" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

CÁC BỆNH KHÁC Ở TRẺ EM

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

X. CÁC BỆNH KHÁC Ở TRẺ EM

183. Cúm, trạng thái cúm

Mỗi khi cháu bé mệt hoặc sốt, chúng ta không nên nghĩ ngay là cháu bị cúm. Bệnh gì thì phải nhờ bác sĩ xác định vì có nhiều bệnh khác nhau cùng có những triệu chứng ban đầu giống như cúm: ớn lạnh, run, thân nhiệt tăng, mặt đỏ, họng khô, đau lưng và chân tay. Hiện tượng ho càng ngày càng nhiều không phải là triệu chứng của cúm. Ða số trẻ em hễ bệnh là ỉa chảy và nôn, cứ 24 giờ hay 48 giờ là lại sốt cao một lần.

Khi đã xác định là cháu bé bị cúm, bác sĩ sẽ yêu cầu phải để cháu nằm nghỉ tại giường trong thời gian một vài ngày. Nên cho cháu uống nhiều nước trái cây, nước chanh.

Trong thời gian có dịch bệnh, tránh để các cháu bị lạnh, mệt và tập trung nơi đông người.

Nếu bà mẹ bị cúm, nên để người khác săn sóc con mình. Khi cần cho con bú, nên đeo khấu trang.

Ðối với các trẻ thơ, bệnh cúm có thể gây ra nhiều biến chứng từ viêm tai, mũi, họng tới viêm phế quản, viêm phổi, ho, hen tới độ khó thở.

Việc tiêm chủng chống bệnh cúm cho các cháu hiện nay chưa thực hiện được rộng khắp nhưng rất cần đối với các cháu có thể trạng yếu và hay có bệnh tai-mũi-họng.

184. Bệnh ban đào

Bệnh ban đào do vi rút gây ra là bệnh hay lây, có thể thành những dịch nhỏ về mùa thu và mùa đông. Bệnh thường gặp ở TRẺ EM DƯỚI 3 TUỔI, BỖNG NHIÊN BỊ SỐT cao trong nhiều ngày. Tới ngày thứ 4, thứ 5, Bé có thể khỏi sốt, đồng thời khắp người Bé nổi ban đỏ trong vài giờ hoặc một, hai ngày.

Tuy những lúc sốt cao, cháu bé có thể bị co giật, nhưng bệnh này chỉ là một bệnh nhẹ.

185. Chứng ban xuất huyết.

Chứng ban xuất huyết có đặc điểm: các vết đỏ đủ cỡ nổi cách nhau trên da, đôi khi thành từng mảng rộng do máu thoát ra từ các mạch li ti (mao mạch) dưới da tạo thành. Cháu bé bị ban xuất huyết đôi khi số, chảy máu cam, đau người v.v…

Chứng ban xuất huyết có thể liên quan đến sự giảm số lượng những tiểu cầu trong máu, làm rối loạn sự đông máu – hoặc do sự hư hại của chính những mao mạch dưới da làm máu thoát ra được.

Nguyên nhân của chứng ban xuất huyết có thể do nhiễm trùng (vi trùng màng não cầu), hoặc virút (bệnh sởi, bệnh tăng đơn bào…) hoặc do chất độc trong thuốc mà cơ thể cháu phản ứng lại. Chứng này còn là biểu hiện của một số bệnh nghiêm trọng về máu do tổn thương của tủy xương gây RA Ở TRẺ SƠ SINH

– Các cháu sơ sinh ra đời sau một cuộc đẻ khó của bà mẹ, có thể có các nốt đỏ trên mặt: đó là những mạch máu nhỏ bị vỡ. Hiện tượng này sẽ qua đi không có gì đáng lo ngại. Kể cả hiện tượng xuất huyết nhỏ trong lòng trắng mắt cũng vậy.

Nếu chứng này đi đôi với hiện tượng giảm đáng kể số lượng tiểu cầu trong máu thì phải chú ý xem cháu có bị chứng nhiễm trùng SƠ SINH KHÔNG.

PHÁT BAN VÌ BỆNH ÐAU MÀNG ÓC

– Nếu cùng với hiện tượng phát ban, cháu lại sốt thì phải nghĩ ngay tới một tổn THƯƠNG Ở MÀNG ÓC… VÀ PHẢI ÐƯA CHÁU TỚI BÁC SĨ HOẶC VÀO BỆNH VIỆN NGAY.

PHÁT BAN DO DẠNG BỆNH THẤP

– Thường thấy ở các chi dưới. Nếu phát ban kèm theo hiện tượng đau vùng bụng thì phải nghĩ tới trẻ bị lồng ruột hoặc có liên quan tới thận, nhất là khi nước tiểu có máu và anbumin. Cũng có những trường hợp phát ban có giảm số lượng tiểu cầu mà chẳng có nguyên nhân gì cả.

Chứng phát ban nói chung thường khỏi sau vài tuần chữa trị. Nhưng cũng có những trường hợp kéo dài tới 5-6 tháng: đó là chứng phát ban mãn tính. Việc chữa trị mất nhiều công sức hơn.

186. Bệnh tinh hồng nhiệt.

Bệnh tinh hồng nhiệt do một loại liên cầu trùng tán huyết gây ra. Hiện nay bệnh này hiếm thấy và cũng không còn nguy hiểm như xưa. Thời gian ủ bệnh từ 4 tới 5 ngày. Các cháu bị bệnh đột ngột sốt cao, đau HỌNG VÀ CÓ HẠCH Ở CỔ, chóng mặt và nôn ói.

Người mẩn đỏ rất nhanh, những nốt mầu đỏ nối nhau thành từng mảng rộng, có những đường viền không đều, bắt đầu từ cổ nách, khuỷu tay rồi lan ra toàn thân kể cả mặt, trừ vùng miệng và mắt. Ðặc biệt chỉ sau vài ngày lưỡi của cháu bị bệnh có màu đỏ tươi như mầu trái dâu.

Nếu không có biến chứng, bệnh thuyên giảm trong vòng vài ngày: thân nhiệt xuống, các mảng đỏ lặn mất. Khoảng 2, 3 tuần sau, da bắt ÐẦU BONG, NHẤT LÀ Ở BÀN TAY và bàn chân có thể bóc thành mảng vảy.

Những biến chứng của bệnh này, ngày xưa rất nguy hiểm nhưng nay hầu như không còn nữa nhờ tác dụng hữu hiệu của thuốc penicilline đối với các trùng streptocoque.

Những biến chứng, nếu có, thường tác động tới thận và khớp. Khi bị bệnh, người ta thường xét nghiệm nước tiểu để xem có anbumin trong thành phần không.

Hiện nay ít gặp những trường hợp bệnh này ở TRẠNG THÁI NẶNG. MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP nhẹ xảy ra trong thời gian ngắn với các triệu chứng đã biết như: bệnh dễ lây lan, đau họng, xét nghiệm thấy có vi trùng streptocoque trong mẫu tế bào lấy ở họng ra; bong da chân, tay.

187. Bệnh bại liệt.

Trước đây, bệnh bại liệt là một bệnh thật đáng sợ vì bệnh có thể gây biến chứng tức thì làm cho không thở được, hoặc sau này làm trẻ em bị teo cơ và bại liệt. Ngày nay, bệnh này gần như không còn ở CÁC NƯỚC MÀ TRẺ EM ÐƯỢC UỐNG THUỐC ngừa hay tiêm phòng bệnh này cùng với một số bệnh khác nữa.

Vậy, nên làm gì đối với các cháu nhỏ nơi còn dịch bệnh? CÓ NHIỀU TRƯỜNG HỢP:

– Trẻ em đã được tiêm phòng bệnh trong vòng 2-3 năm trở lại đây: không phải lo ngại gì.

– Trẻ em mới tiêm một lần: cần tiêm ngay lần nữa hoặc uống thuốc cho đủ liều.

– Trẻ em chưa tiêm hoặc uống thuốc phòng bệnh: đi tiêm và uống thuốc ngay.

Sau ngày tiêm hay uống thuốc 8 ngày, thuốc sẽ có tác dụng. Nhưng cần phải tiêm hoặc uống thuốc tiếp, đúng kỳ hạn, đủ liều lượng.

Các cháu mắc bệnh sẽ có các triệu chứng: nôn ói hoặc các biểu hiện khác của sự rối loạn tiêu hóa, sốt, đau trong chân, trong tay, đau đầu, họng đỏ.

Hãy cho cháu nằm nghỉ và điện thoại ngay cho bác sĩ, hoặc đưa cháu vào bệnh viện.

188. Bệnh đậu mùa.

Theo tổ chức sức khỏe thế giới (OMS) thì bệnh đậu mùa ngày NAY GẦN NHƯ KHÔNG CÒN NỮA. ĐÓ là vì việc tiêm phòng bệnh đã được tiến hành trên khắp thế giới và mỗi khi phát hiện bệnh, người ta đã biết cách ly người bệnh, nơi có dịch bệnh với mọi người.

Tuy vậy, ở một số nước có điều kiện vệ sinh kém, chứng bệnh này vẫn có thể xảy ra và chỉ cần một người ở nơi bệnh di chuyển tới nơi khác sẽ làm cho nơi đó có dịch bệnh. Nhưng nhờ có sự kiểm soát ngặt NGHÈO Ở BIÊN GIỚI VỀ Y TẾ nên hiện tượng này cũng ít khi xảy ra. Trên thế giới mỗi lần ở ÐÂU CÓ BỆNH NÀY LÀ NGƯỜI TA LẠI thông báo rộng đi khắp các nơi, và mọi người lại tiêm chủng để phòng BỆNH.

Ở Pháp, người ta không còn chủng ngừa bệnh này nữa, nhưng những người di du lịch sang các nước khác vẫn ÐƯỢC KHUYẾN CÁO NÊN TIÊM CHỦNG ÐỂ PHÒNG NGỪA.

Chú ý

– Những trẻ em đang bị ngứa dị ứng (eczema) không những không được tiêm phòng bệnh mà cũng không được tiếp xúc với các trẻ em nào vừa tiêm phòng bệnh.

Không tiêm chủng phòng bệnh cho các cháu đang có bệnh ngoài da hoặc bệnh thận, bệnh thần kinh, bệnh đau màng óc, viêm não.

Vắc xin ngừa bệnh đậu mùa đôi khi có thể gây những biến CHỨNG Ở DA VÀ NÃO. Đấy cũng là một lý do để người ta không tiêm chủng thường xuyên nữa, khi thấy có thể bỏ qua được.

189. Thủy đậu.

Thủy đậu là bệnh nổi mụn hay gặp nhất ở trẻ em. Bệnh này rất dễ lây nên hầu như không cháu nào tránh khỏi bệnh. Bệnh này do tiếp xúc trực tiếp, do nước bọt và những vảy mụn. Sau khi tiếp xúc với nguồn lây bệnh từ 14-15 ngày, sẽ có các triệu chứng: chóng mặt và sốt nhẹ. Ðặc biệt là người nổi mụn, bắt đầu ở thân, rồi đến mặt, quanh miệng và da đầu. Những mụn nhỏ độ vài milimét, có chứa một chất lỏng bên trong, sẽ khô lại sau 48 giờ và hình thành một cái vẩy. Chừng 5-6 ngày sau, vẩy sẽ bong ra để lại trên da một cái sẹo lâu độ vài tuần. Những mụn nhỏ có chứa virrút bên trong nên dễ lây sang các cháu khác.

