhận định ngay vấn đề, rồi kết luận một cách đích xác, ta có thể đoán: họ có nhiều óc phán đoán.

Trái lại khi chúng ta nêu ra vấn đề cho người giàu óc tưởng tượng là họ thường tán rộng thêm, bước sang nhiều vấn đề khác lắm khi không ăn chịu với vấn đề chính. Nếu họ lại vừa có nhiều cảm xúc tính, họ có thể đi đến ảo tưởng. Còn nếu đồng thời họ lại bị kích thích nên nói rất hăng, nói huyên thuyên (vì quá nhiều hoạt động tính) điềm ấy chứng chỉ một đầu óc lộn xộn, vô tổ chức, thiếu phương pháp.

Người lĩnh hội chậm không hẳn là người kém óc phán đoán. Một trí khôn chậm lụt, lâu hiểu thường là do sức khỏe không dồi dào (toàn thân cảm giác không tốt) nên các chu kỳ tâm lý diễn ra rất chậm. Một người đi đến kết luận chậm nhưng biết kết luận chính xác vẫn là người biết phán đoán.

Nhưng cũng nên đề phòng chính mình. Lắm khi chúng ta đinh ninh rằng những ý kiến hoặc những vấn đề chúng ta nêu ra là hay là đúng mà người đối thoại với chúng ta lại không đồng ý. Ở trường hợp này không nên vội cho rằng người ấy thiếu phán đoán, rất có thể chính chúng ta sai lầm. Điều đáng cho chúng ta quan tâm không phải là việc họ có đồng quan điểm với chúng ta chăng mà phải xét xem cách lĩnh hội của họ, lẽ đương nhiên trước đó chúng ta phải biết trình bày vấn đề một cách minh bạch, đầy đủ.

Như chúng ta đã thấy, một cuộc đàm luận về công việc làm ăn là một cuộc tranh đấu giữa hai óc phán đoán. Nếu chúng ta phán đoán kém tất nhiên chúng ta sẽ nhận định sai làm về người đối thoại.

Người có óc phương pháp biết trình bày vấn đề cách rõ ràng, có lớp lang nhưng có vẻ máy móc, khô khan. Trong bài trần thuyết của họ có ba phần: khai đề; phụ diễn; kết luận. Nó rõ rệt, minh bạch nhưng cộc lốc, khô khan.

Trong khi trần thuật người có óc tinh nhệu trái lại biết đưa ra nhiều khía cạnh, những nét xuất sắc của vấn đề và cũng biết gia vị thêm chút thi vị hay trào lộng, hoặc đệm thêm chút màu sắc. Người có tinh nhệu đáng cho chúng ta “ngán” hơn người có óc kỹ hà là ở điểm đó. Họ có thể thâu phục chúng ta chỉ vì những tư tưởng, những ý kiến họ đưa ra gói ghém cách khéo léo, rất quyến rõ tuy rằng chưa ắt chính xác.

Người biết suy nghĩ không bao giờ thâu nhận một ý kiến mà không khảo xét lại. Luôn luôn họ biết nhận xét vấn đề ấy dưới mọi phương diện cho đến khi họ không còn tìm ra lý lẽ để chống đối. Lúc bấy giờ họ mới chịu thâu nhận. Nếu óc phán đoán họ chắc chắn họ có thể kết luận nhanh chóng.

Người nhút nhát ít khi dám quyết định ngay mặc dù không có lý do chính đáng họ vẫn dời lại mãi cái giờ phút quyết định, như thế là bởi óc phán đoán của họ không tinh xác hoặc giả họ có tính nhút nhát (kém hoạt động tính nhưng nhiều cảm xúc tính).

Một người tuy trong thâm tâm đã quyết từ chối điều gì đó nhưng vẫn ưỡm ờ không dám nói thẳng ra là người giả dối hoặc nhút nhát.

Người thành thật dù không tìm ra lý lẽ để từ khước vẫn nói thằng ý định của họ.

Người nhiều hoạt động và đa cảm xúc khi vớ đặng một ý kiến hoặc tư tưởng nào đó là họ vồ chụp lấy ngay một cách tin tưởng và nồng nhiệt dù họ chưa kịp suy nghĩ. Tuy nhiên, dù họ có quả quyết như thế nào chúng ta cũng đừng vội tin rằng họ đã chấp thuận tư tưởng ấy một cách vĩnh viễn.

Nhưng nếu người ấy có một óc phán đoán thượng đẳng rất có thể họ đã nhận định tất cả vấn đề. Vì thỉnh thoảng người ta cũng gặp một vài đầu óc siêu đẳng, có óc tổng hợp, óc tưởng tượng rất dồi dào lại có đủ hoạt động tính và cảm xúc tính. Những đầu óc ấy nhờ biết phán đoán tinh xác nên chỉ cần xét qua một lượt là có thể nhận định cách đúng đắn toàn khối vấn đề. Và rất có thể họ dám quyết định ngay. Song những bậc ưu tú ấy hiếm lắm.

Như chúng ta đã thấy, nếu biết áp dụng tâm lý học người ta có thể rút tỉa nhiều bài học khá hay trong những nhận xét nhỏ nhặt. Nếu để tách riêng ra những nhận xét ấy hình như không có giá trị là bao song nếu biết gom lại nó để nhận xét tổng quát nó có thể giúp chúng ta nhiều điều đáng biết về những người chúng ta cần biết.

Tóm lại khi muốn phán đoán về một người trước hết chúng ta phải xét xem những bẩm chất thiên nhiên của họ ở mực độ nào, nhiều hay ít. Song song theo đó chúng ta sẽ thử phác họa con người của họ, nhìn theo cá tính tập thành của họ mà vẽ lại.

Phối hợp hai phương diện quan sát ấy chúng ta sẽ có một nhận định tổng quát về cá tính của họ và do đó chúng ta sẽ biết cách ứng phó với họ khi cần.

Phần III – Chương 7 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC BÀN VỀ CÁCH CHỌN NHỮNG NGƯỜI GIÚP VIỆC

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Những điều kiện tổng quát:

Khi nhận một người giúp việc dù thuộc hạng nào, chúng ta đều đòi hỏi người ấy ít ra phải có hai đức tính cốt yếu không thể thiếu: siêng năng và liêm chính. Làm sao có thể dùng một người lười biếng, gian tham, dù là dùng họ để làm một công việc nhỏ nhặt nào.

Thói lười biếng có nhiều nguyên do. Có người lười biếng vì kém tham muốn, thiếu lòng nhân hoặc thiếu hoạt động tính.

Ở một phần trước, chúng tôi đã có phác họa tâm lý của một người siêng năng. Người siêng năng, cần cù luôn luôn có ít nhiều tham muốn, nó làm cho họ nhận thấy một mụch đích trong công việc làm, họ có ít nhiều hoạt động tính (thích hoạt động), ít nhiều cảm xúc tính và đôi chút lòng nhân nhờ đó họ có tính thận trọng.

Tính liêm chính không hẳn là do cá tính thiên nhiên mà ra, biết liêm chính là biết kính trọng quyền sở hữu của người khác, biết giữ lời đã hứa, biết phân biệt cái gì thuộc về người và cái gì thuộc về mình. Người đặng có đức tính ấy là do giáo dục, do những luật lệ luân lý xã hội. Những trẻ con ít biết liêm chính.

Bất cứ món gì của ai mà hễ chúng bắt gặp là chúng chụp lấy ngay, chúng xông vào nhà người khác không chút e ngại, hình cả thế giới là thuộc về chúng.

Tuy nhiên, một vài bẩm chất thiên nhiên có thể khiến con người vượt qua những luật lệ luân lý, mặc dù đó không có tính cách quyết định.

Người quá nhiều tham muốn rất dễ có những hành động gian xảo hơn người ít tham muốn. Tuy nhiên một người nhiều tham vọng vẫn có thể rất liêm chính nếu họ có chịu ảnh hưởng những nguyên tắt gắt gao của tôn giáo hoặc giáo dục. Hoạt động tính kém, óc hợp đoàn phát triển quá mạnh cũng có thể làm cho người ta gian xảo. Nói dối, tức là đã thiếu đức liêm chính về tinh thần (mà, như chúng ta đã biết: người có nhiều óc hợp đoàn thường nay nói khoác). Nhưng chỉ có bẩm chất lòng nhân là ảnh hưởng mạnh nhất đến tính liêm chính. Người thiếu lòng nhân rất dễ sa ngã vào đường bất chính, trái lại người giàu lòng nhân dù có “động lòng tham” đi nữa lắm khi nhờ thấy rõ sự thiệt hại do hành vi bất chính của họ gây ra cho người khác mà không nỡ làm.

Nên dùng mỗi mẫu người để làm mỗi công việc:

Nhưng hãy tạm cho rằng những nhân viên do chúng ta tuyển chọn đã có đủ hai điều kiện căn bản tức là dù nhận lãnh chức vụ nhỏ hay lớn nào, họ cũng đủ tính siêng năng và đức liêm chính. Bây giờ chúng ta thử xét qua những bẩm chất cốt yếu mà những người giúp việc cần phải có để nhận lãnh những chức vụ khác nhau.

Đối với những chức vụ thuộc hạng như “thư ký thường” (Chúng tôi gọi “thư ký thường” để phân biệt với chức vụ thư ký giám đốc. Thư ký giám đốc là một vị trí quan trọng nó đòi hỏi nhiều khả năng) chỉ có phận sự biên chép lặt vặt, như các nghề không cần chuyên môn hoặc những chức vụ nào khác tương tự như thế, người giúp việc chỉ cần có ít nhiều hoạt động tính, trí nhớ kha khá với đôi chút óc phán đoán là đủ. Bởi công việc của họ gần như đã đặng vạch sẵn, không mấy khi thay đổi, ít có việc bất ngờ. Dù họ có kém trí nhớ cũng không mấy hại dù họ ít phán đoán cũng không sao, miễn là họ không quá “khó tính” để gây ra bất hòa với những đồng nghiệp của họ. Chúng ta thường thấy cái mẫu người giúp việc này trong tất cả những xí nghiệp mà công việc làm đã đặng tổ chức.

Bây giờ chúng ta thử phân tách một chức vụ phức tạp hơn: chức thanh tra thương mãi trong một hiệu buôn lớn chẳng hạn. Chức vụ thanh tra thương mãi đòi hỏi nhiều óc phán đoán vì viên thanh tra có thể gặp trường hợp phải làm trọng tài trong những vụ tranh chấp nho nhỏ giữa các nhân viên đứng bán hàng, hoặc giữa người bán hàng với khách hàng. Óc tưởng tượng không phong phú cũng chả sao nhưng phải có nhiều trí nhớ. Cảm xúc tính càng ít càng hay, một viên thanh tra bao giờ cũng phải trầm tĩnh. Hoạt động tính dù có kém cũng không hại, bởi chức vụ đòi hỏi nhiều chú ý, nhiều quan sát hơn là hoạt động. Óc hợp đoàn càng nhiều càng tốt, viên thanh tra lúc nào cũng phải nhã nhặn, lịch sự với nhân viên cũng như đối với khách hàng. Lòng nhân chỉ cần vừa phải, người quá nhiều lòng nhân đôi khi vì yếu lòng mà bị giảm bớt uy quyền cần thiết trong khi hành sự. Sau hết, một viên thanh tra không nên có quá nhiều tham muốn để có thể đảm bảo đức liêm chính.

Một bút toán viên hoặc thu ngân viên cần có đủ óc phán đoán, trí nhớ phải tốt, hoạt động tính khá và lẽ đương nhiên phải liêm chính. Ngoài ra người giữ “két” phải biết chú ý, biết làm việc theo phương pháp để tránh những lầm lẫn trong khi thu tiền và trả tiền. Ở những chức vụ này thà mượn người trí óc chậm chạp nhưng cẩn mật còn hơn là dùng người óc tinh nhanh song cẩu thả.

Người cai ra kiểu và đứng cắt cho một nhà may y phục phụ nữ cần phải có óc tưởng tượng thật dồi dào, nguồn gốc của sáng tạo và cảm xúc tính khá cao để có thể am hiểu về thẩm mỹ. Họ cũng không thể thiếu hoạt động bởi họ đứng đầu một ngành trong cửa hiệu. Óc phán đoán phải khá đủ, trí nhớ có thể kém nhưng cần nhiều trí nhớ về thị quan để trong những buổi dạ hội hoặc tiệc trà, có thể ghi vào óc những kiểu áo mới lạ mà họ trông thoáng qua.