Hiện tượng mụn nổi lên kéo dài 2-3 ngày, gây ngứa khiến các cháu muốn gãi làm xước da, gây nhiễm trùng và các mụn lâu đóng vẩy. Thông thường, sau 15 ngày phát bệnh thì các cháu khỏi.

Thủy đậu là bệnh nhẹ. Trường hợp mụn nổi nhiều, các cháu có thể bị sốt cao nhưng rồi cơn sốt sẽ qua đi. Cũng đôi khi có trường hợp bệnh ảnh hưởng tới vùng tiểu não và hệ thần kinh làm cháu bé đi lảo đảo trong thời gian bệnh đang phát triển. Bệnh có thể kéo dài thêm một ít nhưng cũng khỏi sau vài tuần.

Trong thời gian cháu bé bị thủy đậu, việc chính là giữ gìn vệ sinh cho cháu: cắt móng tay và giữ sạch, không để cháu gãi để tránh nhiễm trùng da và lây lan sang cháu khác, mặc quần áo rộng và nhẹ. Không cần xoa phấn và chỉ tắm sau khi đã hết mụn. Nếu cần, chỉ bôi thuốc sát trùng lên những vẩy hoặc mụn to nhất. Bác sĩ có thể cho các cháu uống một ít thuốc an thần để cháu dễ ngủ, khỏi quấy và gãi vì ngứa.

Khi khỏi hẳn, cháu mới được tới trường hoặc nhà trẻ.

190. Bệnh thiếu máu (còn gọi là bần huyết).

Nếu bạn thấy mặt con mình bị tái nhợt, xin chớ vội kết luận cháu bị thiếu máu. Bởi vì nhiều khi mầu da tự nhiên của cháu là như vậy. Tốt nhất là cho cháu tới một bác sĩ.

Màu da chỉ là một phần, cần phải nhìn màu của môi, lợi, lật mí mắt coi bên trong mí: nếu màu sắc các phần này nhợt nhạt thì chắc cháu bé bị thiếu máu rồi. Chứng này còn kèm theo các triệu chứng: mệt mỏi, người có vẻ lờ đờ, uể oải, kém hoạt động, không chịu ăn.

Máu của các cháu kém đỏ hơn bình thường vì thiếu huyết sắc tố, một thành phần quan trọng nhất của hồng cầu có chứa gần như toàn bộ chất sắt trong cơ thể. Huyết sắc tố có nhiệm vụ mang ôxy từ phổi tới các tế bào của các mô.

Các cháu bé từ 4 tháng tuổi trở đi dễ bị mắc bệnh này do việc nuôi dưỡng không đủ chất sắt. Tại sao ? Vì sữa không cung cấp đủ chất sắt cho các cháu.

Vậy tất cả các cháu bé chỉ nuôi bằng sữa đều bị chứng thiếu sắt chăng? Không phải. Khi được sinh ra, các cháu đã mang sẵn trong người một lượng chất sắt cần thiết của mẹ truyền cho rồi. Nhưng, có những trường hợp đặc biệt như các cháu sinh đôi, sinh ba phải cũng chia nhau một lượng chất sắt của mẹ chẳng hạn. Ngoài ra, khi các cháu bị ốm, bị tiêu chảy, bị bệnh thiếu huyết sắc tố do di truyền hoặc uống thuốc làm một số hồng huyết cầu bị tiêu diệt, chán ăn nên lượng sắt được tiếp tế không đủ cho cơ thể.

Ðối với các cháu bé mới sinh, các bà mẹ nên chú ý tới màu phân của Bé. Nếu màu nhợt nhạt là có vấn đề!

191. Chứng cao huyết áp.

Trẻ em kể cả các cháu sơ sinh cũng có thể bị chứng cao huyết áp, dù trường hợp này hiếm. Nguyên nhân bệnh có thể do thận có vấn đề, hoặc không xác định được.

Ðo huyết áp cho các cháu bé rất khó vì các cháu hay cựa quậy. Tuy vậy, càng ngày các bác sĩ càng chú ý tới việc này và thường PHẢI LẤY SỐ ÐO CỦA CÁC CHÁU Ở trạng thái nghỉ ngơi, thoải mái, không sợ hãi, để so với các số đo mẫu của từng lứa tuổi, chiều cao của Bé trai hay Bé gái.

192. Bệnh ưa chảy máu (bệnh huyết hữu)

Nguyên nhân bệnh ưa chảy máu là do cơ thể thiếu một số yếu tố cần thiết cho sự đông máu (có nhiều thể bệnh; trong số đó thể bệnh ưa CHẢY MÁU A LÀ THƯỜNG THẤY nhất). Chỉ có các Bé trai bị bệnh này mặc dù bệnh được truyền cho Bé từ các bà mẹ không bị bệnh.

Những triệu chứng của bệnh bắt đầu từ độ tuổi cháu bé biết đi: một vết thương nhỏ như bị đứt tay cũng gây chảy máu mãi. Hiện tượng chảy máu còn có thể xảy ra bên trong cơ thể, đặc biệt ở CÁC KHỚP NHƯ ÐẦU GỐI. NẾU KHÔNG được biết từ trước, những hiện tượng chảy máu ngoài và trong cơ thể có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm.

Ðể chữa trị bệnh, cần truyền nhiều lần cho bệnh nhân các loại máu tươi, huyết tương hoặc máu có các yếu tố đông máu. Thường cần phải có các nhóm bác sĩ chuyên ngành để theo dõi, chữa trị và đối phó với các biến chứng của bệnh.

Cháu bé bị bệnh cần phải được luôn luôn bảo vệ và tuyệt đối không tiêm chích bắp thịt.

193. Bệnh nhiễm ký sinh trùng Toxoplasme.

Bệnh này gây ra bởi một loại ký sinh ở thịt chưa chín. Trẻ em có thể bị bệnh do ăn thịt chưa nấu kỹ hoặc do mẹ đã bị bệnh này khi mang thai rồi truyền lại cho con. Bệnh có các triệu chứng như: sốt, nổi hạch, mệt mỏi, đau bắp thịt, đôi khi da bị mẩn đỏ. Trẻ em đã bị bệnh một lần thì sẽ được miễn nhiễm. Bởi vậy, nếu các Bé gái đã bị bệnh lúc nhỏ thì sau này, khi các cháu tới tuổi sinh nở, cơ thể cháu đã được miễn nhiễm nên không lây sang con cái nữa.

Nhiều người mắc bệnh mà không biết, nên có tới 85% phụ nữ có máu miễn nhiễm về bệnh này.

194. Phân không bình thường

Trừ trường hợp cháu bé đi táo hoặc đi tướt, còn những NGÀY BÌNH THƯỜNG, PHÂN CHÁU CÓ THỂ NHƯ THẾ NÀO?

PHÂN MỀM, ÍT

– Chứng tỏ sự tiêu hóa BÌNH THƯỜNG.

PHÂN CÓ CHẤT NHẦY TRẮNG HAY XANH

– Rối loạn tiêu hóa hoặc Bé bị sổ mũi. Nếu sự hô hấp cháu vẫn bình thường mà lại đi phân nhầy thì cần phải nói cho bác sĩ biết vì cháu có thể bị RỐI LOẠN NGAY Ở MÀNG NHẦY CỦA RUỘT.

PHÂN CÓ MỦ

– Nếu trong chất nhầy lẫn TRONG PHÂN, CÓ CẢ MỦ THÌ CHÁU ÐÃ BỊ VIÊM Ở một bộ phận nào đó của cơ quan tiêu hóa. Mủ là các bạch huyết cầu, các vi trùng đã chết lẫn với các mảnh niêm mạc bị bong ra.

PHÂN CÓ MÁU

– Nếu bạn thấy tã hay trong “bô” của cháu bé có máu, hoặc rõ hơn là có máu chảy ở HẬU MÔN CỦA CHÁU BÉ RA, CẦN PHẢI ÐƯA cháu tới bác sĩ ngay. Nên giữ tã lại và lấy một ít phân trong bô vào một lọ nhỏ đã rửa sạch, mang tới bệnh viện để làm xét nghiệm.

Nếu cháu bé vẫn khỏe bình thường, không sốt thì trong đoạn trực tràng có thể có một cục thịt thừa (pô líp). Bác sĩ sẽ giải quyết bằng một cuộc phẫu thuật nhỏ.

Việc lấy nhiệt độ cho cháu bé bằng đường hậu môn cũng có khi làm trực tràng bị thương nhẹ (dù nhiệt kế không bị vỡ). Vết thương như vậy cũng mau lành.

Ngoài ra còn có các nguyện nhân khác như: cháu bé đi táo, đi tướt, làm ruột bị tổn thương nhẹ. Trường hợp này, phải chữa bệnh táo hay đi tướt.

Một khả năng nữa cũng có thể xảy ra là cháu bị lồng ruột.

PHÂN XANH

– Phân xanh không hẳn là điều đáng lo ngại vì chỉ thể hiện việc di chuyển quá nhanh của chất thải qua ruột, làm cho phân không đủ thời gian có được mầu bình thường. Hơn nữa, nên chú ý rằng việc ôxy-hóa của phân trong không khí ngoài trời, cũng có thể làm phân của cháu bé có màu xanh.

PHÂN XÁM

– Cháu bé ăn sữa bò cô ÐẶC CÓ THỂ LÀM CHO PHÂN CÓ MÀU XÁM.

PHÂN MẦU NhẠT HOẶC MẦU TRẮNG

– Phân mầu trắng có thể là biểu hiện của gan hoạt động yếu, có bệnh gan hoặc tắc ỐNG MẬT Ở CÁC TRẺ SƠ SINH.

PHÂN CÓ MẦU SẮC

– Rau, củ cải đường, cà rốt đều làm cho phân có mầu sẩc của chúng. Chất sắt làm phân có màu đen.

Nếu bạn thấy phân của cháu bé khác thường, nên lấy mẫu, và mang tới bác sĩ để nếu cần thì làm xét nghiệm.

195. Nhiễm độc chì.

Trong các phòng ở lâu không sang sửa, sơn bằng loại sơn có chất chì trong thành phần, các cháu nhỏ có thể cho những mảnh sơn bị bong vào miệng và bị nhiễm độc chì. Triệu chứng của hiện tượng nhiễm độc chì là: đau bụng, đi táo hoặc đi tiêu chảy, rối loạn thần kinh, thấy người hốt hoảng, bị co giật, bị thương tổn về thận và máu.

Việc chữa trị có mục đích loại chì ra khỏi cơ thể qua nước tiểu.

196. Bệnh sốt nổi hạch, hay bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng.

Các trẻ sơ sinh ít khi mắc bệnh sốt nổi hạch, các cháu lớn hay mắc bệnh này hơn.

Các cháu mắc bệnh bị sốt và nổi hạch ở cổ , ở nách, ở háng.

Muốn xác định đúng là cháu đã bị bệnh này, phải làm xét NGHIỆM Ở PHÒNG THÍ NGHIỆM (thử nghiệm phản ứng Paul-bunel). Bệnh thuyên giảm mau nhưng người bệnh còn thấy mệt mỏi trong nhiều tuần.

197. Sốt thương hàn.

Nước uống, sữa, kem, nước đá, hải sản (cua, sò, ốc…) đều có thể là nguyên nhân gây bệnh sốt thương hàn, nhất là về mùa hè.

Bệnh thương hàn có các triệu chứng như sau: mới đầu sốt như nhiều bệnh khác; rồi không muốn ăn, nôn, đau bụng, tiêu chảy (ở trẻ em, hiện tượng tiêu chảy có thể không xảy ra). Thân nhiệt có thể lên cao tới 40oC và không thuyên giảm mặc dù đã chữa trị như những lần sốt khác, đi phân lỏng, sức khỏe suy sụp nhanh.

Khi thấy cháu bé sốt cao, chắc các bạn phải mời bác sĩ tới ngay. Nếu nghi là sốt thương hàn, bác sĩ sẽ yêu cầu cho cháu nằm bệnh viện. Hiện nay, đã có nhiều loại thuốc kháng sinh rất hiệu nghiệm đối với bệnh thương hàn. Tuy vậy, sau khi khỏi bệnh, thời gian phục hồi được hoàn toàn sức khỏe rất lâu. Bệnh thương hàn thường làm cho người bệnh mất nhiều sức khỏe, khỏi rồi nhưng vẫn yếu và gầy.

Nếu bạn sợ cháu bé hoặc chính bạn có thể bị nhiễm bệnh, vì bạn sắp đi du lịch tới một nơi mà điều kiện vệ sinh không được đảm bảo lắm, hãy chích cho mình và cho cháu bé liều thuốc phòng bệnh thương hàn. Liều thuốc sẽ phải chích làm 4 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày, lượng thuốc lần sau nhiều hơn lần trước. Chích một lần rồi năm sau mới chích lại. Lần thứ 3 cách lần thứ hai 5 năm. Chích thuốc đau và có thể bị sốt.

Hiện nay, việc chích thuốc ngừa bệnh thương hàn không được chú ý lắm, nhưng các bác sĩ vẫn khuyên mọi người nên chích ngừa mỗi khi có dịch bệnh hoặc cần phải đi ra nước ngoài.

Trẻ em chỉ nên tiếp tục tới trường sau khi khỏi bệnh được 20 ngày trở đi. Nếu muốn tới sớm hơn, cần có chung kết quả hết trùng bệnh Ở PHÂN, SAU KHI THỬ PHÂN 2 lần, mỗi lần cách nhau 8 ngày.

Các cháu chung sống trong cùng gia đình với cháu bị bệnh, không cần thiết phải nghỉ học.

198. Hội chứng Ðao (Down).

Hội chứng do hiện tượng dị dạng nhiễm sắc thể ở CẶP NHIỄM SẮC THỂ 21, ÐÁNG LẼ CÓ 2 nhiễm sắc thể thôi thì lại có tới 3. Sự dị dạng này dẫn tới hậu quả cháu bé bị chậm phát triển về trí khôn, có một số dị tật bẩm sinh nhất là ở TIM, VÀ MỘT VẺ MẶT ÐẶC BỊỆT, HAI lông mày xếch, ngớ ngẩn vì chậm hiểu.

Người bị hội chứng này cũng như người bị tật nguyền. Các bậc bố mẹ nên liên lạc với những tổ chức nhân đạo, những trường, lớp dành riêng cho các cháu để được săn sóc đặc bịệt.

Nguyên nhân hội chứng này chưa được rõ, nhưng hay thấy ở CÁC TRẺ EM SINH RA KHI MẸ ÐÃ VƯỢT QUÁ tuổi 40.

199. Bệnh sởi.

Bệnh sởi do vi rút gáy ra, thường gặp ở các cháu bé trên 1 tuổi, có thể có dịch vào mùa xuân. Sau khi bị lây nhiễm từ 10 tới 15 ngày, các cháu bé có các triệu chứng như: ho, sốt. Hiện tượng ho của bệnh sởi có đặc điểm làm giọng cháu bé khàn khàn và làm ràn rụa nước mắt.

Sau mấy ngày bị sởi, tai, mặt, chân, tay và toàn thân cháu bé có những nốt đỏ nổi lên, rồi lại mất đi khoảng 4, 5 ngày sau. Cháu bé khỏi bệnh nhanh. Ngày nay, bệnh sởi ít khi có bịến chứng. Tuy vậy, ở NHỮNG CHÁU BÉ SỨC KHỎE KÉM VÀ NHỮNG bé da đen, bệnh sởi vẫn có thể gây ra viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi.

Cháu bé bị sởi có thể lây sang cháu khác ở THỜI KỲ TRƯỚC KHI NỔI BAN. NGƯỜI TA thường chủng ngừa cho các cháu từ tháng 12 trở đi, vì trước đó Bé còn giữ được các yếu tố miễn nhiễm trong người do mẹ truyền lại. Thuốc ngừa sởi thường pha thêm thuốc ngừa bệnh quai bị, có thể làm cháu bé sốt nhẹ, thuốc chặn được bệnh kể cả trường hợp cháu bé đã tiếp xúc với một cháu khác bị bệnh, trong vòng 5 hôm vì thuốc tác dụng nhanh hơn vi rút các cháu bé dễ bị bệnh phổi càng nên tiêm phòng bệnh sởi hoặc dùng chất gammaglobuline để tăng cường tính miễn nhiễm của cơ thể.

200. AIDS

AIDS là một bệnh nguy hiểm, chưa có phương pháp chữa trị HIỆU QUẢ, DO VI RÚT HIV

GÂY ra. Vi rút này tấn công vào hệ thống miễn nhiễm của cơ thể làm cho khả năng tự bảo vệ của cơ thể bị suy yếu trầm trọng. Một người bị bệnh sẽ mang trong máu những kháng thể đặc bịệt nên khi xét nghiệm máu của người ấy sẽ cho kết quả dương tính.

Một phụ nữ thử máu thấy dương tính có 20% khả năng truyền vi rút bệnh cho con trong lúc còn mang thai hay khi sinh nở. Sữa mẹ có thể là nguồn lây bệnh. Bởi vậy, các phụ nữ máu đã dương tính không nên có mang và càng không nên đẻ.

Trẻ sơ sinh có bệnh thường thể hiện rõ từ tháng thứ 6: sức khỏe suy giảm, ngưng phát triển, bị đi bị lại các loại bệnh nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng hay virút liên quan tới các bệnh đường hô hấp như ho; đường tiêu hóa như tiêu chảy; hệ thần kinh như đau màng óc, bại liệt v.v… Bệnh thường tiến triển rất nhanh tới mức trầm trọng.

Các cháu nhỏ còn có thể mắc bệnh này do việc truyền máu tươi hoặc các chế phẩm của máu có nhiễm virút HIV.

Người phụ nữ mắc bệnh này, cần theo những lời khuyên sau đây, dù cho lời khuyên có phần khắc nghiệt :

– Nếu là con gái, không nên lấy chồng.

– Nếu lấy chồng, không nên có mang.

– Nếu có mang, phải sớm cho ra thai.

– Nếu muốn giữ thai, không được cho con bú sữa mẹ .

Vì, nếu bị nhiễm bệnh, đứa trẻ chỉ sống được vài tháng, làm bố mẹ thêm đau buồn. Nếu không lây bệnh, thì cháu cũng sẽ sớm bị mồ côi và trở thành một gánh nặng cho xã hội.

201. Quai bị.

Thông thường, các trẻ em ngoài 1 tuổi mới bị bệnh quai bị, và hay bị vào mùa đông hay mùa xuân. Nếu trước khi sinh cháu, bà mẹ đã từng bị bệnh này thì các em chắc chắn được miễn nhiễm từ 6 tới 7 tháng đầu.

Bệnh quai bị là một bệnh lây. Thời gian nung bệnh từ khi mắc bệnh tới khi có các triệu chứng vào khoảng 3 tuần, nhưng bệnh có thể lây sang cháu khác trước khi có triệu chứng bệnh mấy ngày.

Triệu chứng chính của bệnh là sự phồng lên của tuyến nước bọt dưới tai, một bên hoặc cả 2 bên. Cháu bé nuốt khó, đôi khi há miệng cũng khó. Tuyến phồng lớn nhất trong vòng 3 ngày, sờ vào sẽ làm cháu đau. Tới ngày thứ 5, chỗ phồng sẽ nhỏ dần và hết, nhưng thời gian cháu bé bị sốt có thể lâu hơn, từ 5 – 6 ngày kèm theo hiện tượng đau đầu, nôn ói và đau vùng bụng.

Bệnh có thể có các biến chứng nhẹ, đặc biệt có thể làm VIÊM CÁC TINH NOÃN Ở CÁC cháu trai đã tới tuổi trưởng thành, gây đau đớn. Bởi vậy, cháu bé có bệnh cần phải được cách ly cẩn thận với các anh trai và cả bố nữa. Hiện tượng viêm tinh hoàn ít khi ảnh hưởng tới khả năng sinh sản, không như nhiều người vẫn nghĩ trước đây.

Trong thời gian bệnh, khi còn sốt thì cháu bé còn cần phải nằm nghỉ tại giường. Nhiều khi cháu hết đau ở một bên tai, cháu đã hết sốt, tưởng đã khỏi nhưng bệnh lại bắt đầu nổi lên ở BÊN TAI KIA.

Săn sóc các cháu bị quai bị, nên cho ăn thức ăn lỏng, tránh phải nhai nhiều. Ðể đỡ đau bác sĩ có thể cho các cháu dùng aspirin theo hướng dẫn và chườm khăn nóng lên trên chỗ phồng.

Các cháu có thể tiêm phòng bệnh quai bị kết hợp với việc phòng bệnh sởi và đậu mùa. Các cháu khỏi bệnh chỉ nên trở lại trường khi đã hỏi ý kiến của bác sĩ.

202. Bệnh thấp.

Nhiều người nghĩ rằng chỉ có người già mới bị bệnh thấp. Không đúng. Trẻ em cũng bị bệnh này.

Thường thấy nhất là bệnh thấp khớp cấp, bệnh này thường ÍT GẶP Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI. Ở CÁC CHÁU CÓ bệnh thấp, các khớp bị tấy đỏ, đau, sờ vào chỗ đau thấy nóng. Mỗi lần bị bệnh, lâu vài ngày có biến chứng đáng ngại nhất là biến chứng vào tim.

Bệnh này do vi trùng liên cầu trùng (streptocoque) gây ra, có thể là sau một lần viêm họng.

Thuốc kháng sinh péniciline rất có tác dụng với bệnh này.

Bệnh thấp khớp mạn tính thường có các triệu chứng như: sốt cao, có nốt đỏ dưới da vì các mạch máu vỡ, có hiện tượng tràn dịch ở MÀNG TIM. BÁC SĨ TRỊ BỆNH NÀY BẰNG thuốc có cortisone.

Còn một dạng khác của bệnh thấp trẻ em gần giống với bệnh THẤP KHỚP Ở NGƯỜI LỚN: CÁC khớp bị tổn thương một cách dần dần và từng đợt một dần tới sự cứng khớp và thành tật.

203. Bệnh uốn ván.

Chứng bệnh nguy hiểm chết người này may thay đã có thuốc PHÒNG CÓ HIỆU QUẢ 100%.

Ở Việt Nam 90% trẻ em đã được tiêm phòng bệnh uốn ván.