Một tay họa sĩ chuyên về quảng cáo, một người chuyên bày biện tủ hàng phải có óc tưởng tượng và cảm xúc tính ở mực độ khá cao. Vả lại tất cả những nhà nghệ sĩ hay nhà sáng chế đều cần có hai đức tính ấy.

Nều cần chọn một anh tài xế, một người thợ đứng coi máy, chúng ta phải chọn người ít cảm xúc để có đủ điềm tĩnh và có óc phán đoán khá để có đủ sức chú ý.

Người giữ kho cần nhiều trí nhớ, phải có đủ hoạt động tính, một đầu óc phương pháp và những bẩm chất đảm bảo đức liêm chính àm chúng tôi đã có dịp nói qua.

Người gác cửa của một khách sạn cần nhớ giỏi, khéo xã giao và trầm tĩnh tức ít cảm xúc.

Người xếp đứng tiếp rước ở một hiệu ăn bắt buộc phải là người hoạt động mau mắn, nhanh nhẹn, có mắt ở khắp nơi. Phải có đủ óc phán đoán và trí tưởng tượng để tránh những hớ hênh, những lỗi lầm tối kỵ trong nghề.

Cá tính của những người có chức vụ chỉ huy dủ ở cấp bực nào cũng phải gần giống như bảng kê sau đây:

Óc phán đoán phải thật chính xác. Vì đó là đức tính cốt yếu của những người có phận sự chỉ huy. Có thể sánh người chỉ huy với một vị thuyền trưởng và óc phán đoán là địa bàn chỉ hướng.

Trí tưởng tượng không thể thiếu vì chỉ huy tức là tiên liệu, là luôn luôn sống ở một tương lai hoặc gần hoặc xa. Biết tiên liệu tức là biết nhìn thấy trước những hậu quả của hiện tại ở tương lai. Đoán trước hậu quả của những hành động, xếp đặt một chương trình hành động, đòi hỏi nhiều trí tưởng tượng.

Trí nhớ không quan trọng lắm vì người ta có cách khác để thay thế một trí nhớ kém, vả lại như chúng tôi đã có dịp chứng tỏ: người đặng có một nền văn hóa khá cao dù trí nhớ kém cũng vô hại.

Cảm xúc tính chỉ cần vừa phải. Một người chỉ huy bất luận trong trường hợp nào cũng cần trầm tĩnh, không đặng giận dữ. Phải có nhiều hoạt động tính. Người chỉ huy phải tỏ ra là người hoạt động để làm gương cho cấp dưới. Óc hợp đoàn chỉ cần vừa phải, người chỉ huy không nên có tính quá trắng trợn hoặc bịp đời.

Lòng nhân cũng cần ở mực trung. Người chỉ huy có tính hay thương hại người cũng hỏng việc như người quá ác.

Sau hết, người chỉ huy phải có khá nhiều tham muốn vì đó là động lực chính của những hành động. Người chỉ hủy chẳng những nên có mà cần phải có nhiều cao vọng.

Cũng nên lưu ý điểm này: tất cả những người có trách nhiệm chỉ huy dù là viên cai xếp trông coi năm bảy tên thợ hay vị sĩ quan chỉ hủy một tiểu đoàn có hằng nghìn binh sĩ dưới tay cũng đều phải có những bẩm chất thiên nhiên nói trên. Tâm trí và tâm tính của hai người có trách vụ chỉ huy ấy đều gần giống nhau. Chỗ khác nhau giữa họ là về cá tính tập thành.

Khi phải chọn giữa hai người mà đức tính cốt yếu gần giống nhau chúng ta sẽ chọn người nào mà có nền văn hóa, học vấn, kinh nghiệm tức là cá tính tập thành có phần trội hơn.

Xét kỹ chúng ta nhận thấy có những người do thiên bẩm có nhiều khả năng để chỉ huy. Nếu họ không tiến đến một địa vị cao là bởi vì họ kém đường học vấn về giáo dục. Nhận xét này làm cho nhiều người hiện đang nắm lèo lái trong các nghành kỹ nghệ, thương mãi bớt tự kiêu, tự đắc.

Song những đức tính chỉ hủy hiếm lắm. Thực ra không mấy người đặng có cái phương trình cá tính điều hòa của một vị chỉ huy mà chúng tôi vừa vạch ra ở trước đây. Hoặc giả nếu đặng có thì là do thiên ẩm, tức là do sự may rủi.

Một người có nhiệm vụ đi công cán tức là người có nhiệm vụ thay mặt cho chính phủ mình, hoặc cho xí nghiệp của mình để dọ dẫm đường đất, để dàn xếp một cuộc tranh chấp, để thương thuyết một thỏa hiệp, cần phải có óc tinh nhuệ tức là vừa biết phán đoán chắc chắn vừa có nhiều trí tưởng tượng và ít nhiều cảm xúc tính. Óc hợp đoàn và hoạt động tính cũng không thể thiếu.

Viên đổng lý văn phòng của một vị bộ trưởng, viên tổng thư ký của một xí nghiệp lớn cũng cần có những đức tính nói trên.

Nếu chúng ta cần chọn một nhân viên bí thư, chúng ta phải đòi hỏi họ một óc phán đoán khá chính xác để họ không vấp phải những hớ hênh, một trí nhớ dẻo dai để bù đắp tính đãng trí của người chủ, trí tưởng tượng dù có kém cũng vô hại, hoạt động tính chỉ cần vừa phải, vì ở chức vụ của họ họ không phải tiếp xúc nhiều với bên ngoài, trái lại họ phải có tính kín đáo, cẩn mật, càng nhiều chừng nào càng tốt chừng ấy.

Óc hợp đoàn chỉ cần có vừa đủ để biết giữ những phép xã giao thường thức. Cần có đủ lòng nhân để đảm bảo đức thận trọng. Hoạt động tính dù có kém cũng vô hại.

Người bán hàng và người khách hàng:

Cũng nên xét qua tâm lý của người bán hàng và người khách hàng. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng không ai có đủ khả năng để có thể vừa là một người bán hàng giỏi vừa là người mua hàng khéo, hoặc giả, người ta có tài “mua” hoặc giả người ta có tài “bán”.

Xét về những khả năng trí thức, người bán hàng không cần nhiều óc phán đoán. Họ cần có nhiều tin tưởng hơn óc phê bình. Một óc phán đoán vừa phải, đủ dùng trong đời sống hằng ngày cũng đủ rồi.

Người mua hàng (ở đây người mua hàng nên hiểu là người đứng trông nom ngành bổ hàng ở một hiệu buôn lớn) trái lại cần nhiều óc phán đoán, họ cần so sánh, cân nhắc để chọn nhà cung cấp hàng, để chọn hàng. Họ phải biết dự đoán khuynh hướng thị trường một cách đích xác, tất cả những công việc ấy đòi hỏi một óc phán đoán chắc chắn.

Người bán hàng cần nhiều trí tưởng tượng nó giúp họ tìm ra những lý lẽ để trau chuốt món hàng, để có thể ứng đáp với khách hàng khi bị khách hàng cật vấn, để có thể bủa vây khách hàng bằng những chiến thuật bán hàng mới lạ, bằng những lối trình bày hàng rất hấp dẫn.

Người mua hàng trái lại chỉ cần một ít trí tưởng tượng để có thể tiên liệu việc bổ hàng, vả lại công việc này một người nào khác cũng có thể làm.

Trong việc bán hàng, trí nhớ bằng mắt và bằng tai là yếu tố quan trọng để thành công. Người bán hàng có bổn phận phải nhớ mặt hàng, thuộc tên tất cả những khách hàng, nếu nhớ rõ cả những bà con, quen thuộc của người khách hàng thì càng hay. Người bán hàng phải có đủ trí nhớ để nhớ lại những gì họ đã nói, đã hứa với khách hàng. Họ cũng phải thuộc nằm lòng những món hàng họ có.

Người mua trái lại không cần nhớ giỏi. Một quyển sổ tay để ghi chép những gì họ cần mua cũng đủ rồi.

Bây giờ chúng ta thử xét về những bẩm chất thuộc cảm tính và hoạt động tính. Người bán hàng chỉ cần có một ít tham muốn vừa đủ để làm động cơ cho sức hoạt động. Nếu có quá nhiều tham muốn họ sẽ đâm ra tham lam và không biết nhân nhượng về giá cả do đó mất khách, hoặc giả họ sẽ không dám tiêu tốn những món tiền thù tạc để “câu” lấy những mối hàng “bở”.

Người mua trái lại phải có nhiều tham muốn. Luôn luôn họ phải mặc cả giá và trành tròn về điều kiện bán hàng của đối phương. Xét theo định nghĩa, thì họ là người bị “tấn công” cho nên họ phải biết “đỡ gạt”, phải biết “phòng thủ”.

Người bán hàng cũng như người mua chỉ cần có bẩm chất lòng nhân ở bậc trung. Nhiều quá hoặc kém quá cũng đều có hại.

Người mua không cần cần phải có óc hợp đoàn, tuy thế không vì lẽ “có tiền là cửa cha” mà họ phải tỏ ra quá gắt gỏng, hoặc bắt tròn bắt méo người bán. Họ chỉ cần giữ một thái độ lạnh lùng, kín đáo để người bán khó mà dò dẫm biết họ nghĩ gì, muốn gì để rồi bắt chẹt họ.

Hoạt động tính là đức tính cốt yếu của người bán hàng. Bán hàng là một cuộc chinh chiến, người bán hàng luôn luôn phải giữ thế công. Người bán hàng cần hăng hái, nhiệt tâm, vui vẻ, lạc quan, những đức tính do bẩm chất hoạt động tính mà ra. Lúc thì tấn công rất bạo, lúc mềm dẻo, lúc thì quyến rũ khách, người bán chỉ cốt sao để đạt được mục đích cuối cùng là làm cho “khách phải mắc câu”.

Người mua không cần nhiều hoạt động tính, họ co thể đóng một vai tuồng thụ động, ngồi một chỗ, tại văn phòng hoặc ngã người trên một chiếc ghế phô-tơ êm ả họ vẫn có thể thi hành trách vụ của họ. Một người gầy yếu, một người có bệnh tật vẫn có thể là người mua hàng giỏi.

Người bán hàng không bắt buộc phải là người đa cảm, tuy nhiên nếu họ quá khô khan cũng có hại. Người bán hàng lạnh lùng, điềm nhiên không thể “câu” khách. Vả lại người bán hàng cần biết thích ứng với hoàn cảnh bên ngoài, phải biết “đón gió để trương buồm”, phải biết đoán ai là người có thể mua hàng, phải có đôi chút cảm xúc tính để hòa hợp với hoạt động tính hầu tạo ra lòng nhiệt huyết cần thiết trong nghề bán hàng.

Ngược lại, đức tính quý nhất mà người mua là tính điềm nhiên. Đối với những cuộc “tấn công” dồn dập của người bán, họ phải thản nhiên và càng thản nhiên họ càng dễ thoát khỏi sức quyến rũ của người bán hàng.

Như chúng ta đã thấy, những đức tính thiên nhiên của người bán hàng luôn luôn đối ngược với những đức tính của người mua, và điều ấy tưởng không có gì lạ. Người mua và người bán há chẳng phải là hai địch thủ? Một đức tính ở người bán hàng thường là một tật xấu ở người mua hàng. Vì thế khó mà tìm ra một người vừa bán hàng giỏi vừa mua hàng khéo. Cũng vì thế mà trong các hiệu buôn lớn người ta thường giao phó hai vai tuồng ấy cho hai người khác nhau.

Phần III – Chương 6 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC VẤN ĐỀ TUYỂN TRẠCH

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Một vị thủ lĩnh, dù là một viên chủ hãng to có hàng nghìn nhân công dưới tay hay một viên cai xếp chỉ điều khiển một “kíp” thợ, luôn cũng phải đối diện với vấn đề khó khăn là tuyển trạch và chọn lựa những người giúp việc.