NHỮNG VI KHUẨN GÂY BỆNH UỐN VÁN Ở khắp mọi nơi: trong đất, bụi, phân người và súc vật… Bởi vậy, khả năng nhiễm bệnh đối với mọi người đều rất lớn, nhất là ở THÔN QUÊ. VẾT THƯƠNG KHÔNG CẦN SÂU hay rộng, cũng vẫn có thể nhiễm trùng uốn ván.

Phần lớn trường hợp chỉ vì giẫm phải một cái đinh rỉ, mắc chân vào một sợi dây kẽm gai, bị một cái dằm đâm vào dưới móng tay, bị xước tay vì một đồ chơi cũ đã mấy ngày không đụng đến…

Vết đốt của côn trùng, vết răng của chó, mèo, đều có thể là nơi xâm nhập của loại vi khuẩn uốn ván.

Bởi vậy, mọi vết thương dù to hay nhỏ cũng cần phải rửa sạch và sát trùng. Khi cháu nhỏ bị thương, bác sĩ sẽ quyết định có phải tiêm phòng thêm cho cháu nữa không, dù cháu đã vừa qua một đợt tiêm phòng rồi. Ðối với các cháu chưa tiêm phòng, phải tiêm phòng và theo dõi. Nếu CẦN, PHẢI TIÊM CHO ÐỦ LIỀU.

TRIỆU CHỨNG BỆNH UỐN VÁN

– Từ 5 tới 14 ngày sau khi bị nhiễm bệnh (sau khi giẫm phải đinh), đứa trẻ bị cứng bắp THỊT, ÐẶC BỊỆT LÀ Ở CỔ và hàm. Nạn nhân toát mồ hôi, càng ngày càng khó mở miệng, khó nuốt, đau đầu, đau chân tay, người run rảy, hơi sốt vật vã rồi bị co giật hoặc uốn cong người. Hiện tượng các bắp thịt bị co cứng lan ra toàn thân, cần phải chuyển ngay cháu bé tới trung tâm cấp cứu chuẩn về uốn ván.

204. Bệnh cơ.

Bệnh cơ có tính di truyền thường hay gặp ở CÁC CHÁU TRAI TỪ 4 TỚI 5 TUỔI. DẤU hiệu làm cho phải chú ý đến bệnh là: khi cháu ngồi xổm thì rất khó đứng lên.

Nguyên nhân bệnh chưa được xác định. Hiện nay, người ta đã đề ra được các phương pháp để ngăn bệnh tiến triển và bịết trước căn bệnh của Bé bằng cách xét nghiệm mẫu máu từ lúc mới sinh.

205. Chứng đột tử hay cái chết bất ngờ chưa giải thích được của trẻ sơ sinh.

Những trường hợp trẻ em bị chết bất ngờ thường xảy ra trong thời gian dưới một năm tuổi. Nguyên nhân của hiện tượng này vẫn chưa xác định được rõ ràng, nhưng hậu quả chắc chắn là một nỗi buồn vô hạn cho bố mẹ của Bé và cũng là niềm day dứt khôn nguôi cho nhiều thầy thuốc.

Chết bất ngờ được định nghĩa là cái chết tới với một cháu bé đang mạnh khỏe, mà không tìm được nguyên nhân xác đáng. Nhiều bố mẹ bỗng thấy con mình mất sắc, người mềm nhũn, đã tắt thở từ bao giờ không ai hay biết ngay trong nôi của Bé. Một số ít trường hợp, Bé lại hồi tỉnh lại khi được cấp cứu bằng các phương pháp phục hồi sự hoạt động của tim và sự hô hấp.

Hiện nay, ngành y học mới tạm dự đoán như sau: Khi ngủ, nhịp thở của các cháu không đều, có những khoảng thời gian ngưng thở quá lâu giữa 2 lần hít vào (lâu quá 20 giây) làm suy yếu cả hoạt động của tim. Hoặc trong bộ máy tiêu hóa, có thể xảy ra sự lưu thông ngược chiều của các chất từ dạ dày về ống thực quản, gây ra nghẹn thở.

Những dược phẩm có tính chất an thần, gây ngủ cũng có thể là nguyên nhân, vì ảnh hưởng tới sự hô hấp.

Từ những dự đoán trên, người ta đã chế ra những máy canh chừng các cháu bé khi ngủ. Máy được đặt tại giường của cháu bé; khi thấy thời gian ngưng thở của cháu bé lúc ngủ lâu quá mức cho phép, máy tự động phát hiệu báo động cho người lớn biết.

Hiện tượng chết đột ngột của các cháu bé hiện nay vẫn còn là một đề tài để các bác sĩ tại nhiều nước quan tâm, nghiên cứu.

TAI NẠN

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

IX. TAI NẠN

166. Tai nạn.

Bạn có thể là người chứng kiến, hoặc chính bạn có một người thân là nạn nhân của một tai nạn giao thông. Sau đây là những việc cần phải làm:

Ðặt nạn nhân nằm ngửa, đầu nghiêng sang một bên (trường hợp bị nôn mửa). Yêu cầu mọi người giãn ra, báo cho các cơ quan có chức năng như cảnh sát, bác sĩ và cho họ biết rõ ràng nạn nhãn bị thương như thế nào, nhẹ hay nặng; nói rõ nơi xảy ra tai nạn (quận phường, số nhà v.v.. để xe cấp cứu biết đường tới cho nhanh). Nếu bạn muốn biết nạn nhân còn THỞ HAY KHÔNG, HÃY ÐỂ MỘT CHIẾC GƯƠNG SOI NHỎ Ở trước miệng và mũi nạn nhân. Nếu nạn nhân còn thở, mặt gương sẽ bị hơi nước làm mờ. Nếu nạn nhân không còn thở, phải thực hiện ngay phương pháp cấp cứu thở nhân tạo (coi lại phần cấp cứu thở nhân tạo và phần bị thương chảy máu). Phải cởi các khuy áo, quần, và nới lỏng thất lưng.

Bản thân mình phải giữ hết sức bình tĩnh, nhất là nếu nạn nhân là một đứa bé. Thái độ hoảng hốt, thiếu bình tĩnh của bạn có thể ảnh hưởng rất nhiều tới tinh thần và trạng thái của cháu bé.

ÐIỀU KHÔNG NÊN LÀM

– Không nên di chuyển nạn nhân trừ trường hợp bắt buộc. Việc gửi nạn nhân vào bất kỳ một cái xe nào dù xe chật, hẹp, buộc nạn nhân phải ngồi, nằm ở TƯ THẾ KHÔNG THÍCH HỢP, ÐỂ ÐƯA NHANH TỚI NƠI CẤP CỨU CÓ THỂ LÀ VIỆC LÀM KÉM KHÔN NGOAN NHấT !

Nên đặt nạn nhân nằm dài bên lề đường để đợi xe cứu thương tới (nếu đã liên lạc được).

Nếu bệnh nhân bị ngất, không được cho bệnh nhân uống bất kỳ loại nước gì.

167. Va chạm, ngất, các trường hợp ngã.

Nếu cháu ngã rồi bất tỉnh, nôn ói, có máu chảy ra ở miệng HOẶC Ở MŨI, Ở TAI, TAY CHÂN CO GIẬT KHÁC THƯỜNG PHẢI đưa ngay tới phòng cấp cứu. Trong khi di chuyển cháu, hoặc chờ đợi bác sĩ tới, NHỚ :

– Tránh không di động cháu.

– Ðặt nằm thẳng người đầu hơi thấp hơn chân, nghiêng mặt về một bên để nếu cháu nôn, ói hay bị chảy máu mũi, miệng chất lỏng không vào được trong họng để xuống phổi;

– Không được cho cháu uống hay ăn bất cứ thứ gì.

* GẪY XƯƠNG – Nếu đứa trẻ ngã thấy không điều khiển được những cử động tay, hoặc chân nữa thì cháu có thể đã bị trẹo khớp hoặc gãy xương. Nắn nhẹ cánh tay, khớp tay, khuỷu tay, đùi, chân bác sĩ có thể xác định được chỗ gãy ở điểm cháu kêu đau nhiều. Nhưng, muốn xác định rõ ràng, chính xác phải đưa cháu đi chụp X-quang.

Hiện tượng gãy xương khi ngã nhẹ chứng tỏ xương cháu không chắc (có thể vì cơ thể thiếu chất Canxi).

* NGÃ ĐẬP ĐẦU XUỐNG TRƯỚC – Nếu sau khi ngã bị va mạnh vào đầu, cháu bị ngất dù trong thời gian ngắn cũng phải đưa tới bệnh viện cấp cứu ngay. Dù nhìn bên ngoài, chỗ va chạm không có dấu hiệu gì là vết thương nặng, nhưng bác sĩ vẫn có thể yêu cầu phải đi chụp X-quang phần sọ não nếu thấy cần thiết.

Trong thời gian tiếp theo, người săn sóc các cháu phải chú ý theo dõi xem có các hiện tượng như: nôn ói, sốt, co giật, sắc mặt tái dần, giấc ngủ không yên hoặc ngủ mê mệt không?

Trong suốt 24 giờ của ngày đầu, cần phải theo dõi liên tục, thỉnh thoảng lại gọi xem cháu có tỉnh lại không vì nếu có hiện tượng chảy máu trong não, cháu có thể ngủ thiếp đi rồi chuyển qua trạng thái hôn mê mà người săn sóc không hay biết.

Một số triệu chứng đáng lo ngại khác là:

– Sự thay đổi thái độ đột ngột: Hoặc cháu tự nhiên tỏ ra bàng quan với tất cả chung quanh, hoặc trái lại, tự nhiên vật vã, kích động, mắt nhìn bỗng bị rối loạn, có khi nhìn như người lác mắt.

Cần phải mời bác sĩ tới bên giường bệnh ngay để nhận ÐỊNH SÁT HƠN NỮA TÌNH TRẠNG BỆNH CỦA CHÁU.

CHÁU NGÃ VÀO VẬT NHỌN

Nếu vật nhọn đâm vào chân, tay thì chỉ là vết thương chảy máu cần phải cầm máu và sát trùng vết thương.

Nếu vật đâm vào đầu, bụng, lưng : cần phải có bác sĩ chuyên môn.

Nếu vật đâm vào bụng, trong khi bác sĩ chưa đến, hãy cho cháu bé tiểu tiện và nhận xét xem nước tiểu của cháu có đỏ không để báo cáo cho bác sĩ biết. Hiện tượng cháu không tiểu tiện được cũng cần phải nói rõ.

Vật nhọn có thể làm thương tổn thận, lá lách, ruột xuyên qua thành bụng. Do đó, cần phải xác định các trường hợp trên bằng phương PHÁP SIÊU ÂM VÙNG BỤNG.

CHÁU BỊ THƯƠNG Ở CẰM, Ở MẶT

– Rửa vết thương bằng nước sạch để làm trôi các chất bẩn như đất, cát. Sau đó, rửa bằng thuốc sát trùng.

Nếu vết thương lớn, vết sẹo hình thành sau này ở MẶT CHÁU SẼ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ THẨM mỹ của nét mặt. Bởi vậy, phải đưa cháu vào bệnh viện để khâu ghép da, LÀM CHO VẾT SẸO SAU NÀY ÐỠ XẤU HƠN.