Người Anh nói: “Người nào ở đúng chỗ ấy”. Người Pháp nói: “Khi cần một người làm tính giỏi, thì đừng chọn một anh khêu vũ khéo”. Như vậy có nghĩa là ở mỗi chức vụ chúng ta phải biết chọn người có nhiều khả năng nhất để làm tròn chức vụ ấy, đó cũng là điều kiện tất yếu để một xí nghiệp có thể đi đến thành công, nhưng đó cũng là vấn đề khó thực hiện nhất.

Việc chọn lựa người làm cũng đặng gọi là công việc tuyển trạch nhân viên là một khoa học chưa mấy đặng phổ thông. Và cho đến hiện nay, trong việc tuyển trạch, người ta cũng chỉ áp dụng một vài điểm như xét về những khả năng thể chất hoặc về những kiến thức kỹ thuật mà một nhân viên cần phải có để hành nghề.

Những phương pháp thường dùng trong việc tuyển trạch:

Trong việc mộ lính chẳng hạn, người ta chỉ chú trọng về phương diện thể chất. Người lính tương lai phải có một vòng ngực đo bao nhiêu phân, cân nặng bao nhiêu, phải có một sức khỏe trung bình, không vướng phải bệnh tật di truyền.

Một lối tuyển trạch khác, thường đặng các công sở và tư sở áp dụng là lối xem xét cấp bằng của người xin việc. Trong lối tuyển trạch này người ta căn cứ theo sở học chuyên môn của thí sinh, theo dĩ vãng, theo cái kinh nghiệm mà người ta ước đoán rằng họ phải có. Cũng có khi người ta buộc các thí sinh trải qua những cuộc khảo xét về khả năng chuyên nghiệp.

Thường khi người chủ hãng chấp nhận hay không chấp nhận người xin việc chỉ do theo tinh ý của họ. Họ rất am hiểu rằng các giấy chứng nhận giúp việc không có giá trị mấy. Vì thường khi các chủ hãng cấp giấy chứng nhận cho người giúp việc một cách lấy lệ, không mấy khi họ bình phẩm về giá trị, về tài năng của người đã giúp việc cho họ. Lại có những người chủ quá tốt bụng, cấp những giấy chứng nhận “tán dương” người giúp việc cho họ một cách quá đáng.

Trong việc thâu nhận người giúp việc lại còn phần “rủi may” xen vào. Trong số những người đến xin việc, người chủ thường nhận những người nào đến trước nhất, nhận một người nào đó có thể tạm dùng cũng được. Họ không đủ nhẫn nại đợi khảo xét hằng chục người.

Ngoài ra còn yếu tố “gửi gắm”. Lắm khi người chủ vì nể nang một người quen biết nào đó đã gửi gắm người đến xin việc, nhất là khi người “gửi gắm” ấy lại có địa vị trên họ, nên họ phải nhận để khỏi phụ lòng người trên.

Những nền tảng trong việc tuyển trạch hợp lý:

Bao nhiêu người chủ đã phải thất vọng, bất mãn về những người giúp việc. Điều ấy chứng tỏ rằng những phương pháp xưa nay người ta đã áp dụng trong việc tuyển chọn người làm chưa đặng hoàn bị, mà nnhư thế là bởi người ta không quan tâm đến yếu tố quan trọng này: giá trị về tình cảm và tinh thần con người.

Khi một công việc làm không còn là công việc hoàn toàn thuộc sức vóc, hoặc có tính cách máy móc thì chúng ta phải quan tâm đến cá tính của người làm việc. Các xử sự và hành động của một người, trong đời sống thường ngày cũng như trong khi làm nghề, đều lệ thuộc cá tính. Một nhân công không phải là một chiếc máy. Khi họ bước chân vào sở làm, họ vẫn mang theo cả tâm tính và tâm trí của họ. Thường khi họ cố giấu nhẹm nó đi phần nào, khi họ thấy những bẩm chất thiên nhiên có phương hại đến việc hành nghề.

Vả lại, hầu hết các nghề nghiệp đều có vận dụng ít nhiều những bẩm chất thuộc cảm tính những khả năng tinh thần.

Một người không thích giao du, suy nhược lại kém trí nhớ làm sao trở thành một tay bán hàng giỏi? Một viên thanh tra thiếu óc phán đoán làm hại nhiều hơn là làm ích cho hãng. Giao cho người đa cảm xúc điều khiển một bộ máy, họ dễ làm hư hỏng. Chỉ có thể dùng người đần độn, lạnh lùng, kém trí tưởng tượng trong những công việc có tính cách máy móc, giao cho họ những chức vụ đổi hỏi nhiều sáng kiến hoặc sáng tạo là hỏng. Những chức vụ đòi hỏi sự tin cẩn không nên lọt về tay một người quá nhiều tham muốn. Một viên chủ sự phòng bút toán phải có “óc kỷ hà”. Một anh khờ làm sao thi hành nổi một công việc đòi hỏi óc phán đoán? Một kỹ thuật gia giàu tưởng tượng và đa cảm sẽ đưa ra những phương lược quá viển vông v.v…

Cũng nên nhân mạnh: những bẩm chất thiên nhiên của con người dù có bị ảnh hưởng phần nào của giáo dục, của học vấn, cũng còn giữ lại cái mầm gốc. Chúng ta có thể dùng những kiến thức một cách hay hoặc dở.

Sự thịnh vượng của một xí nghiệp lệ thuộc nhiều yếu tố: tài sản của những dụng cụ, sự tổ chức nội bộ, nhưng trên hết những yếu tố ấy còn một yếu tố khác rất quan trọng nhưng ít ai quan tâm đến: cái tinh thần của xí nghiệp. Cái tinh thần nó làm các nhân viên thêm tin tưởng ở sự thành công chung, nó làm cho họ thêm sốt sắng, hăng hái, tin cậy ở công việc chung. Cái tinh thần ấy là tổng số của những tinh thần riêng của tất cả mỗi nhân viên giúp việc cho xí nghiệp.

Vì thế trong khi tuyển chọn nhân viên, chẳng những người chủ phải biết chọn người thạo nghề, hiểu nghề mà còn phải lựa những người mà xét ra cá tính của họ có thể thích ứng với công việc, những người mà xét ra bẩm chất thiên nhiên của họ có thể tạo nên sự điều hòa trong xí nghiệp.

Những trắc nghiệm tâm lý kỹ thuật:

Chúng ta đã thấy ít nhiều về cách tuyển trạch người làm trong những nghề đòi hỏi những đức tính tâm lý kỹ thuật như nghề lái xe ô tô buýt, nghề lái xe lửa, nghề lái phi cơ v.v…

Trong các ngành nghề này, khi tuyển chọn nhân viên người ta đã biết dùng những phương pháp khoa học, những máy để đo lường những phản ứng của thí sinh.

Nhờ vậy hiện nay người ta có thể đo lường một cách không mấy sai chạy khả năng “chú ý rải rác” của một người tức là khả năng làm cho một người có thể chú ý đến nhiều việc trong một lúc. Người ta cũng có thể đánh giá một người tức là khi nghe thấy một hiệu lệnh người ấy sẽ thi hành theo mệnh lệnh ấy nhanh hay chậm. Cũng có thể dùng nhiều trắc nghiệm để đo lường sức chịu đựng với sự mệt mỏ, mức độ cảm xúc, khiến ước lượng những khoảng cách của một người.

Do kết quả của những trắc nghiệm đã thí nghiệm ở thí sinh, người ta sẽ rút lấy một con số biên hiệu rồi so sánh với số biên hiệu tối thiểu mà trước đó người ta đã lập thành hầu dựa theo đó xét xem thí sinh ấy có đủ khả năng để làm nghề chăng.

Phương pháp này đã đem lại nhiều kết quả tốt trong những nghề như lái phí cơ, lái xe hỏa hoặc ô tô buýt… mà sự an ninh công cộng phải nằm trong tay của một người. Những bảng thống kê đã chứng tỏ rằng nhờ biết tuyển chọn nhân viên theo phương pháp tâm lý kỹ thuật nên những tai nạn do sự bất cẩn của người lái xe gây ra đã giảm bớt rất nhiều. Tưởng khỏi phải nói khả năng của con người có thể thay đổi bởi tuổi tác hoặc bệnh hoạn. Vì thế sau một thời gian nào đó, người ta lại buộc các nhân viên ấy trải qua một cuộc thí nghiệm mới.

Những phương pháp tuyển trạch:

Đo lường những phản ứng sinh lý của một người tương đối mà xét, có thể cho là việc dễ. Nhưng, chỉ định cách rõ rệt những hệ số tâm lý của một người thực ra cho đến ngày nay chưa ai tìm ra một phương pháp nào chắc chắn cả.

Việc khảo xét về tâm lý này rất tế nhị và đòi hỏi nhiều kinh nghiệm, nhiều đức chính xác. Tuy không có cao vọng quy định thành phương pháp, chúng tôi thấy có thể dùng bốn phương tiện say đây để khảo xét về khả năng tâm lý của một người.

– Dùng lối chất vấn.

– Dùng những trắc nghiệm.

– Dùng lối đoán tuồng chữ.

– Dùng lối khảo xét cách trực tiếp.

Phải đồng thời dùng bốn phương tiện này rồi đối chiếu kết quả, sau đó sẽ rút lấy trung bình mới có thể đoán đúng sít.

Còn một phương tiện khác: xem tướng diện, nhưng chúng tôi không đề cập đến mặc dù có nhiều người tán dương nó. Ở một phần sau (Chương: Khảo xét trực tiếp) chúng tôi sẽ nói rõ tại sao lối xem tướng diện không có giá trị.

Dùng lối chất vấn:

Trong đời sống hàng ngày, khi muốn hiểu biết về một người nào, chúng ta thường tìm cách trò chuyện với họ, hỏi han họ về điều kia việc nọ. Quan sát cá tính con người theo lối này rất dễ lầm lạc. Vì người bị chất vấn tự nhiên biết che đậy ý nghĩ của họ, nếu gặp phải người đa cảm, suy nhược, họ lại không trả lời ngay những câu hỏi của mình.

Nhưng thay vì chất vấn bằng miệng chúng ta có thể ghi các câu hỏi trên giấy để họ trả lời cũng bằng giấy mực.

Phải đặt ra nhiều câu hỏi và những câu hỏi này phải đặng chọn lựa cách khéo léo cốt những câu đáp ít ra có liên hệ trực tiếp đến một trong những bẩm chất cốt yếu của các tính người bị chất vấn.

Thí dụ nếu chúng ta hỏi một người: “Anh có yêu trẻ con, có yêu súc vật không?”, “Anh có cho bạn bè mượn tiền chăng?”, “Anh có tham gia những công cuộc phước thiện chăng?”. Và nếu người ấy trả lời “có” đối với những câu hỏi ấy, chúng ta có thể cho rằng lòng nhân của họ khá nhiều.

Hỏi về những cao vọng, những ước vọng của một người chúng ta có thể phán đoán về bẩm chất “tham muốn” của họ, lẽ dĩ nhiên là phán đoán một cách tạm bợ.

Những lời thú nhận bằng giấy mực này có giá trị ra sao? Sau đây là ý kiến riêng của chúng tôi.

Trong lối chất vấn này phải biết phòng bị một vài điều. Trước hết, phải làm cho người bị chất vấn đặng an tâm, phải làm cho họ hiểu rằng họ có ích lợi mà nói thực và nhất là phải cam kết với họ rằng những lời thú nhận ấy sẽ đặng giữ bí mật. Lại nữa, đừng để người bị chất vấn có thì giờ suy nghĩ quá lâu: chỉ cho họ một thời giờ nhất định, thí dụ nửa giờ chẳng hạn khi nhận đặng câu hỏi là họ phải nộp xong những câu đáp.