CHÁU BỊ THÂM TÍM HOẶC NỔI U

– Những vết tím và cục u sẽ tự khỏi sau vài ngày. Tuy vậy, có thể chườm nước lạnh vào chỗ u để giảm đau và băng nhẹ chỗ da bị xước để tránh va chạm.

168. Vết thương.

Từ tuổi biết đi trẻ em thường bị những vết thương sây sát do đụng chạm mạnh và té ngã. Cần phải chú ý xem những vết thương đó to HAY NHỎ, NÔNG HAY SÂU, CHẢY MÁU NHIỀU HAY ÍT VÀ Ở chỗ nào, có dính đất cát hoặc vật gì trong vết thương không? Không nên coi thường bất kỳ vết sây sát nào của trẻ em, dù là một vết chích nhỏ. Vết thương cần được rửa sạch ngay bằng xà phòng rồi bôi thuốc sát trùng như thuốc đỏ Mercurochrome chẳng hạn. Sau cùng, phải băng lại. Vết thương nào cũng có thể dẫn tới bệnh uốn ván. Bởi vậy, cần cho các cháu tiêm phòng bệnh uốn ván.

Vết thương sâu hoặc nông nhưng rộng (vài cm), cần phải đưa cháu tới bác sĩ để rửa sát trùng và khâu lại nhất là những vết thương ở MẶT, NẾU KHÔNG KHÁU, KHI LIỀN TỰ NHIÊN sẽ để lại những vết sẹo kém thẩm mỹ sau này.

Nếu vết thương chảy máu, dù chảy máu hơi nhiều cũng chỉ nên ấn xuống để cầm máu, rồi băng lại.

Ngày nay, người ta hết sức tránh việc làm ga rô (buộc chặt để cầm máu).

169. Chảy máu vì vết thương

VẾT THƯƠNG NHẸ

– Cháu bé bị đứt tay, bị ngã sây sát, bị cào xước v.v… có vết thương chảy máu. Bạn hãy rửa cho cháu bằng xà phòng, nếu có đất, cát dính vào vết thương. Sau đó, bôi thuốc đỏ (Mercurochrome), rồi băng lại bằng loại băng dính có sẵn cả gạc, có bán ở hiệu thuốc.

Phải băng nhẹ tay, hơi lỏng – không chặt quá – vì vết thương cần được “thở” và máu dưới vết thương cần được lưu thông trong mạch.

Khi cháu nhỏ đứt tay chảy máu, bạn có thể bóp hay ấn lên vết thương một lát, máu sẽ ngưng chảy rồi bôi thuốc đỏ và băng lại.

VẾT THƯƠNG NẶNG

– Cháu bé bị thương sâu vì vết dao hay kính vỡ và bị chảy máu nhiều. Bạn hãy làm cho vết thương lộ ra bằng cách cởi bỏ hoặc cắt chỗ quần áo đụng vào vết thương. Nếu có những mảnh kim loại, mảnh kính, sỏi cát chung quanh vết thương, hãy lau sạch hoặc gắp bỏ. Không cần đụng tới vết thương vội, cũng chưa cần rửa vết thương.

Buộc vết thương lại bằng một lớp băng dày hoặc đặt lên vết thương một cái khăn tay sạch rồi ấn tay lên vết thương trong vòng 5 phút. Lúc này, việc trước tiên là ngăn sự chảy máu. Việc rửa sạch hoặc sát trùng vết thương sẽ lo sau.

Xác định được một động mạch hay một tĩnh mạch bị đứt là việc khó. Tuy vậy, cũng có thể nhận xét như sau:

Tĩnh mạch bị đứt: máu chảy thành lớp, màu đỏ sẫm.

Ðộng mạch bị đứt: máu phụt ra từng đợt, màu đỏ tươi.

Nếu sau khi buộc vết thương, máu vấn không ngừng chảy, bạn hãy tìm đường động mạch của cháu bé và ấn mạnh ngón tay xuống một điểm CỦA MẠCH Ở PHÍA TRÊN VẾT thương (giữa đường từ tim tới vết thương) trong khi đưa cháu tới ngay nơi cấp cứu v.v..

Không nên buộc ga rô, nếu bạn chưa biết phương pháp.

CHẢY MÁU MŨI

– Khi một cháu bé bi “CHẢY MÁU CAM”, TỨC LÀ CHẢY MÁU Ở mũi ra, bạn hãy cho một miếng gạc hoặc bông làm ngưng chảy máu (CÓ BÁN Ở HIỆU THUỐC) VÀO bên lỗ mũi chảy máu, và lấy ngón tay đè cánh mũi bị chảy máu lại.

Nếu máu vẫn tiếp tục chảy, phải đưa tới bác sĩ.

Một đứa trẻ hay bị chảy máu mũi có thể vì các mạch máu ở MÀNG MŨI BỊ GIÃN NỞ HOẶC CÓ RỐI LOẠN đông máu. Bởi vậy, cần cho bác sĩ biết.

170. Trẻ em nuốt phải vật lạ.

Do bản năng cần ăn, các trẻ em hay đưa vào miệng những vật các em có thể lấy và cầm trong tay như một hòn bi, một đồng xu chẳng hạn. Những vật như thế có thể làm tắc đường hô hấp và làm các cháu bị ngạt thở. (Xem Ngạt thở).

Nếu vật lọt được xuống dạ dày thì là một điều may mắn. NÓ SẼ DẦN DẦN ÐI THEO đường tiêu hóa để cuối cùng được tống ra ngoài theo phân. Bác sĩ không cần phải can thiệp bằng phẫu thuật mà chỉ cần theo dõi sự di chuyển của vật trong người các cháu bằng phương pháp rọi X-quang.

Nếu vật vừa nhỏ, tròn, nhẵn, thì sẽ theo phân ra ngoài sau 1 – 2 ngày.

CÓ 2 TRƯỜNG hợp đặc biệt cần chú ý :

– Cháu nuốt vật nhọn như đinh, kẹp tóc, kẹp giấy v.v… Những đầu nhọn đâm vào thành ruột nên không di chuyển được Trường hợp này phải phẫu thuật để lấy ra.

– Cháu nuốt hộp hay lọ nhỏ có chứa chất độc hay chất tấy rửa có thể tác hại tới bộ máy tiêu hóa, nhất là dạ dày, nên phải cấp tốc đưa cháu tới bệnh viện.

171 . Bé uống nhầm rượu.

Nếu trẻ em uống nhầm một lượng rượu dù là một, hai ly nhỏ, cũng cần đưa tới bác sĩ hoặc tới bệnh viện ngay. Rượu có thể làm sụt lượng đường trong máu và gây hôn mê. Tuổi của các cháu càng nhỏ, hậu quả càng nghiêm trọng.

Nếu bạn nhỏ mũi nhầm cho các cháu, đáng lẽ nhỏ thuốc nhỏ mũi lại hút thuốc từ một lọ cồn, các cháu sẽ khóc ré lên ngay. Hãy giữ bình tĩnh và lấy nước sạch nhỏ tiếp vào cho cháu, cất để làm loãng rượu đi và rửa niêm mạc mũi.

Không nên dùng rượu hay cồn để xoa bóp cho trẻ em vì lớp da mỏng của các cháu rất dễ hấp thụ rượu. Chúng ta cũng nên chú ý rằng có một số thuốc đánh răng chứa một độ rượu không thích hợp với trẻ em, không nên dùng cho các cháu.

172. Ngộ độc

Nếu cháu bé uống phải một chất độc gì (chất tẩy rửa, THUỐC…) BẠN PHẢI LÀM GÌ?

HÃY BÌNH TĨNH

– Gọi ngay điện thoại tới phòng cấp cứu hoặc đưa ngay cháu tới để các bác sĩ rửa dạ dày, làm tỉnh lại… nếu cần, hoặc quyết định gửi cháu bé tới những phòng chuyên môn.

– Hãy chuẩn bi trả lời cho thật chính xác về các câu hỏi:

* Cháu bé đã uống hoặc ăn phải chất gì? Nhiều hay ít? Bao nhiêu?

* Lúc nào?

* Cháu đã có những triệu chứng gì của việc ngộ độc?

Muốn trả lời được các câu hỏi trên, bạn phải quan sát chỗ của cháu bé từ trên giường tới dưới đất, các đồ vật xung quanh, cả trong túi áo, quần của cháu nữa. Mang tất cả các vật gì bạn nghi ngờ tới bệnh VIỆN ÐỂ ÐƯA CHO BÁC SĨ.

KHÔNG NÊN CHO CHÁU BÉ UỐNG THÊM THỨ GÌ KỂ CẢ SỮA.

KHÔNG NÊN CỐ BẮT CHÁU NÔN RA, NẾU CHÁU KHÔNG LÀM ÐƯỢC.

NGUYÊN NHÂN

– Nguyên nhân sự ngộ độc của các cháu là do lỗi các người lớn thường để cẩu thả các loại chất trong tầm tay của các cháu.

– Thuốc tẩy rửa.

– Dược phẩm.

– Các thứ hóa phẩm trang sức: nước hoa, sáp môi v.v…

TẠI SAO CẦN ÐƯA CHÁU BÉ TỚI BÃC SĨ?

– CÓ NGƯỜI NÓI:

“Tôi không biết con tôi đã mở hộp thuốc aspirin hay hộp thuốc ngủ, và đã uống chưa. Có thể nó chỉ mút có một viên, nhưng cũng có THỂ LÀ NHIỀU HƠN. VẬY PHẢI LÀM THẾ NÀO?”

TRẢ LỜI : Nếu cháu chỉ mút có một viên aspirin thì bạn chỉ cần cho cháu uống nhiều nước đường là đủ. Chắc chắn cháu không việc gì cả. Nhưng, nếu không biết chắc chắn số lượng cháu đã uống phải thì cần đưa cháu tới bác sĩ ngay.

173. Cảm nóng.

Trẻ em, nhất là eác cháu mới sinh, rất nhạy cảm với nhiệt. Ngồi trong phòng nóng quá, cháu cũng bị cảm nóng, vì cơ thể bi bốc hơi nước quá mức.

Thoạt đầu cơ thể cháu toát mồ hôi để chống lại cái nóng. Nếu sau đó, cháu không được uống nước để bù đắp lại lượng nước đã mất, cơ thể không toát mồ hôi nữa và thân nhiệt bắt đầu tăng lên.

Hiện tượng cảm nóng như vậy là do ảnh hưởng của nơi ở, PHÒNG Ở nóng hoặc kín quá như trường hợp cháu bé ngồi trong xe hơi ÐÓNG KÍN CỬA Ở NGOÀI NẮNG chẳng hạn. Nhưng cũng có thể xảy ra trong mùa lạnh, khi cháu mặc nhiều quần áo quá và căn phòng lại được sưởi quá ấm.

Trong mọi trường hợp, việc cho cháu uống nhiều nước là cần THIẾT.

TRIỆU CHỨNG CỦA CHỨNG CẢM NÓNG

– Thoạt đầu cháu bé toát nhiều mồ hôi, vật vã, đòi uống vì khát. Sau đó không toát mồ hôi nữa, thân nhiệt có thể lên trên 40oC.

LÀM THẾ NÀO KHI BÉ CẢM NÓNG
?

Làm cho bé mát, tắm nước có nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt của bé từ 2 – 3oC, chườm lạnh hoặc quấn tã tẩm nước mát. Cho uống thuốc chống sốt như aspirin, acetamol với nhiều nước mát.