Muốn nhận định giá trị những tài liệu đã nhận được cần phải biết đoán giải. Nếu đã khéo đặt những câu hỏi thì người bị chất vấn dù có nhiều óc hợp đoàn tức là hay có tính nói dối đi nữa cũng khó mà giấu giếm tâm tư của họ qua bao nhiêu câu hỏi. Chỉ nội một việc họ không trả lời về một vài câu hỏi khó nghĩ nào đó hoặc giả họ trả lời miễn cưỡng, trả lời để trốn thoát cũng đủ cho chúng ta nghi ngờ lòng thành thật của họ (bệnh khoác lác). Nếu trong những câu đáp của họ lại nhiều điểm tương phản nhau, chúng ta có thể đoán họ là người giả vở, giả dối. Chẳng hạn một người bị chất vấn ở một đoán trước trả lời rằng: “Họ rất dễ bị xúc động trong những công trình kỹ thuật”, rồi ở một đoạn sau lại thú nhận rằng: “Họ là người rất điềm nhiên”, sẽ làm cho chúng ta nghĩ rằng họ không thành thực.

Về mặt khác, lối chất vấn này cũng là một hương diện hay để dò xét cá tính tập thành của một con người.

Tóm lại, sau khi mới xét qua những câu đáp, chúng ta chưa nên phán đoán một cách vĩnh quyết, chúng ta chỉ nên xem, chúng ta chỉ nên gán cho những kết quả ấy một cách tạm bợ, để rồi nếu có dịp khác sẽ kiểm soát lại.

Dùng những trắc nghiệm:

Trắc nghiệm là một phương tiện khác dùng để khảo xét cá tính của con người. Trắc nghiệm là một công việc, một tác động đã đặng xếp đặt trước mà người ta bảo người bị trắc nghiệm làm nhưng không cho đương nhân biết trước, cốt ý để làm tỏ rõ một vài bẩm chất cốt yếu về tâm tính hoặc tâm trí của đương nhân.

Có nhiều thức trắc nghiệm, ở đây chúng tôi chỉ dẫn cứ một vài thí dụ.

Muốn khảo xét về trí nhớ, người ta có thể dùng nhiều trắc nghiệm khác nhau:

Trí nhớ về thính giác: đọc một đoạn văn thật chậm cho đương nhân nghe rồi bảo họ lặp lại.

Trí nhớ về thị giác: Bắt đương nhận đọc một đoạn văn rồi bảo họ tóm luận. Bắt đương nhân đọc một loạt con số rồi bắt họ lặp lại v.v…

Một trắc nghiệm để xét về trí tưởng tượng: cho đương nhân xem một vật gì đó rất tầm thường, sau đó bắt họ diễn tả lại và nói thật dài dòng về món đồ vật ấy trong năm mười phút, lẽ dĩ nhiên họ phải thêu dệt thêm.

Có nhiều trắc nghiệm về óc phán đoán, sau đây là một: Bắt đương nhân đọc một bài khá dài trong đó có một ý chính đã phụ diễn, sau đó hỏi họ trong bài ấy có đoạn nào là đoạn quan trọng mà người ta không thể bỏ, vì nếu bỏ thì bài ấy sẽ mất ý nghĩa.

Những câu đố “mẹo” không đòi hỏi nhiều kiến thức có thể dùng làm trắc nghiệm để xét về óc phán đoán.

Sức chú ý là một áp dụng của óc phán đoán. Những trắc nghiệm về sức chú ý có thể gián tiếp cho chúng ta biết về giá trị óc phán đoán của một người. Sau đây là một vài trắc nghiệm về sức chú ý: Để đương nhân ngồi đợi trong một gian phòng có nhiều món đồ vật hơi lạ mắt, hoặc có một tấm bảng viết những dòng chữ hơi khác thường, sau đó đột nhiên sẽ hỏi đương họ đã nhận thấy những gì. Hoặc giả, bảo đương nhân tả lại đoạn đường họ đã trải qua để đi từ nhà họ đến sở làm. Một trắc nghiệm khác: Để trước mặt đương nhân một đống đồ vật khác nhau rồi bảo họ xếp thành loại, thành hạng.

Có thể nhận xét về óc hợp đoàn bằng thí nghiệm sau đây: Bắt đương nhân thuật lại một việc, một biến cố nào đó mà họ đã chứng kiến và chúng ta cũng biết rõ. Nếu họ thuật lại một cách không sai chạy, không thêm bớt chúng ta sẽ biết mực độ lòng thành thực của họ đến đâu.

Có thể đo lường cảm xúc tính một cách khá chắc chắn. Sức điện trở của làn da bị thay đổi ngay khi người ta xúc động. Nếu không sẵn có những máy đo lường cảm xúc, chúng ta cũng có thể quan sát những phản ứng của đương nhân bằng cách đột nhiên đặt họ vào những tình trạng nguy biến, thí dụ thình lình để rơi một món đồ kề bên họ hoặc tình cờ đốt một cây pháo.

Muốn quan sát về hoạt động tính chúng ta có thể bảo họ làm một công việc tầm thường nào đó, rồi xem các họ thực hiện nhanh hay chậm.

Thí nghiệm về lòng nhân hơi khó, tuy thế chúng ta có thể nghĩ ra một trắc nghiệm hơi tế nhị về đức liêm khiết (mà đức liêm khiết là dấu hiệu của lòng nhân). Trắc nghiệm ấy như thế này: Lập một bảng kê nhiều hành vi khác nhau, từ những tội ác đến những việc thiện, qua những hành vi gần vượt qua mức liêm khiết. Thí dụ: giết người vì muốn cướp của hoặc vì tình yêu, căn cắp vì tham lam, ăn cắp vì thích xa hoa, gian lận quan thuế, ăn cắp của chủ, nói gian dối, cứu người bị nạn v.v… Phải kể ít ra 30 hoặc 40 hành vi khác nhau. Sau đó chúng ta sẽ bảo đương nhân xếp hạng những hành vi ấy theo một trật tự nhất định. Đứng đầu những hành vì hợp với đứng liêm khiết và đi dần xuống dưới, những hành vi kém liêm khiết, thiếu hẳn liêm khiết. Ngoài ra bảo họ phân định ranh giới những hành vi liêm khiết và những hành vi gian trá.

Cũng có thể dò xét lòng nhân bằng cách bảo đương nhân nói về gia thế, về vợ con, gia đình của họ v.v…

Muốn đo lường bẩm chất tham muốn, chúng ta phải khéo gợi chuyện và hướng câu chuyện về những nỗi khó khăn của đời sống, về việc ăn tiêu, về tiền bạc, về danh vọng v.v…

Có thể dùng một vài trắc nghiệm để dò xét về những thứ tính tình pha trộn, thí dụ tính ân cần, hay giúp đỡ người (lòng nhân + hoạt động tính), tính nhã nhặn (lòng nhân + óc hợp đoàn).

Chúng ta cũng nhận thấy điều này: đối với những bẩm chất biểu hiện một cách phát động như hoạt động tính và cảm xúc tính hoặc đối với những bẩm chất có tính cách thụ động, chúng ta dễ lập ra nhiều trắc nghiệm để khảo xét. Trái lại những bẩm chất như lòng nhân, tham muốn, óc hợp đoàn chúng ta phải dùng đến chước thuật mới có thể dò xét. Phải biết cách đặt người bị thí nghiệm vào một hoàn cảnh mới lạ có thể làm nổi bật bẩm chất chúng ta muốn dò xét.

Dùng lối đoán tuồng chữ:

Từ lâu rồi người ta đã biết dùng lối đoán tuồng chữ làm trắc nghiệm. Nhưng người ta cũng thường gán cho nó một giá trị quá đáng trong việc nhận xét về cá tính con người.

Đành rằng viết chữ là một cử động có tính cách tự động và như thế, nó có liên quan phần nào đến những bẩm chất cốt yếu của con người. Nhưng đó là một cử động đã đặng rèn tập mà loài người mới thu thập cách đây không bao lâu, tương đối mà nói. Xưa nay đã có bao nhiêu người dốt không biết viết. Vì thế nó không liên quan đến những phản ứng diễn ra đồng thời với những cảm xúc, những cảm xúc đã có từ khi có nhân loại.

Tuồng chữ liên thuộc đến cá tính tập thành nhiều hơn cá tính thiên nhiên. Điều này dễ nhận thấy, vì tuồng chữ của mỗi người đổi thay rất nhiều qua các giai đoạn đời sống.

Vả lại tình trạng thể chất của người viết có thể ảnh hưởng mạnh đến tuồng chữ như chúng ta đã biết, trong phép đoán tuồng chữ, khi thấy những dòng chữ viết đi lên, người ta đoán đó là điểm chỉ một cá tính hăng hái, hiếu động, còn những dòng chữ đi chìm xuống dưới là dấu hiệu tinh thần suy nhược. Nhưng có lắm người hoạt động lại có thể viết nên những dòng chữ đi xuống, chẳng hạn gặp lúc họ đang trải qua một cơn đau yếu tạm thời. Xem tuồng chữ họ viết lúc bấy giờ rồi đoán họ là người kém hoạt động tất nhiên là sai.

Có người lúc ban sáng viết chữ rất đều dặn nhưng vào buổi tối lại viết cong quẹo, nhất là những người đã có tuổi, viết nhiều rất dễ bị mỏi tay, run tay. Nếu thấy tuồng chữ viết đều đặn mà cho rằng đó là dấu hiệu tính thận trọng, chín chắn sợ e có khi sai.

Nhưng xem nét chữ để đoán trình độ học thức của một người thì không mấy sai chạy. Người học cao viết chữ lỗi giản dị gần giống như lối chữ in, nhất là ở những chữ cái không đánh vòng cong queo, rắc rối. Người dốt viết tuồng chữ gần giống tuồng chữ trẻ con, những nét chũ rụt rè, mập mờ không đặng chắc chắn.

Vì thế, chúng ta phải dè dặt khi xem tuồng chữ để nhận xét về cá tính thiên nhiên. Nó chỉ có giá trị phần nào để xét đoán về những bẩm chất thuộc hoạt động tính (tức là hoạt động tính và cảm tính). Người nhanh, người đa cảm khó mà viết chữ đều đặn. Song những bẩm chất như lòng nhân, tham muốn, óc hợp đoàn không mấy khi lộ hình trong nét bút. Dù có dùng lối khảo xét trực tiếp để nhận xét về những bẩm chất ấy cũng còn khó thay. Nghe một người nói chuyện, chúng ta có thể đoán biét họ hiếu động hay suy nhược, song chúng ta khó dò biết họ hiền hay dữ, ngay hay gian, nhiều tham vọng hay bất vụ lợi, vì lẽ những bẩm chất như lòng nhân, óc hợp đoàn, lòng tham muốn không biểu lộ rõ rệt.

Vả lại như ông F. Michaud đã nhận xét rất đúng: việc xem tuồng chữ chỉ cho chúng ta biết về “phẩm” hơn là “lượng” của một bẩm chất. Một người tinh thần bất định có thể có một tuồng chữ đặc biệt mà cũng có thể tuồng chữ của họ rất thông thường. Có những con bệnh tinh thần viết ra những nét chức đặc biệt, lại có những con bệnh khác không để lộ vẻ gì trong tuồng chữ viết của họ cả.

Chúng ta có thể kết luận: lối xem tuồng chữ không phải là một trắc nghiệm chắc chắn. Có thể dùng nó để quan sát một vài phần nào đó trong cá tính con người. Và luôn luôn trong việc khảo xét chúng ta nên dè dặt, chỉ nên kết luận tạm thời, chờ khi có dịp sẽ kiểm điểm lại những nhận xét.

Về cách tuyển trạch:

Muốn tìm người giúp việc người ta thường đăng quảng cáo trên báo. Nếu phải chọn những nhân viên cao cấp, người ta đăng tìm người trong những tập kỳ yếu của các hội ái hữu cựu sinh viên các trường lớn.

Dù có dùng lối nào, cách thức viết một bài rao trên báo để tìm người cũng không khác. Phải nói rõ những điều kiện tối thiểu: tuổi tác, khả năng, tính các của chức vụ, những cấp bằng chứng chỉ v.v… Tốt hơn nên hài thật rõ những chi tiết như thế những người xin viết xét ra thiếu điều kiện sẽ không phải mất công đến hỏi. Cũng nên buộc người xin việc trả lời bằng thư tay như vậy chúng ta có dịp xem xét tuồng chữ của họ và có một quan niệm đầu tay về họ (lẽ dĩ nhiên với tất cả sự dè dặt).