Nếu thân nhiệt cháu vẫn không giảm, cần đưa ngay cháu đi CẤP CỨU , VÌ CHỨNG CẢM NÓNG CŨNG RẤT NGUY HIỂM.

ĐỂ TRÁNH HIỆN TƯỢNG CẢM NÓNG , CHỦ YẾU CẦN PHẢI ĐỀ PHÒNG như: không cho các cháu mặc nhiều quần áo quá, luôn chú ý cho các cháu uống đủ nước.

174. Cảm nắng.

CẢM NẮNG CÓ THỂ COI NHƯ HIỆN TƯỢNG BỎNG cấp 1, cấp 2 với các triệu chứng: thân nhiệt tăng, mạch nhanh, da nóng và khô (sau đó vài giờ có thể đỏ lên), không có mồ hôi, nôn ói và có thể ngất.

Diện tích cơ thể bị tác dụng bởi nắng càng rộng thì nguy cơ càng nặng. Một cháu bé bị say nắng chiếu vào mặt có thể bị nguy tới tính mạng.

Nếu diện tích da bị tác dụng của nắng trên 5% thì bác sĩ phải đưa tới phòng cấp cứu.

(Xem thêm Bảng diện tích da trên cơ thể, mục B6 về bỏng).

175. BỊ CÔN TRÙNG CHÍCH.

BỊ ONG, TÒ VÒ ÐỐT

– Nhiều bộ phận của cơ thể rất nhạy cảm với nọc của loài ong nên rất nhức nhối.

Chích người, bao giờ ong cũng để lại ngòi. Bởi vậy, phải tìm cách lấy cái ngòi này ra, rồi rửa chỗ bị chích bằng nước pha giấm, chườm nước đá. Nọc ong có thể làm chỗ da bị chích tấy đỏ, đau rát trong vài ngày.

Nếu bị ong chích nhiều chỗ – nhất là ở cổ , ở miệng các cháu nhỏ có thể nôn ói, nhịp tim tăng, khó thở, toàn thân bị phù nề, cổ họng bị phù, rối loại tuần toàn, nhiều khi nguy hiểm tới tính mạng. Bởi vậy, khi thấy một cháu nhỏ bị ong đốt ở VÙNG MIỆNG VÀ CỔ, CẦN ÐƯA CHÁU TỚI bệnh viện để đề phòng những biến chứng có thể xảy ra.

BỊ BỌ CỎ ÐỐT

– Cuối mùa hè, THƯỜNG CÓ MỘT SỐ LOÀI BỌ Ở cỏ. Các trẻ nhỏ chơi đùa trên cỏ, dễ bị chúng đốt, làm da phồng đỏ, ngứa. Nên bôi lên da các cháu loại dung dịch chống ngứa thường BÁN Ở CÁC HIỆU THUỐC. CŨNG có cả những pommát bôi trước vào da để chồng loài bọ cỏ.

BỊ NHỆN ÐỐT

– Vết chích của nhện thường làm da phồng lên, đỏ và nhức. Ðôi khi gây chóng mặt, sốt nhưng không nguy hiểm. Chỉ cần rửa sạch chỗ bị chích và chườm nước đá. NẾU CẦN, UỐNG ASPIRIN THEO CHỈ ÐỊNH CỦA BÁC SĨ.

BỊ MUỖI ÐỐT

– Nếu bị nhiều muỗi đốt, các cháu nhỏ cựa quậy, gãi và có thể tự làm nhiễm trùng da, gây sốt. Nên rửa những nết muỗi đốt bằng xà phòng có tính a xít hay nước giấm loãng. Bôi cho các cháu các dung dịch chống ngứa bán ở HIỆU THUỐC. ĐỂ CHỐNG MUỖI, CÓ THỂ dùng các loại tinh dầu chanh hoặc cỏ roi ngựa, bôi lên những chỗ da không có quần áo che.

RUỒI TRÂU

– CÓ LOẠI RUỒI LỚN – RUỒI TRÂU – CŨNG ÐỐT và hút máu người. Vết đốt gây đau nhức, cần được lau rửa bằng nước giấm. Nếu các cháu bé đau nhiều, cho cháu uống aspirin để giảm đau, theo chỉ định của bác sĩ.

176. Bị bọ ve đốt.

NHỮNG LOÀI BỌ, VE Ở CHÓ, Ở TRONG cỏ, bụi rậm có thể gây cho người một số bệnh, nhất là vào mùa hè chúng ta HAY ÐI CHÂN ÐẤT TRÊN CỎ, VÀO CÁC BỤI CÂY. Có nhiều bệnh sốt do loài bọ gây ra. Cơn sốt kéo dài kèm theo hiện tượng mẩn đỏ khắp người. Ðôi khi có cả những mảng da mầu đen. Người ta thường dùng thuốc kháng sinh để chữa trị.

Loài bọ, ve cũng có thể gây ra bệnh Lyme, một thứ bệnh có những biểu hiện mẩn đỏ, liệt mặt và đau các khớp. Ðể chữa trị, cũng dùng thuốc kháng sinh.

177. Bị súc vật cắn

VẾT CẮN CỦA CHÓ, MÈO

– Cần phải rửa sạch vết cắn bằng thuốc sát trùng rồi cho cháu tới bác sĩ để uống thuốc kháng sinh hoặc nếu cần, phải tiêm thuốc đề phòng bệnh dại.

Phải đưa con chó đã cắn người tới sở thú y để kiểm tra VÀ THEO DÕI XEM NÓ CÓ BỊ BỆNH DẠI KHÔNG.

VẾT RẮN CẮN

– Chỉ có loài rắn độc mới nguy hiểm. Thường, rắn hay cắn vào tay vào chân người. Mới đầu, vết cắn không gây đau nhiều và dễ nhận thấy 2 vết răng cách nhau 6-8mm. Chung quanh vết cắn thường có một vùng tụ máu dưới da. Mầu của điểm này biến đổi dần từ đỏ sang tím xanh. Vết cắn càng lúc càng đau, tay hoặc chân bị phù to dần, trở thành trắng nhợt với nhiều điểm tụ máu.

Những phản ứng của cơ thể mỗi người, mỗi khác: rối loạn tiêu hóa, đau bụng, nôn ói, sốt hoặc lạnh toàn thân, nhịp tim tăng nhanh tới mức trầm trọng, toàn người bị “sốc”.

Những việc trước đây người ta thường làm như chườm lạnh vào vết thương, hút nọc độc ra, buộc ga rô thì ngày nay không còn được khuyến khích nữa.

Việc tiêm thuốc chống nọc độc cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau vì thường cơ thể cũng không chịu đựng được thuốc. Tốt nhất là làm các việc sau: Rửa sạch vết thương và đưa gấp nạn nhân tới bệnh viện để tiêm thuốc chống uốn ván.

Bác sĩ sẽ quyết định cần phải làm gì tiếp theo.

178. Bị ngã xuống nước.

Khi vớt cháu bé bị ngã xuống nước lên, nếu cháu không còn thở thì chưa nên cố gắng làm cho nước ra khỏi phổi mà phải làm ngay động tác cấp cứu hà hơi thổi ngạt đã. Nếu kịp thời, cháu có thể thở lại ngay nên đưa ngay cháu tới bệnh viện.

Nếu tim cháu ngừng đập, thì trong khi một người thực hiện hô hấp nhân tạo, một người khác thực hiện cách xoa bóp tim ngoài lồng ngực. Trong trường hợp không có người phụ giúp, phải vừa làm hô hấp nhân tạo, vừa ấn tay theo nhịp thở lên xương ức, mỗi khi ta hà hơi vào miệng cháu.

Trong thời gian đó, nhờ người đi báo bác sĩ, hoặc gọi tổ cấp cứu người thường trực bên bãi biển v..v..

Ðể các cháu sau này chóng biết bơi, nên cho các cháu bé làm quen với nước từ nhỏ nhưng không được rời mắt khỏi Bé, dù chỉ cho Bé TẮM TRONG CHẬU TẮM Ở NHÀ.

Khi cho cháu bé vào nước, phải cho từ từ nhất là sau khi vừa cho cháu phơi nắng.

179. Chứng ngất khi xuống nước

Có nhiều người – cả người lớn lẫn trẻ em vừa xuống nước hồ; ao, biển để tắm, bỗng ngất xỉu và bị chìm hoặc nước cuốn đi luôn. Nếu không được vớt ngay thì rất nguy tới. tính mạng. Nguyên nhân của hiện tượng này chưa được xác định nhưng người ta cho rằng đó là do cơ thể những người đó không chịu được sự thay đổi nhiệt độ giữa không khí và nước.

Bởi vậy, chúng ta không nên tắm nắng lâu quá trước khi xuống nước. Và, khi xuống nước, nên xuống từ từ để khỏi gây những cảm giác đột ngột về nhiệt độ, nhất là đối với trẻ em.

180. Bị điện giật.

Nếu cháu bé cho tay vào chốt điện và không rút được tay ra, không được kéo cháu ra mà phải đi ngắt cầu dao điện.

Nếu cháu đụng vào một dây điện, phải gạt dây ra bằng một cái gậy gỗ hoặc một vật cách điện.

Nếu cháu bé không còn thở nữa, phải thực hiện ngay phương pháp hô hấp nhân tạo và gọi cấp cứu.

181. Vết cào.

NHIỀU CHÁU BÉ CÓ NHỮNG VẾT CÀO Ở mặt do chính những bàn tay xinh xắn của mình tạo nên. ÐÓ LÀ NHỮNG ÐỘNG TÁC TỰ NHIÊN NHẰM THĂM thú và tìm hiểu xem cơ thể của mình thế nào. Ðể tránh những vệt xước như vậy, bạn có thể cắt móng tay cho Bé (lúc Bé ngủ dễ cắt hơn). Vết xước do móng tay Bé tạo ra là những vết xước lành không có gì nguy hiểm, sẽ tự khỏi và mất dấu vết trong một vài ngày.

182. Vết mèo cào.

Những vết xước do mèo cào có thể thành bệnh do một loại vi trùng hoặc vi rút gây ra. Thời gian nung bệnh từ 10 tới 30 ngày. Vùng bị cào sẽ nổi hạch, CÓ THỂ CÓ MỦ. THÍ DỤ, NẾU BÉ BỊ CÀO Ở CÁNH TAY, HẠCH SẼ NỔI LÊN Ở nách. Hạch nổi lâu từ một tới ba tháng. Nếu cho Bé uống thuốc kháng sinh từ sớm, có thể ngăn được trạng thái hạch có mủ. Bằng không, sẽ phải chích hạch cho Bé.

NHỮNG HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHOẺ

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

VIII. NHỮNG HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHOẺ

129. Những cơn khó chịu của trẻ em.

Ngày nay, người ta hay gộp chung một cụm từ ít nhiều mơ hồ “những cơn khó chịu của trẻ em”. Những hiện tượng rối loạn xảy ra đột ngột như: tím tái đột ngột ngừng thở, chân tay mềm nhũn, ngất đi hoặc lên cơn co giật.

Những hiện tượng trên xảy ra trong một thời gian ngắn – vài phút hay vài giày – và sẽ qua đi khi cháu bé được săn sóc (lay người, vuốt ngực, tay, chân…) nhưng rồi lại bị trở lại, và có thể để lại các di chứng.