Lúc mời người xin việc đến, chúng ta nên hẹn với họ một giờ nhất định, hầu có việc nhận xét về tính thận trọng cua rhọ (xem họ đến sớm hay muộn). Trước khi dùng những trắc nghiệm hoặc lối chất vấn mà chúng tôi đã bàn ở trước, nên tiếp chuyện với họ trong giây lát. Đó là cuộc khảo xét đầu tay.

Ở chương VIII sau đây, nói về cách khảo xét trực tiếp để nhận định cá tính của một người, chúng tôi sẽ chỉ rõ cách thức “điều tra” này.

Trong lúc tiếp chuyện, chúng ta phải chọn một hai thái độ sau đây. Hoặc giả ra vẻ nghiêm khắc, khó kính, xẳng xớm, phụ phàng, cốt làm khó người xin việc để dò xét những phản ứng của họ. Hoặc giả giữ thái độ bãi bôi, nhã nhặn để cho họ vững bụng, tin cậy. Hai chiến thuật để “thử người” này đều có một số đông chủ nhân mang dùng và mỗi phe đều có những lý lẽ rất hay. Phái trước cho rằng dùng lối “cứng rắn” như thế mới có thể đo lường tinh thần chiến đấu của người xin việc. Riêng tôi, tôi thích dùng lối “mềm dẻo” hơn. Đừng quên rằng người đi xin việc đã bị đặt để trong một tình thế “lép vế” và tinh thần họ tự nhiên bị sút phần nhiều. Bắt nạt họ chỉ làm cho họ thêm lúng túng và như thế e chúng ta sẽ phán đoán về họ một cách sai lầm. Vả lại, muốn nhận xét về sức hoạt động của họ, chúng ta có thể dùng nhiều phương tiện khác. Làm cho họ vững lòng, an tâm, chúng ta sẽ dễ nhận xét về họ hơn.

Có thể áp dụng chiến thuật “cứng rắn” khi chúng ta muốn chọn người để lãnh một vài chức vụ nào đó đòi hỏi nhiều hoạt động, nhiều cương quyết.

Những giấy chứng nhận:

Chúng tôi đã nói: Những giấy chứng nhận không có mấy giá trị. Muốn xét về quá khứ của người xin việc chúng ta chỉ cần lưu tâm ba điểm sau đây:

1) Họ đã giúp việc cho bao nhiêu sở? Thời gian họ giúp việc ở mỗi nơi này dài hay ngắn? Đối với một người năng thay đổi chỗ làm chúng ta có thể đoán rằng họ có một vài tật xấu bất trị nào đó nên bị chủ “cho về”, nhưng cũng chưa đúng lắm bởi có người thay đổi sở làm vì tính họ thích dời đổi, có người thay đổi sở chỉ vì họ gặp một bước chẳng may nào đó.

2) Những lý do khiến họ nghỉ việc. Về điểm này người xin việc hay giấu sự thật và thường đưa ra những lý do không đâu. Một vài ông chủ lắm khi vô tình cũng che đậy cho nhân viên mình.

3) Những phận sự họ đã nhận lãnh trong chức vụ trước. Điểm này không cần phải giải thích.

Tóm lại, dùng lối khảo xét trực tiếp chúng ta đặng biết về những khả năng thuộc thể chất, về cá tính tập thành của người xin việc.Trong khi tiếp chuyện với họ chúng ta đã có dịp khảo xét về trình độ văn hóa, về kiến văn, về thị hiếu, về thói quen của họ, tức là về cá tính tập thành.

Về cách chọn người:

Theo nguyên tắc, nên đề phòng những người mà các bẩm chất thuộc cảm tính và hoạt động tính của họ phát triển quá mức hoặc quá kém.

Như chúng ta thường thấy, đến mực độ cực đoan ấy họ đã biến thành những con bệnh.

Khó mà dùng một người thờ ơ, không biết ham thích (kém tham muốn) vì ở họ thiếu một động lực thúc đẩy họ hành động. Và ngược lại, một người quá nhiều tham muốn dễ đi đến chỗ gian xảo.

Một người giàu lòng nhân tự nhiên có tính yếu đuối, không thể dùng họ trong những chức vụ đòi hỏi nhiều uy tín, nhưng ngược lại, một người gian ác thiếu lòng nhân còn nguy hiểm hơn bội phần.

Nên dè dặt đối với người có nhiều óc hợp đoàn hay nói thêm, bớt. Đối lại, người cau có, không thích giao thiệp cũng không thể nhận lãnh một vài chức vụ (như nghề bán hàng chẳng hạn).

Phải gạt bỏ những người suy nhược qua một bên, có mong gì một người không biết hoạt động giúp đỡ chúng ta? Có thể dùng một người hiếu động trong những chức vụ cần nhiều hoạt động nhưng đừng đặt họ ở những chức vụ quá nhàn rỗi.

Lại có người hiếu động vì bị kích thích quá mạnh nên sanh ra chứng tâm thần bất định, khi thì họ hăng hái khi thì họ nằm co. Đến cái mức gần thành bệnh ấy, khó mà dùng họ.

Có thể dùng người lạnh lùng, điểm nhiên (kém cảm xúc tính) vào nhiều việc trừ những công việc đòi hỏi ít nhiều cảm xúc. Không thể giao cho những người đa cảm thái quá những công việc đòi hỏi đức điềm nhiên (nghề tài xế chẳng hạn).

Xét về những bẩm chất thuộc tinh thần, óc phán đoán luôn luôn cần thiết trừ phi những chức vụ mà công việc làm đã đặng tổ chức một cách máy móc không cần dùng đến trí tuệ.

Óc phán đoán là tính cốt yếu trong cá tính con người, nó gây ra sức chú ý và nó là yếu tố quan trọng của ý chí. Trong việc chọn người, nên quan sát kỹ về óc phán đoán, nhất là đối với những chức vụ đòi hỏi ít nhiều lương tri.

Trí nhớ luôn luôn có giúp ích trong việc hành nghề, có những nghề nó lại trở nên khẩn thiết. Không thể dùng người hoàn toàn đãng trí trong một công việc nào cả.

Óc tưởng tượng quá dồi dào có khi bất lợi. Ở những chức vụ tùy thuộc, hạ cấp tốt hơn nên chọn người chỉ có óc tưởng tượng vừa đủ thôi. Chính óc tưởng tượng đã khiến cho lắm người có những hành vi bất thường mặc dù những bẩm chất khác của họ rất bình thường. Lẽ đương nhiên trong những nghề nghiệp đòi hỏi sức sáng tạo, bất luận trong địa hạt nào, người hành nghề bắt buộc phải có một óc tưởng tượng thật dồi dào, dù có thật quá nhiều đi nữa cũng chẳng sao.

Phần III – Chương 5 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC TÂM LÝ HỌC VÀ NGHỆ THUẬT BÁN HÀNG

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Có một định nghĩa rất hay về thuật bán hàng: “Bán hàng tức là nghệ thuật làm sao cho khách hàng mua những món hàng và khách sẽ trở lại mà trong tay không mang theo những món hàng ấy”.

Định nghĩa này chứng tỏ: nghệ thuật bán hàng không cốt ở việc “tống” món hàng đi cho bằng được mà còn phải quan tâm đến việc “giữ khách”.

Như vậy, bán được một món hàng là vừa gợi cho khách ham thích món hàng và đồng thời cũng phải biết thỏa mãn khách hàng để khách có thể tín nhiệm nơi người bán.

Xem thế, sự thấu hiểu tâm lý rất cần thiết cho người đứng bán hàng cũng như cho những chuyên viên làm quảng cáo mà nhiệm vụ là cốt làm cho khách vừa biết đến món hàng vừa ham thích, muốn mua lấy món hàng ấy.

Những điều kiện để bán hàng:

Muốn bán đặng hàng phải có một vài điều kiện nào đó mà hai điều kiện cốt yếu là hiểu biết về món hàng và biết rõ khả năng mua hàng của khách tức là biết rõ sức mua của họ. Những điều kiện khác như: sức ham muốn của khách đối với món hàng, sự cần dùng món hàng của khách chỉ có ích nhưng không cần thiết.

Nghệ thuật của người bán hàng cốt ở chỗ biết gây ra cho khách hàng sự ham thích ấy và làm cho họ cảm thấy cần dùng món hàng.

Sự ham thích là một tình cảm bắt nguồn ở bẩm chất tham muốn và ở óc tưởng tượng. Người ta thích có một vật gì đó và đồng thời người ta cũng tưởng tượng trước những lợi ích hoặc những thích thú mà vật ấy sẽ mang lại. Có thể nói lòng tham muốn là nền tảng của mọi việc mua chác, song như chúng ta sẽ thấy sau đây, những bẩm chất khác của cá tính cũng có xen vào trong một vài trường hợp nào đó.

Người ta quan sát và nhận thấy rằng sự ham thích của khách hàng đã phát sinh từ trước, trong cái thời kỳ “ấp trứng” mà khách hàng bị ảnh hưởng của quảng cáo, vì đã xem qua những tập in mẫu hàng, hoặc đã trông thấy mặt hàng.

Trong thời kỳ “ấp trứng” này, sự ham thích của khách hàng nảy nở thêm, song người bán hàng hoặc việc chào hàng phải đến cho kịp thời, vì nếu khách hàng không đặng chào đón đúng dịp, lòng ham thích của họ sẽ bị giảm đi, nhất là khi lúc ấy có món hàng nào khác câu sức chú ý của họ. Sự ham thích một vật gì đó có thể bị một sự ham thích khác bóp chết từ trong trứng.

Sự ham thích phát sanh do lòng tham muốn và óc tưởng tượng, cần đặng bồi bổ bằng những hình ảnh.

Vì thế, muốn gợi lòng ham thích của khách hàng chúng ta nên cung cấp cho họ những ảnh tượng hoặc là những giải thích. Đó là vai trò của những cáo bạch bằng tranh ảnh, những tập catalogue, những bích chương.

Các hiệu buôn lớn như “Au bon Marché”, “Galerie Lafayette” Canufactures d’armes et cycles de Sainte-Etienne” v.v… luôn luôn biết áp dụng nguyên tắc này. Trong những tập catalogue của các hiệu ấy, khi họ rao một món hàng nào đó thì luôn luôn có kèm tranh vẽ hoặc ảnh chụp món hàng.

Các sở du lịch khiêu gợi sở thích du ngoạn của hành khách bằng cách phô bày các phong cảnh đẹp của những phương trời xa lạ, kiểu mẫu những chiếc máy bay vững chãi, nhưng chiếc tàu thủy điện đầy tiện nghi v.v…

Những công ty xây dựng nhà phố để bán còn đi xa hơn nữa. Chẳng những họ trình bày họa đồ của những gian nhà, họ còn biết trình kiểu mẫu thâu hẹp lại của những gian nhà ấy như nó đã đặng cất xong.

Biết áp dụng điểm quan sát tâm lý nói trên nên các hiệu buôn tân tiến hiện giờ biết bày biện tủ hàng của mình một cách hấp dẫn.

Tóm lại, luôn luôn nên giải thích với khách hàng bằng ảnh tượng, nói bằng hình ảnh, kích thích óc tưởng tượng, đánh mạnh vào phương diện tình cảm hơn là phương diện lý trí của cá tính.

Bán hàng là một công việc đặt cơ sở trên tâm lý học:

Chúng tôi đã nói, động lực chính trong việc mùa hàng là tham muốn, vì muốn một món hàng tức là chuyển sang quyền làm chủ một món hàng từ trong tay nhà buôn về tay mình.

Tuy nhiên, lòng ham thích mua hàng lắm khi cũng phát sinh do sự kích thích của một trong những bẩm chất thiên nhiên nào đó của chúng ta hoặc một vài nét phức tạp nào đó thuộc tâm tính chúng ta.

Có nghiên cứu kỹ về cách bán hàng nhất định nào đó, chúng ta mới dễ nhận thấy bẩm chất nào đã làm động lực thúc đẩy việc mua hàng.

Đối với những món hàng thuộc nhu cầu khần thiết như cơm, thịt, rau cải hoặc những món đồ hộp, chỉ có nhu cầu sinh lý dự vào. Dù vậy, trong việc mua các món hàng cần thiết ấy, nhưng bẩm chất như lòng tham muốn, óc hợp đoàn cũng có xen vào. Các nhà bán thịt luôn luôn biết chưng bày những khúc thịt hảo hạng, nếu nhà bán thịt mời khách mua những món thịt hạng thường, khách có thể lầm tưởng rằng nhà hàng khinh dể họ.

Ngoài một số ít món hàng nói trên, đa số những dịp bán hàng đều căn cứ trên một trong những bẩm chất thiên nhiên của chúng ta.

Việc bán các thức điểm trang như son, phấn chẳng hạn, căn cứ trên óc hợp đoàn (tính làm dáng) của người khách.

Có nhiều lý do khiến người ta mua cái máy hát hoặc chiếc máy radio. Có người mua vì thích nghe nhạc (cảm xúc tính) hoặc thích khêu vũ (hoạt động tính). Có người mua vì lòng nhân thúc đẩy, mua về để vợ con cùng có dịp vui chơi, cũng có khi do óc hợp đoàn xui khiến: trong những buổi họp giữa anh em, đặng có thêm chút nhạc đệm vào thì không khí buổi họp sẽ thú vị hơn. Cũng có khi do phần tâm trí thuộc cá tính tập thành làm động lực (khao khát học hỏi, thích mở mang sở học phổ thông).

Việc mua một chiếc ô tô vận dụng tất cả những bẩm chất thuộc cảm tính. Do tham muốn (dùng ô tô đi làm ăn), do lòng nhân (thích làm vui lòng vợ con), do óc hợp đoàn (để “lên mặt với hàng xóm”), do hoạt động tính (thích hành động nhanh chóng), do cảm xúc tính (thích mạo hiểm, thích chạy nhanh).

Động cơ thúc đẩy việc mua một quyển sách còn tùy nội dung của sách ấy. Người mua một quyển sách giáo koa hay một quyển sách khảo cứu là do lòng tham muốn (muốn mở mang kiến thức) hoặc giả chỉ vì ham thích học hỏi, để thỏa mãn óc tò mò về khoa học (hoạt động tính).

Người mua một quyển tiểu thuyết tình là do cảm xúc tính, mua một quyển truyện phiêu lưu là để thỏa mãn trí tưởng tượng v.v…

Việc mua những trái phiếu, những cổ phẩn hội buôn là do lòng tham muốn, nếu chủ tâm người mua chỉ để dành tiền; những người mua cổ phần với mục đích đầu cơ trên thị trường chứng khoán là do lòng tham muốn mà cũng do cảm xúc tính (sự khoái trá vì hồi hộp trong khi đánh cuộc với may rủi mà những con bạc đều biết).

Trái lại, những việc mua chác có tính cách để dành vốn như việc mua phiếu tiết kiệm, bảo hiểm sinh mạng là do tính phòng xa thúc đẩy. Tính phòng xa là sự phối hợp của tham muốn và lòng nhân.

Một thương gia sắm dụng cụ văn phòng là do tham muốn: lời thời gian, lợi tiền bạc mà cũng do hoạt động tính: muốn công việc chạy nhanh chóng.

Có nhiều lý do phức tạp thúc đẩy viên chủ hãng trang hoàng cửa hiệu lại cho tiện nghi hơn, cho mới mẻ và đẹp hơn. Trước hết là do lòng tham muốn (hy vọng sẽ bán hàng chạy hơn), do óc hợp đoàn (vì muốn sĩ diện với các đồng nghiệp), do cảm xúc tính (óc thẩm mỹ, có nhiều người thích làm việc trong những văn phòng lộng lẫy) và cũng có khi là do lòng nhân (để nhân viên có thể làm việc trong hoàn cảnh ấm cúng, đầy tiện nghi).

Một chủ gia mua sắm bàn tủ trang hoàng nhà cửa là do bản năng gia đình, thích sống yên vui (lòng nhân). Có khi là do tính thích tiếp tân, đãi đằng bè bạn hoặc vì sĩ diện (óc hợp đoàn) và một cách gián tiếp là do tham muốn (để gây thế trên địa hạt xã hội). Ngoài ra cũng có thể là do cảm xúc tính (óc thẩm mỹ, yêu chuộng những đồ vật đẹp).

Việc mua một cái tủ sắt là do bản năng bảo vệ tài sản (tham muốn), do cảm xúc tính (sợ mất cắp, bị cháy nhà). Người lo bảo hiểm nhà cửa cũng do những lý do nói trên.

Có nhiều lý do khiến người ta mua sắm quần áo. Những lý do này thay đổi tùy theo loại y phục người ta định mua sắm.

Bà khách đặt may chiếc áo dạ hội lỗng lẫy là do óc hợp đoàn thúc đẩy (muốn làm đẹp, làm dáng) cũng có thể do cảm xúc tính (óc thẩm mỹ) hoặc do lòng tham muốn của ông chồng (tính kiêu ngạo).

Một ông sắm “bồ đồ vía” để đi giao thiệp làm ăn là do lòng tham muốn (ăn mặc bảnh bao mới có thể áp phe lớn).

Một “bà lớn” sắm chiếc áo da lông cừu đắt giá là do lòng tham muốn và óc hợp đoàn (tính phô trương của sự xa hoa).

Việc bán bánh, bán mứt kẹo căn cứ trên tham muốn (tính tham ăn) nhưng cũng có thể do óc hợp đoàn (đối với các nhà bán bánh mứt vào dịp Tết Nguyên Đán hoặc Tết Trung Thu) khách mua bánh mứt không cốt để ăn mà để làm quà.

Người đặt một chiếc máy điện thoại là do óc hợp thích hoạt động mà cũng do tham muốn.

Người bán hàng da (rương, va li, các món đồ hành lý) có thể khích động hoạt động tính của khách hàng (thích thú xê dịch), óc hợp đoàn của khách hàng (đặng dịp phô trương các hành lý đắc tiền trong các lữ quán).

Nhà bán dụng cụ thể thao sẽ biết khích động hoạt động tính (thích vận động), cảm xúc tính (những cảm giác thể thao) và óc hợp đoàn của khách hàng (nhất là về các môn thể thao quý phái như quần vợt, đấu kiếm, đấu ngựa v.v…).

Người ta mua những món đồ phụ tùng ô tô vì muốn phô trương chiếc xe (óc hợp đoàn) vì óc thẩm mỹ, đối với một vài món đồ phụ tùng taxi để tô điểm chiếc xe (cảm xúc tính), vì tính tiết kiệm xăng nhớt hoặc giả có thể giúp chiếc xe khỏi hư hao (lòng tham muốn). Đôi khi vì là muốn chiếc xe thêm tiện lợi, chạy nhanh hơn hoặc khỏi sang số tay (hoạt động tính).

Người chủ nhà in có thể kích thích khách muốn in một tập catalogue đẹp bằng cách gợi lòng tham muốn (gia tăng thương vụ), gợi óc hợp đoàn (lấy sĩ diện, thêm tiếng tăm) hoặc gợi cảm xúc tính của khách hàng (óc thẩm mỹ).

Việc bán những mỹ phẩm như tranh, lọ sứ, tượng v.v… căn cứ trên cảm xúc tính (óc thẩm mỹ, lòng yêu cái đẹp) trên tham muốn (hy vọng sẽ có lãi, óc đầu cơ), (có những tay đầu cơ, lẽ dĩ nhiên là những người vừa rất am hiểu hội họa lại rất tinh mắt, mua tranh của một họa sĩ lúc họa sĩ ấy chưa có tiếng, nhờ đó họ mua với giá rẻ, đợi lúc họa sĩ ấy nổi tiếng sẽ bán những tranh ấy với giá đắt gấp nghìn lần) trên óc hợp đoàn (theo lối các nhà giàu mới “nổi lên” mua tranh để khoe với bạn bè rằng mình cũng biết “thưởng thức” nghệ thuật như ai kia).

Người thích sưu tầm cũng như người thích đầu cơ là người vừa có nhiều tham muốn vừa can đảm. Song người sưu tầm có nhiều cảm xúc tính hơn tham muốn. Chúng ta đặng thấy nhiều nhà sưu tầm khi mê say một món đồ vật nào đó, họ chẳng tiếc công tiếc của, lo kiếm cho bằng được những đồ vật ấy để sưu tầm. (Có người sưu tầm tem bưu chính, sách quý, tranh đẹp, đồ cổ, lại có những người thích sưu tầm nhiều đồ vật lạ: các kiểu ống pip, các búp-bê, các kiểu mặt nạ, gươm giáo v.v…). Nhưng một khi họ đã rút hết các cảm xúc thích thú sưu tầm mang đến, khi họ không còn khoái trá ngắm nhìn các đồ vật ấy nữa, họ lại bán đi không chút luyến tiếc. Người bán đồ cổ sẽ biết nhấn mạnh ở hai điểm nói trên, nhưng ngoài ra, việc mua một chiếc bàn hoặc một cái tủ xưa cũng có thể do óc hợp đoàn gây ra (để lấy sĩ diện là nhà giàu xưa).

Người bán hoa sẽ biết gợi cảm xúc tính (thích đẹp), lòng nhân (để làm vui lòng người yêu), óc hợp đoàn (vì nhu cầu xã giao) của khách hàng.

Việc mua sắm những món hàng để làm quà căn cứ ở lòng nhân (để tặng người thân thích), ở óc hợp đoàn (để bắt cầu liên lạc, vì xã giao), hoặc ở lòng tham muốn (lấy con tép bắt con tôm).

Việc mua sắm có thể dẫn nhiều thí dụ khác. Nhưng bao nhiêu đó cũng đủ cho chúng ta thấy điểm quan trọng này là: trong việc quyết định mua một món hàng, những bẩm chất thuộc trí tuệ ít khi can dự vào. Nghĩa là họ mua hàng thường do “tình cảm” hơn là do “lý trí”. (Muốn móc tiền của khách hàng nên nhớ rằng cái ví (bóp) của họ ở gần quả tim hơn khối óc).

Đó là điều mà các tay bán hàng phải nhớ kỹ. Muốn bán đặng hàng, không cần phải biện luận với lý trí của khách hàng mà chính là phải đập mạnh vào tình cảm của khách hàng, bằng cách gợi ra sự ham thích mua hàng nó bắt nguồn từ cá tính thiên nhiên của con người.

Phần III – Chương 4 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC – TÂM LÝ HỌC VÀ VĂN CHƯƠNG

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Chúng ta có thể chia các nhà văn làm hai hạng: những nhà văn có thiên tư và những nhà văn có tài năng. Xin miễn bàn đến hạng văn sĩ tin rằng họ vừa có thiên tư, vừa có tài năng.

Song phân biệt như thế nào cũng chưa mấy rõ rệt, vì có vẻ giả tạo. Làm sao phân biệt ranh giới của thiên tư, của tài năng? Trong lịch sử văn học chúng ta đặng thấy lắm nhà văn viết thật nhiều song chẳng viết nên văn phẩm nào có giá trị, nhưng rồi do sự ngẫu nhiên nào đó, họ lại “đẻ” ra một tác phẩm tuyệt tác. Người ta nói lúc ấy họ gặp hứng hoặc đặng nàng thơ hậu đãi.

Chúng ta hãy thử dùng tâm lý học để xét về vấn đề này.

Những nhà văn làm việc theo phương pháp và những nhà văn làm việc theo trực giác:

Khi chúng ta nghiên cứu về phương pháp làm việc của các nhà văn, chúng ta nhận thấy họ chỉ có hai lề lối làm việc: có người làm việc theo phương pháp, có người làm việc theo “hứng”, theo trực giác.

Ở những người làm việc theo phương pháp, sự cấu tạo văn phẩm của họ nảy nở, phát triển cách điều hòa, từ lúc cái ý tiên khởi vừa chớm nở trong óc đến khi họ thảo nên bố cục tổng quát trên mặt giấy. Có thể nói: họ làm việc chung quanh một ý chánh rồi họ phân chia nó ra từng phần, từng đoạn để tạo ra cái khung cảnh mà họ sẽ theo đó để viết, để hoàn thành tác phẩm. Họ không bỏ qua một chi tiết nào, họ bắt đầu viết ở chỗ phải khởi đầu và họ chấm dấu “hết” ở chỗ phải chấm dứt. Vì thế mỗi ngày họ có thể sản xuất ra đều đều đúng cái số trang mà họ đã định viết.