Nguyên nhân thì nhiều như: bị rối loạn tiêu hóa, tim mạch hô hấp hoặc bị nghẹn thở.

Bác sĩ phải tìm được nguyên nhân mới đề ra được các phương pháp chữa trị hữu hiệu, hoặc các phương pháp phòng bệnh.

130. Tiếng khóc của Bé.

Khi Bé chưa biết nói thì tiếng khóc của Bé là phương tiện thông tin với người lớn về trạng thái của mình, đang khó chịu hay dễ chịu, đang cần gì, muốn gì, đang đau hay sợ…

Do đó, người lớn cần hiểu tiếng khóc của Bé muốn diễn ÐẠT ÐIỀU GÌ?

BÉ ÐÓI : khóc to, lâu.

BÉ ÐAU: khóc ré lên, to nhỏ tùy theo BI ÐAU ÍT HAY NHIỀU.

BÉ ÐAU RÂM RAN, KHÓ CHỊU : TIẾNG KHÓC ÐỀU ÐỀU, RẶN RA, dai dẳng.

BÉ QUẤY, LÀM NŨNG : khóc nức nở.

Các bà mẹ là những người dễ thông hiểu tiếng khóc của con nhất và còn chú ý cả tới những nét mặt, động tác tay chân, cách nằm, quẫy, nhịp thở v.v…. của Bé nữa. Thí dụ Bé khóc đúng giờ vào mỗi buổi chiều là cần đi ị. Bất chợt ré lên hay rên khẽ: Bé bị đau tai hoặc đau bụng.

131. Cơn khóc.

Trẻ em thường có những cơn gào, cơn khóc, đến nỗi mặt xanh đi vì phải nhịn thở. Có cháu có thể ngất đi một lát. Tuy các hiện tượng này dễ gây xúc động cho người lớn, nhưng không có gì nguy hiểm.

Các cháu có tính hay hờn, dỗi thường có những cơn như thế. Các bác sĩ có thể khuyên bạn cách chữa là: làm thế nào cho các cháu không tin vào kết quả của việc lấy tiếng khóc làm vũ khí để yêu sách người lớn nữa.

132. Mệt.

Mấy tuần nay, sắc mặt của con bạn có vẻ tái nhợt, mắt thâm quầng, nét mệt mỏi. Cháu không chịu chơi, ngậm ngón tay và không chịu ăn. Cháu chỉ muốn nằm dù thân nhiệt không cao, không sốt.

Sự mệt mỏi của cháu có thể là do sự phát triển của cơ thể hoặc vì bị mất ngủ trong những ngày vừa qua do đi ngủ muộn, dậy sớm để tới trường, không ngủ được vì tiếng ồn của ra-đi-ô, ti-vi… Nhưng cũng rất có thể, đó là dấu hiệu của việc cháu “sắp bị bệnh”. Cần cho cháu tới bác sĩ để khám bệnh.

133. Mỏi nhức vì lớn.

Khi đứa trẻ bị đau lâu, đau đi đau lại thì cần phải đi khám bác sĩ. Vì ngoài hiện tượng nhức mỏi vì tuổi lớn, có thể có những nguyên nhân khác như nhức vì bị đau họng chẳng hạn. Khi bị đau vì một chứng bệnh nào đó, thường có các hiện tượng kèm theo như: thân nhiệt tăng, người mệt, sút cân, hay chảy máu cam. Chỗ đau sờ thấy nóng và bị tấy đỏ .

134. Ngủ không yên giấc.

Hiện tượng trẻ em ngủ không đẫy giấc hoặc khó ngủ thường xảy ra trong một thời gian ngắn và không nghiêm trọng. Tuy vậy, đôi khi cũng làm ảnh hưởng tới sức khỏe của các cháu và làm cho gia đình lo lắng, có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như mọc răng, viêm tai, viêm họng, khó thở. Nhiều khi lại do trẻ nóng quá, vì mặc quần áo bó sát mình, hoặc trẻ đái dầm hoặc phòng ngủ sáng quá hay ồn quá.

Ngoài những nguyên nhân trên, số còn lại là những nguyên NHÂN TÂM LÝ.

SỢ HÃI LÀM MẤT NGỦ

– Từ 1 tuổi trở đi, trẻ em thường khó ngủ hơn vì sợ bóng tối, sợ ngủ một mình. Trước khi ngủ, các cháu đòi có người lớn bên cạnh, được ngủ cùng một đồ chơi quen thuộc hoặc được nựng nịu, vuốt ve. Tất cả những sự việc này chứng tỏ cháu đã lớn hơn trước, vì cảm nhận được hiện trạng của mình đối với môi trường chung quanh.

Nếu những đòi hỏi của các cháu xảy ra một cách đột ngột và kéo dài, người lớn cần phải tìm hiểu nguyên nhân.

Có khi chỉ vì cháu không muốn phải nằm trong cái giường có chấn song chung quanh nứa. Hoặc vì cháu hay nằm mơ thấy những cảnh sợ hãi, do cứ đến tối là nghe thấy mẹ khóc sụt sùi vì chuyện bố cháu luôn phải vắng nhà. Một cháu bé khác, mỗi lần đi ngủ là một lần người lớn phải khó nhọc dỗ dành, ép buộc như đánh vật với cháu, nhưng không ai chú ý hiểu tâm lý của cháu, muốn đợi mẹ đi làm về – mẹ cháu làm y tá thường về muộn – và chỉ ngủ yên giấc khi thấy mẹ đã ở nhà. Biết được yêu cầu của các cháu, làm cho các cháu yên tâm sẽ mang lại cho các cháu giấc ngủ ngon.

XÚC ÐỘNG VÀ KÍCH THÍCH GÂY KHÓ NGỦ

– Có nhiều nguyên nhân làm cho các cháu nhỏ khó ngủ buổi tối. Có cháu khó NGỦ VÌ BAN NGÀY ÐÃ NGỦ MỘT GIẤC DÀI Ở NHÀ TRẺ. CÓ CHÁU có thói quen ngủ sớm, nhưng cả ngày bố mẹ vắng nhà, tới buổi tối mới gặp con, nên vui đùa nựng nịu cháu làm cháu quá giấc hoặc vì xúc động, vui mừng quá trước khi ngủ, cũng làm cho cháu khó đi vào giấc ngủ.

Trước giờ ngủ, không nên làm các cháu bị kích thích như cho các cháu tập đi, tập nói, hoặc đòi hỏi quá ở các cháu về những vấn đề sạch sẽ.

Các cháu nhỏ, chưa thích ứng với thời gian làm việc quá DÀI. NẾU CÁC CHÁU PHẢI HỌC QUÁ MỆT Ở TRƯỜNG, ÐẾN TỐI CHÁU CŨNG BỊ KHÓ NGỦ.

DẬY SỚM

– Có nhiều cháu bé có thói quen dậy sớm. Ðể các cháu khỏi quấy trong thời gian chờ bữa ăn sáng nên nghĩ ra việc gì để các cháu làm hoặc giải trí. Khi cháu đi ngủ buổi tối, ÐỂ MỘT SỐ ÐỒ CHƠI Ở BÊN cạnh các cháu. Khi thức dậy, cháu sẽ chơi một mình ngay ở TRONG GIƯỜNG. NẾU CHÁU DẬY SỚM QUÁ, nên cắt bớt các giấc ngủ ban ngày hoặc cho các cháu đi ngủ chậm vào buổi tối.

Những cháu bắt buộc phải dậy sớm cùng bố mẹ – để bố mẹ đưa tới nhà trẻ khi đi làm cần phải được cho ngủ sớm, để đảm bảo thời GIAN NGỦ, NẾU KHÔNG SẼ BỊ ẢNH HƯỚNG TỚI SỨC KHỎE.

NHỮNG LIỀU THUỐC NGỦ

– Như đã nói Ở PHẦN TRÊN, CÁC CHÁU BÉ khó ngủ, khóc đêm làm người lớn vừa lo lắng, vừa mất ngủ lây làm căng thẳng thần kinh của cả nhà. Nhưng nếu biết lo cách đối phó trước, thì nhiều khi rất đơn giản: một bình sữa ấm sửa soạn từ lúc tối, hoặc nhiều khi chỉ cần một ít nước ấm trong bình thôi cũng đủ làm các cháu lại yên trí ngủ tiếp.

Tóm lại, để chữa bệnh khó ngủ cho các cháu, phần lớn trường hợp không cần dùng thuốc. Cần tìm hiểu nguyên nhân và đáp ứng các yêu cầu tâm lý của các cháu là đủ. Bởi vậy, nhiều khi bố mẹ các cháu cần nhờ tới sự giúp đỡ của các bác sĩ chuyên khoa tâm lý về vấn đề này.

135. Run, giật mình.

Các trẻ sơ sinh dễ bị giật mình: co tay chân, run cằm, run người… vì những lý do bình thường (tiếng động, ánh sáng). Trong khi tắm hoặc khi thay tã lót cũng vậy. Hiện tượng này là thường vì hệ thần kinh của cháu còn non mà thôi.

Các cháu lớn hơn, cũng hay giật mình hoặc run người mỗi khi có sự việc gì làm các cháu cảm động.

138. Sốt – Cách hạ sốt.

Chúng ta xác định là cháu bé bị sốt khi nhiệt độ lấy ở hậu môn của cháu cao hơn 37,5oC. Thân nhiệt bình thường của mọi người buổi sáng là 36,5oC và buổi chiều là 37,5oC. Tuy vậy, nếu ta lấy thân nhiệt của một cháu bé đang hoạt động, chạy nhảy, chơi đùa mà không để cho cháu có thời gian nghỉ ngơi thì thân nhiệt của cháu CÓ THỂ LÀ 38OC.

SỐT LÀ GÌ?

Sốt là dấu hiệu của cơ thể đang chống lại một cuộc xâm nhập nào đó từ bên ngoài vào của vi trùng HAY VI RÚT. NHƯNG KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG VẬY. Ở các cháu sơ sinh có thể bị sốt vì ăn sữa đặc quá, vì sưởi nóng quá, vì cơ thể bị mất nước mà không được uống đủ để bù lại, vì PHÒNG NGỦ HAY THỜI TIẾT KHÔ QUÁ V.V…

NÊN LẤY NHIỆT ÐỘ CHO CÁC CHÁU VÀO lÚC NÀO?

Sốt là dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Khi thấy một đứa trẻ không chịu ăn, bàn tay nóng thì việc đầu tiên cần làm là lấy thân nhiệt, (cặp sốt) cho các cháu. Nói chung, khi các cháu có dấu hiệu gì không bình thường, nên cặp sốt để biết thân nhiệt của cháu, nhưng cũng không nên lúc nào cũng cặp sốt và đâm ra lo lắng không đâu vì việc này.

KHI NÀO CẦN ÐƯA CHÁU BÉ TỚI BÁC SĨ?

1 Nếu cháu sốt trên 37,5oC, và mới dưới 6 tháng tuổi.

2. Khi thân nhiệt của cháu từ 39oC trở lên (đối với các cháu lớn).

3. Nếu nhiệt độ của cháu 37oC lúc sáng, 38oC lúc chiều nhưng cứ sốt nhẹ như thế liền 4, 5 ngày rồi.

4. Trong thời gian cháu đang bị bệnh, bỗng thân nhiệt tăng lên. Như vậy là có thể có biến chứng.

5. Bác sĩ đã tới thăm và cho uống thuốc. Nhưng 2, 3 ngày qua rồi mà bệnh vẫn không thuyên giảm.

Tuy vậy, người lớn nên giữ bình tĩnh. Việc chữa trị cần có THỜI GIAN.