Từ lúc cái ý chánh của cốt truyện đã phát hiện trong trí óc, họ có thể tiên đoán trong thời hạn bao lâu họ sẽ viết xong quyển truyện ấy. Những chu kỳ tinh thần của họ luôn luôn đầy đủ và tiếp diễn rất mạch lạc. Vì thế những tác phẩm của họ thường đặng xây dựng cách chắc chắn, nhưng hình như thiếu một cái gì lôi cuốn, cái thần, nó đánh dấu một thiên tài.

Xét về tâm lý học, những nhà văn làm việc theo phương pháp là thuộc hạng đầu có kỷ hà, tâm trí điều hòa, kém cảm xúc nhưng hoạt động bền bỉ. Buffon, Boileau thuộc hạng nhà văn này (Xét về các nhà văn Việt Nam có thể kể: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh vào hạng này). Thiên tư của họ nếu có, chẳng qua đó là một sự kiên nhẫn dài…

Hạng sau thường gồm có những bậc thiên tài, chúng ta nhận thấy đó là những người có tâm thần bất định phụ họa với tính đa cảm xúc. Người có tính bất định sẽ thâu thập nhiều cảm giác lúc họ trải qua giai đoạn suy nhược, càng đa cảm xúc họ càng thâu thập đặng nhiều cảm giác. Chính trong thời gian này, cái ý tổng quát của tác phẩm đã phát sinh trong óc họ, nó nảy nở một cách ngẫu nhiên, vô chừng, trong một phút mơ mộng, một buổi đi dạo, do một sự việc xảy ra, một biến cố, tuy thế nó vẫn chưa thành hình, chưa đặng vững chãi. Do những chu kỳ tâm lý, nhà văn sẽ mơ tưởng về ý đó, những chu kỳ này giúp họ moi móc trong ký ức, gợi ra những truy tưởng, sau rốt họ sẽ phán đoán, có khi óc phán đoán lại xen vào. Lúc bấy giờ nhà văn cũng chưa có ý niệm cụ thể sẽ như thế nào, nó sẽ dài hay ngắn, họ cũng chưa biết.

Luôn luôn người ta thấy dấu vết cái giai đoạn ám ảnh này trong thời kỳ khơi nguyên của những tác phẩm có giá trị. Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn. Sau đó đến giai đoạn khích động, bao nhiêu truy tưởng, bao nhiêu cảm giác thâu thập trong giai đoạn trước sẽ tuôn trào ra như một dòng suối, không bao giờ cạn, đẩy mạnh ngọn bút của nhà văn chạy một mạch trên trang giấy. Tác phẩm đã thành hình, nó bật ra như một khối đá tảng và đôi khi mang dấu tuyệt mỹ, nó thành một tuyệt phẩm.

Những bậc thiên tài chính hiệu trong tất cả các ngành mỹ thuật đều là những người có tâm thần bất định lại đa cảm xúc. J.J. Rousseau, Molière, Beethoven, Baudelaire, Musset là những thí dụ sáng tỏ.

Sở dĩ nhiều văn nghệ sĩ hay tự tử hoặc đắm mình vào những cõi thiên đàng giả tạo, hút xách, chè chén, vì như đã nói trên, bản chất họ vốn đa cảm lại thêm tính bất định.

Gặp lúc tinh thần xuống dốc, đôi khi nhà văn phải nhờ đến những chất ma túy (như thuốc phiện) nó kích thích họ rất mạnh trong nhất thời, làm cho họ ngờ rằng “nàng tiên nâu” đã mang đến cho họ nhiều “từ” giúp họ sáng tác dễ dàng. (Theo ông Thomas de Quincey, tác giả quyển “Hồi ký của một người nghiện thuốc phiện” (Les Confessions d’un mangeur d’opium) thì chất ma túy không nảy sanh ra “tứ”, nó chỉ giúp chúng ta nhớ lại những ký ức gần phai mờ. Và đây, ý kiến của ông V. Descreux, người bình luận tác phẩm của ông Quincey:

“Có thể nào nhà văn dùng thuốc phiện hoặc những chất ma túy tương tự để giúp cho tinh thần thêm sáng suốt chăng? Có thể trả lời: Có. Nếu nhà văn dùng nó để tạo nên những điều kiện thuận tiện cho công việc trước tác, để làm dịu bớt những nỗi đau đớn về thể chất hoặc tinh thần nó là trở ngại chính trong công việc trước tác. Chúng tôi sẽ trả lời: Không. Nếu nhà văn định dùng nó để sáng tạo, hoặc chỉ để nhận xét. Trong vở kịch Hamlet, Shakespeare nói: Trong thực tế có lắm điều mà với tất cả cái triết lý của anh, anh cũng không dám mơ tưởng đến”.

Như chúng ta thấy, chất ma túy chỉ có thể làm dịu bớt trong nhất thời cái trạng thái lo âu, nhưng nó không thể cung cấp cho nhà văn những tài liệu mới mẻ nào). Nhưng rồi không mấy chốc, họ sẽ phải hứng lấy những hậu quả tai hại, khốc liệt của sự đầu độc này. Xem lại tiểu sử của Verlaine, Oscar Wilde, Jarry, Musset Edgard Poe, (nhất là ở E. Poe, chúng ta thấy rõ chứng tâm thần bất định). (Ở nước ta, nhiều nhà văn thuộc thời tiền chiến đều nghiện ngập: Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính, Lan Khai…).

Khi cơn khủng hoảng tinh thần ấy trở nên quyết liệt, nó có thể đưa nhà văn đến chỗ tự sát. Họ sẽ mất hết tin tưởng, ngờ vực tất cả, ngờ vực cả cái thiên tư, cái văn nghiệp của mình, họ thấy chỉ còn có cách là ẩn trú trong cõi chết, trường hợp của văn sĩ Gérard de Nerval. (Giáo sư Achille Delmas nhận thấy tinh thần bất định là nguyên nhân của 90% vụ tự sát. Định mệnh của người tự sát là do một khí chất tâm lý bất thường “Không phải ai muốn tự sát mà được” (Psycho, logie pathologique du suicide) Alcan X.B Pariss 1932).

Việc cấu tạo một quyển tiểu thuyết:

Việc cấu tạo một tác phẩm thuộc loại tưởng tượng như tiểu thuyết, đòi hỏi nhà văn nhiều đức tính. Không bàn về lối hành văn hoặc về cốt truyện, ngay cái truyện mà nhà viết tiểu thuyết kể lại có hấp dẫn độc giả hay chăng một phần lớn là ở điểm nhà văn ấy có biết diễn tả những phản ứng của các nhân vật trong truyện đúng với tâm lý chăng. Nếu chúng tôi không lầm, một tiểu thuyết gia nổi tiếng, ông Paul Bourget có nói đại để: “Một quyển tiểu thuyết khó thể làm say mê độc giả nếu trong đó không có một phần nào “có thể tin được”.

Trước khi viết truyện nhà văn đã gán cho mỗi nhân vật trong truyện một cá tính nhất định. Những chủ đề của bài toán đã đặng nêu ra trước. Những phản ứng của các nhân vật đứng trước những hoàn cảnh mà truyện đã nêu ra, không còn tùy thuộc vào người viết tiểu thuyết nữa. Những nhân vật ấy phải hành động đúng theo cá tính mà nhà viết tiểu thuyết đã gán cho họ.

Quyển truyện sẽ kém phần hấp dẫn nếu cá tính của các nhân vật trong truyện lờ mờ, không đặng rõ rệt. Độc giả sẽ thấy ngay đó là những hình nộm mà tác giả giựt dây chứ không phải những con người có thật, những nhân vật “sống” và người đọc sẽ trách tác giả đặt sai vấn đề. (Về điểm này chúng ta phải phục những tác giả đã soạn ra các pho truyện tàu như Tam Quốc, Đông Chu, Thủy Hử. Các nhân vật trong truyện ấy phần nhiều là những “nhân vật đặt trưng”, không ai có thể lầm lẫn một Quan Công, một Tào Tháo, một Lưu Bị. Có nhà phê bình nhận xét: Đặc biệt nhất là truyện Thủy Hử, trong đó có hằng mấy chục nhân vật chính song mỗi nhân vật lại đều có những cá tính đặc biệt không ai giống ai cả). Mặt khác, nếu những nhân vật đã đặng tác giả tạo ra có những tính năng riêng biệt, song những nhân vật ấy lại hành động không đúng với cá tính của họ thì chúng ta sẽ ngạc nhiên một cách khó chịu. (Khái Hưng là một nhà tiểu thuyết có tiếng là sành tâm lý, nhưng khi đọc truyện “Trống Mái” của ông, chúng ta không khỏi bất mãn về thái độ và cử chỉ rất khó hiểu của hai nhận vật chính trong truyện: Hiền và Vọi. Hiền một cô gái trưởng giả, có học, thuộc hạng tân thời, say mê anh Vọi, một anh chàng đánh cá, chỉ vì anh ta có một thân hình đẹp như pho tượng. Đọc qua truyện ấy, chúng ta có cảm tưởng là họa chăng truyện ấy chỉ có thể xảy ra bên kia trời Âu chứ không thể xảy ra bên đất Việt Nam vì nó quá cách biệt tâm lý phụ nữ Việt Nam. Tuy thế đây chỉ là tiểu thuyết và chúng ta cũng còn có thể châm chế cho óc tưởng tượng quá mức của tác giả. Nhưng khi xét đến những hành động và thái độ của Hiền và Vọi thì chúng ta không sao còn hiểu nổi. Ai đời một cô gái mê trai mà không biết giấu diếm tình cảm của mình lại còn phô bày cho tất cả mọi người biết, chẳng những thế, cô gái “thông minh” ấy lại còn mời người yêu rất “ngốc tử” của mình đến dự buổi tiệc trà mà đông đủ các bạn lịch lãm và học thức của mình. Có phải cô ta muốn “chế giễu” anh Vọi chăng? Không, cô ta yêu say đắm anh chàng ta. Đã “yêu say đắm” thì có ai lại nỡ đem người mình yêu ra làm “trò cười” cho thiên hạ, tại sao tác giả lại gán cho cô những cử chỉ vừa khích mạn vừa vô lý ấy?). Ở trường hợp này tác giả đặt đúng vấn đề song lại giải sai.

Những dẫn chứng của tâm lý học hiện giờ rất cần thiết cho nhà tiểu thuyết cũng như cho nhà soạn kịch. Đã đẻ ra những nhân vật, tác giả có quyền tạo cho các nhân vật ấy một cá tính nào đó. Nhưng, khi cái phương trình cá tính của các nhân vật ấy đã đặng nêu ra, tác giả không có quyền thêu dệt nữa, tác giả bắt buộc phải làm thế nào để mỗi nhân vật ấy phải hành động, nghĩ suy phù hợp với cá tính của họ.

Trong vở kịch “Sáu nhân vật đi tìm tác giả” (Six personnages en quête d’auteur), Pirandello đã nhận thấy điểm quan trọng ấy. Bên tai tôi còn văng vẳng những lời phản đối hốt hoảng của một trong sáu nhân vật ấy trong lúc tập tuồng, khi hắn thấy ông bầu gánh định sửa đổi vai tuồng của mình.

Những nhân vật trong các vở kịch cũng như trong các tiểu thuyết phải có một cá tính bất di bất dịch. Có như thế nó mới trường tồn. (Nhiều nhân vật tiểu thuyết đã thành nhân vật điển hình: khi nói đến người hà tiện chúng ta nhớ ngay hình ảnh lão Grandet của Balzac, nói đến hạng anh hùng rơm, chúng ta liên tưởng đến chàng Don Quichotte của Cervantès, nói đến gã bợm bãi, chúng ta nhớ đến Sở Khanh và nói đến hạng buôn thịt người là chúng ta thấy ngay hình ảnh mụ Tú Bà của Nguyễn Du). Sự trường tồn của một văn phẩm cắn cứ ở điểm chính này là nó có đúng với tâm lý hay chăng. Một quyển tiểu thuyết viết cách đây ba mươi năm vẫn còn có người thích đọc nếu nó chứa đựng được ít nhiều “thực chất của muôn đời”. Trái lại nó sẽ bị chôn vùi trong lãng quên nếu nó thuộc hạng “tâm lý giả hiệu”, nghĩa là chỉ hợp với thị hiếu thời đại. Khi cái thời ấy đã qua, không còn ai buồn xem tác phẩm ấy nữa. Xét trong văn học sử Pháp, quyển “Asirée” của Hononré là một pho tiểu thuyết rất đặng hoan nghênh ở thế kỷ XVII, nhưng hiện giờ có ai còn can đảm để đọc nó?

Hiện giờ, nếu xem lại những tác phẩm của thời kỳ lãng mạn đã từng làm rơi lụy bao nhiêu thanh niên nam nữ trong thời ấy, chúng ta bắt phì cười. Vì sao? Chỉ vì các nhân vật do những tác giả của thời ấy tạo ra không đúng với những mẫu người có thực mà chỉ là những mẫu người thích hợp với thị hiếu của thời đó, hoặc do óc tưởng tượng của các tác giả ấy đẻ ra. Họ tra cho các nhân vật ấy một “bộ cánh tâm lý” hợp với “thời trang” của thế kỷ thứ XIX thật, nhưng hiện giờ, khi thấy một người ăn mặc theo thời ấy, chúng ta sẽ tưởng chúng như họ ăn mặc theo lối trá hình. (Xét trong văn học Việt Nam hiện giờ có ai còn tìm xem quyển “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách không? Không phải vì nó xưa, quyển “Kiều” của Nguyễn Du còn xưa hơn, song người ta vẫn đọc và vẫn thưởng thức “Kiều” nhưng không ai đọc “Tố Tâm” nữa chỉ vì các nhân vật trong truyện ấy không sát thực với tâm lý. Nhiều tiểu thuyết của Lê Văn Trương cũng ở trường hợp ấy. Có một thời tiểu thuyết của Lê Văn Trương đã đặng độc giả hoan nghênh, nhưng hiện giờ ít ai xem. Thời ấy thanh niên hoan nghênh Lê Văn Trương vì ông đề cao “triết lý sức mạnh”, nêu ra những “người hùng” rất hợp thời, bởi sau mấy mươi năm bị đô hộ, bị áp bức, tự nhiên con người ta phải thích cái gì “hùng”, “mạnh”. Rất tiếc là những nhân vật ông tạo ra có vẻ gò ép, những “người hùng miễn cưỡng” của ông có vẻ những hình nộm hơn là những người thực nên số mệnh của chúng cũng mong manh).

Tâm lý học và những tác phẩm cổ điển:

Chúng ta phải chịu rằng những định luật của tâm lý học hiện đại là đúng khi chúng ta nhận thấy: tất cả các nhân vật trong những tác phẩm đặng người ta cho là “cổ điển” đều có những cá tính rõ rệt.

Xem như những tác phẩm của Stendhal, lúc ông sanh tiền, tức là vào thời kỳ lãng mạn, không ai thích xem nhưng hiện giờ người ta lại hoan nghênh. (Bạn đọc lưu ý: Thời điểm xuất bản sách này là 1956 – ldlvinhquang). Người đồng thời không hiểu ông, chỉ vì ở thời lãng mạn ấy Stendhal lại có can đảm đưa ra một Julien Sorel, nhân vật chính trong tiểu thuyết “Le Rouge et le Noir”, một mẫu người rất “thực” nhưng không hợp với phong trào lãng mạn thời bấy giờ.

Chúng ta có thể phân tách cá tính của Julien Sorel: một người nhiều hoạt động, nhiều tham muốn. Óc hợp đoàn cũng quá mạnh gần như đến mức khoác lác. Nhưng bởi kém lòng nhân nên hắn phải giết người để thỏa mãn cao vọng của mình.

Xét ngay trong truyện “Kiều” ngoài phần văn chương trác tuyệt mà ở đây chúng tôi xin miễn bàn, chúng ta còn thấy cái tài của Nguyễn Du ở điểm: chỉ trong một tập truyện ông đã tạo ra bao nhiêu nhân vật điển hình vì mỗi nhân vật đều có một cá tính riêng biệt, những nhân vật ấy lại có những suy nghĩ và hành động hợp với cá tính của họ, tức là rất đúng với tâm lý, rất sát với “thực” do đó mà các nhân vật ấy sống mãi với thời gian.

Một nàng Kiều đa cảm lại đa tình (giàu lòng nhân, rất nhiều cảm xúc tính) nhưng ít nghĩ suy hoặc chỉ nghĩ suy bằng quả tim (kém có phán đoán) lại quá suy nhược (thiếu hoạt động tính) nên cam sống một cuộc đời thụ động phó mặc cho định mệnh:

“Phận sao đành vậy cũng vầy

Cầm như chẳng đổ những ngày còn xanh”

Tính lại bất định gặp lúc tinh thần xuống dốc dám đắm mình xuống sông Tiền Đường.

Một Kim Trọng tượng trưng con người điều hòa, biết suy nghĩ, tâm tính bên trong xứng với cái mã ngoài “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”, vốn đa tình (giàu lòng nhân) nhưng không quá đa cảm (cảm xúc tính vừa phải), biết nhận định sự việc (nhiều óc phán đoán). Phải là người rất quân tử, có độ lượng biết suy nghĩ mới có thể thốt ra câu:

“Bấy lâu đáy bể mò kim

Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa?

Ai ngờ lại họp một nhà

Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm”.

Một Từ Hải:

“Giang hồ quen thói vẫy vùng

Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”.

Tiêu biểu cho hạng người hoạt động, nhiều tham vọng (rất nhiều tham muốn, nhiều hoạt động tính) song dưới cái vỏ khô khan có ẩn núp nhiều tình cảm, khi có người biết đánh vào chỗ yếu cũng biết rung cảm như ai:

“Khen cho con mắt tinh đời

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già

Một lời đã biết đến ta

Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau”.

Nhưng kém óc phán đoán, dó đó mới phải chết một cách nông nổi vì tay Hồ Tôn Hiến, bởi nghe lời người yêu về đầu hàng. Cho nên về sau, nàng Kiều đã phải khóc:

“Khóc rằng: trí dũng có thừa

Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này”.

Hiện giờ người ta còn tìm đọc truyện Kiều vì người ta vẫn còn nhận ra những nàng Kiều, những Kim Trọng, Từ Hải hoặc Sở Khanh, Hoạn Thư ngay trong xã hội hiện đại.

Trong số các nhà văn cận đại, có lẽ Khái Hưng là tác giả sở trường về tâm lý nhất, cũng có thể kể thêm Nhất Linh. Tuy nhiên những nhân vật ông đưa ra có giá trị không đồng đều, có những nhân vật thật “sống”, lại có những nhân vật rất “giả tạo”, khi ông cố gò ép để một vài nhân vật ấy thành ra nhân vật lý tưởng. Chẳng hạn trong “Nửa Chừng Xuân”, Mai và Lộc vẫn còn yêu nhau (theo tác giả), nhưng tác giả vẫn không để cho hợp nhau, chỉ vì muốn cho họ có thái độ “cao thượng” nhưng chính đó là chỗ hỏng vì người đọc thấy ngay tính tình giả tạo. Cô Hiền trong “Trống Mái” cũng rất giả tạo hoặc chỉ có óc tưởng tượng của tác giả vì tác giả đã tạo ra cho cô những hành động vô lý, những hành động không “người” chút nào.

Trái lại bà Án Ba trong “Thừa Tự” rất điển hình cho hạng đàn bà tháo vác, keo kiệt (nhiều tham muốn), thương con nhưng thương vì mình chứ không vì hạnh phúc của con (kém lòng nhân và thiếu phán đoán), sống vì dư luận nhiều hơn vì mình (nhiều óc hợp đoàn). Bà định gả Cúc, con riêng của bà cho người con chồng chỉ vì muốn có chút nén hương sau khi chết và để đánh tan tất cả những điều dị nghị của thiên hạ về sự đối đãi của bà với các con chồng.

Và giáo Hạnh, trong tiểu thuyết ngắn “Hạnh”, một thanh niên nhút nhát, mơ mộng cũng rất tiêu biểu cho con người nhút nhát vì suy nhược (rất nhiều cảm xúc tính nhưng kém hoạt động tính).

Một tiểu thuyết gia tiền bối, cụ Hồ Biểu chánh, cũng đã tạo ra nhiều nhân vật rất “sống”, dù chưa nổi bật hẳn để thành nhân vật điển hình. Tiểu thuyết của ông thiên về việc kể chuyện nhiều hơn là tả tình, tức là ít phân tách tâm lý, tuy nhiên phần nhiều các nhân vật ông đã nêu ra đều diễn đúng tính tình của họ qua những hành vi và thái độ. Có lẽ nhờ chất “thực” này mà hiện nay độc giả (nhất là độc giả miền Nam) vẫn thích xem tiểu thuyết của ông.

Nhiều tác phẩm có tính cách nội quan như: hồi ký, tiểu thuyết tự thuật, ký ức v.v… cũng có thể tồn tại với thời gian mặc dầu trong những văn phầm thuộc loại này tác giả thường vô tình hay “gia vị” phần nào, nhưng tựu trung nó cũng phản ảnh đặng một cá tính có thực. Vì lẽ đó những tác phẩm của P. Loti, của bà Colette được nhiều người mến chuộng. Những tác phẩm tác giả tự đem mình ra để phân tách như bộ “Essais” của Montaigne, “Pensées” của Pascal vẫn trường tồn cũng vì lý do nói trên. Trong văn học cận đại Việt Nam, chúng ta thấy có Nguyễn Tuân (Nguyễn Tuân trong thời tiền chiến) là nhà văn phô bày “con người” của mình một cách thành thực trong nhiều tác phẩm của ông. Qua những tác phẩm như “Thiếu Quê Hương”, “Một Chuyến Đi”, “Chiếc Lư Đồng Mắt Cua” người đọc hiểu rõ tâm hồn của tác giả một cách không mấy sai chạy, một tâm hồn ngờ vực nên đâm ra khích bạc, bất mãn hoàn cảnh hiện tại nhưng vì tâm thần suy nhược lại bất định nên chỉ biết đối phó bằng cách trốn đời, thích xê dịch mà ông ta gọi là “phiêu lưu”.

Tâm lý học và môn kịch:

Nhà soạn kịch vần phải thấu hiểu tâm lý học hơn nhà tiểu thuyết. Một quyển tiểu thuyết có khuyết kém về tâm lý, đôi khi có thể nhờ câu văn bay bướm hoặc màu sắc của những khung cảnh trong truyện che lấp đi phần nào. Nhiều tác phẩm của Chateaubriand chẳng hạn chỉ nhờ câu văn quyến rũ mà hiện nay còn đặng người tan ham thích, chứ xét về nội dung thực ra không còn đáng cho chúng ta chú ý. (Trừ tác phẩm “Mémoires d’outre-tombe” của ông nó thuộc loại nội quan. Mà thực vậy, hiện giờ trong số những tác phẩm của Chateaubriand chỉ có tác phẩm này là đặng người ta thường nhắc nhở nhất. Trong dịp kỷ niệm bách châu niên Chateaubriand gần đây người ta đã ấn hành lại tác phẩm này). Nhưng trên sân khấu, chúng ta đặng thấy các diễn viên “sống” với vai tuồng của họ. Khi những vai tuồng này không cấu tạo sát với tâm lý, chỗ khuyết điểm ấy sẽ nổ bật lên ngay và dù không sành về kịch người ta cũng dễ nhận thấy.

Chúng ta hường thấy khuyết điểm này trong nhiều phim ảnh hiện nay, lắm cốt truyện phim rất ngây ngô làm sao ấy, bởi những nhân vật trong phim đặng dựng nên một cách giả tạo. Cái lộng lẫy của hình ảnh, sự rực rỡ của cảnh trí không làm cho chúng ta quên rằng các nhân vật hoạt động trên màn bạc là những con người. Ở điểm này chúng ta càng nhận thấy rõ thiên tài của Charlie Chaplin. Có lẽ ông là nhà soạn phim và diễn viên duy nhất có thể sắm tuồng trên một cách đồng hoang mà khán giả sẽ không một ai nhận thấy sự thiếu thốn về bối cảnh.

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.