CẦN CHÚ Ý TỚI CÁC BIỂU HIỆN GÌ, TRƯỚC KHI ÐƯA CHÁU TỚI BÁC SĨ?

Người săn sóc cháu bé nên chú ý quan sát các biểu hiện bệnh của cháu, để trả lời bác sĩ về những câu hỏi sau:

– Cháu có nôn không? Có ho không?

– Người cháu có nổi lên vết gì không?

– Họng cháu thế nào?

– Lưỡi cháu thế nào?

– Phân cháu có gì khác thường không?

– CHÁU CÓ CHỊU ĂN KHÔNG?

CÓ GÌ LẠ NẾU THÂN NHIỆT CHÁU TĂNG NHANH?

Thân nhiệt của trẻ em dễ tăng nhanh hơn và cao hơn so với người lớn. Bởi vậy không nên vội lo lắng.

Một cháu bé sốt 38oC liền mấy hôm rồi đáng lo hơn là một cháu khác 40oC vì họng đỏ. Có một số cháu dễ có nhiệt ÐỘ CAO HƠN NHỮNG CHÁU KHÁC KHI BỊ SỐT.

CÓ CẦN LÀM CHO NHIỆT ÐỘ CỦA CHÁU BÉ HẠ XUỐNG NGAY KHÔNG?

Nhiều bà mẹ thấy thân nhiệt của con cao, muốn làm sao cho thân nhiệt của cháu hạ xuống ngay vì nghĩ rằng thân nhiệt cao là bệnh, làm cho thân nhiệt xuống là giảm bệnh hay hết bệnh. Thật là một nhận thức sai lầm, nguy hiểm.

Quả thật, sốt gây mệt. Các cháu bé dưới 2 tuổi, sốt cao có thể gây co giật. Tuy vậy, thân nhiệt là cái thước đo tình hình bệnh để báo cho bác sĩ biết. Người ta có thể dùng thuốc để làm hạ nhiệt độ xuống, nhưng bệnh vẫn chưa khỏi.

Bởi vậy, trong thời gian điều trị bệnh cho một cháu bé, dù thân nhiệt của cháu đã xuống, cháu đỡ sốt hay không sốt nữa, ta vẫn phải tiếp tục chú ý theo dõi cẩn thận vì cháu có thể vẫn chưa khỏi bệnh. Nên NHỚ: KHỎI SỐT CHƯA PHẢI LÀ KHỎI BỆNH.

LÀM THẾ NÀO ÐỂ HẠ NHIỆT ÐỘ?

Người ta thường dùng thuốc hạ nhiệt như aspirin và paracetamol và các phương pháp khác như tắm, chườm lạnh, nước đá.

SAU KHI RA VIỆN RỒI, KHÔNG CẦN ÐO NHIỆT ÐỘ NỮA

Khi bác sĩ đã nó : “Cháu bé đã khỏi, có thể ra viện rồi!” các bà mẹ không cần phải tiếp tục đo nhiệt độ cho cháu nữa. Nếu cháu có nhiệt độ 37,2oC buổi sáng thì cũng không có gì đáng lo ngại vì điều cốt yếu là: cháu có chịu chơi và chịu ăn không?

THÂN NHIỆT THẤP QUÁ

Sau khi khỏi bệnh, có khi thân nhiệt của cháu bé ở 36OC TRONG 3, 4 HÔM LIỀN THÌ cũng không có gì đáng lo ngại trừ trường hợp với các trẻ sơ sinh.

THÂN NHIỆT ÐẢO NGƯỢC BẤT THƯỜNG

Một số trẻ sơ sinh có 37,7oC buổi sáng và 37oC BUỔI CHIỀU CÓ THỂ LÀ DO NGUYÊN NHÂN VỀ TAI-MŨI-HỌNG , cần phải chú ý sau này.

137. Mơ hoảng ban đêm.

Giữa đêm, đứa trẻ bỗng thức dậy, hốt hoảng. Cháu ngồi lên, sợ hãi nhìn xung quanh và cũng không biết tại sao mình phát hoảng như thế, tuy chỉ nhớ lơ mơ về những gì mình vừa thấy trong giấc mơ. Sau đó, cháu lại yên tâm nằm xuống, ngủ tiếp.

Ðôi khi cháu kêu lên, vẻ sợ hãi lúc thức dậy, bước xuống KHỎI GIƯỜNG ÐỂ TỚI NÉP MÌNH TRỐN Ở góc nhà. Nếu người lớn tới, cháu sẽ bám vào chân cho đỡ sợ, tuy 2 mắt vắn nhắm nghiền và không biết mình đang ôm chân ai. Cháu nói lắp bắp chỉ vào bóng tối hay khoảng không, nơi có một hình ảnh nào đó cháu vừa tưởng tượng mình đã nhìn thấy.

Trong trường hợp như vậy, người lớn nên giữ im lặng, không cần đánh thức cháu dậy. Chỉ một lát sau, cháu sẽ bình tĩnh và đi ngủ trở lại. Buổi sáng khi thức giấc, cháu đã quên hết tất cả mọi việc đã xảy ra ÐÊM QUA.

NGƯỜI LỚN NÊN LÀM GÌ?

Nếu cháu thức dậy, nên lại ngồi gần, cầm tay cháu và hỏi cháu bằng giọng bình tĩnh. Nếu cháu muốn kể về nội dung giấc mơ, hãy để cho cháu kể hết. Nếu cháu muốn bật đèn, nên hé cửa để đèn nơi khác chiếu vào phòng, hoặc bật ngọn đèn đêm. Không cần ánh sáng chói.

KHÔNG NÊN

– Không nên la mắng hoặc chế giễu, cho cháu là nhút nhát, làm cháu càng sợ hơn.

– Không nên vì thế mà đưa cháu sang ngủ chung với người lớn. Làm như vậy, cháu bé sẽ quen và thấy ngại ngủ một mình.

HÃY TÌM NGUYÊN NHÂN NHỮNG GIẤC MƠ

– TRẺ EM Ở ÐỘ TUỔI TỪ 2 ÐẾN 5 tuổi thường có những giấc mơ ngắn. Những giấc mơ đó có tác dụng làm thần kinh các cháu thư giãn, làm mờ đi trong trí óc bao nhiêu hình ảnh và hoạt động cháu đã nhìn thấy xung quanh trong cả một ngày. Nhưng nếu cháu mê sảng luôn và có vẻ sợ buổi tối thì phải tìm nguyên nhân. Nhiều khi, nguyên nhân rất bình thường như: giường chật quá, bộ quần áo cháu mặc khi đi ngủ bó sát vào người quá, hoặc cháu bị nóng, bị tức ngực vì đắp quá nhiều chăn. Có khi lại là bữa cơm chiều ăn quá no hay vừa coi một chuyện đáng sợ trên tivi. Ðôi khi, cháu phải mang theo một nỗi lo sợ vào giường ngủ vì bố mẹ đã ra lệnh: “Cấm được đái dầm?”. Cháu sợ khi thức dậy, bị anh chị em chế diễu v.v…

Nếu bạn đã chú ý tránh gâcho cháu mọi điều xúc động hoặc ảnh hưởng như trên mà cháu vẫn tiếp tục mê hoảng và sợ buổi tối, thì nên nói với bác sĩ để chữa trị cho cháu bằng phương pháp tâm lý.

Người lớn nên hiểu theo các trẻ nhỏ về buổi tối như sau: buổi tối phải xa cách mọi người – nếu cháu ngủ một mình – buổi tối đáng sợ hãi, mọi vật sẽ biến đi vì không trông thấy, kể cả nét mặt thân yêu của bố mẹ sẵn sàng bảo vệ cháu lúc ban ngày. Dùng thuốc không chữa trị được tận gốc hiện tượng mơ hoảng của trẻ em. Cần có sự săn sóc và tình cảm của các người thân cùng sự cộng tác của các chuyên gia tâm lý.

138. Toát mồ hôi.

Toát mồ hôi là một biện pháp quan trọng của cơ thể để chống lại nhiệt độ.

Trước khi than thở: “Con tôi hay đổ mồ hôi nhiều quá! các bà mẹ nên tìm nguyên nhân nào đã làm Bé như vậy. Vì đã đắp nhiều chăn mền cho cháu quá: việc làm này có hai điểm không có lợi. Một là: mồ hôi ra nhiều, cháu bé dễ bị cảm vì đi từ trạng thái bị nóng sang bị lạnh.

Hai là: đắp nhiều chăn, mặc nhiều áo làm cho cơ thể Bé không quen chống chọi với cái lạnh, sẽ trở nên yếu ớt hơn những đứa bé khác.

Cũng có những đứa trẻ hay toát mồ hôi nhiều hơn những trẻ KHÁC. ĐẤY LÀ ÐẶC TÍNH CỦA CHÁU MÀ THÔI.

NÊN LÀM GÌ KHI BÉ SỐT VÀ TOÁT MỒ HÔI

1. ĐÓ LÀ chuyện thường, không có gì đáng lo ngại.

2. Thay quần áo, tã lót và lau khô cho Bé để Bé khỏi bị lạnh.

3. Cho Bé uống nước. Việc này rất quan trọng vì cơ thể Bé bị thiếu nước. Cho cháu bé sơ sinh bú bình nước. Nếu cháu lớn hơn, có thể cho uống nước trái cáy.

4. Xem có phải vì cháu mặc nhiều quần áo hay đắp nhiều mền quá không?

5. Xem có phải vì phòng nóng quá không?

139. Nghiến răng.

Trong khi ngủ, một số trẻ em nghiên răng kèn kẹt. Hiện tượng này cũng không có gì quan trọng, nhưng nếu xảy ra thường xuyên thì có thể do vì một số nguyên nhân tâm lý mà người lớn cần phải tìm hiểu như: Bé CÓ GHEN TỊ VỚI ANH CHỊ EM NÀO KHÔNG? CÓ CẢM THẤY BỊ BỎ RƠI KHÔNG? CÓ bị căng thẳng, lo sợ vì một sự việc gì không?

Nếu tìm thấy nguyên nhân và tăng cường thêm sự âu yếm đặc biệt đối với Bé, chứng nghiến răng sẽ không còn nữa.

140. Chứng co giật khi sốt.

TRẺ EM Ở ÐỘ tuổi từ 6 tháng tới 2 năm, hay bị sốt và co giật vì sốt cao, khi các cháu bị viêm họng, viêm tai, viêm phổi những chứng bệnh các cháu thường mắc phải.

HIỆN TƯỢNG CO GIẬT THƯỜNG XẢY RA Ở độ tuổi này vì hệ thống thần kinh của các cháu còn non yếu. Trong thời gian bị sốt, cứ mỗi lần thân nhiệt lên cao đột ngột là CÁC CHÁU LẠI BỊ CO GIẬT.

TRIỆU CHỨNG CỦA CO GIẬT

– Trước khi có hiện tượng co giật mặt cháu bé tái đi, mê man, cứng người lại mắt trợn ngược. Mấy giây sau, hiện tượng co giật xuất hiện ở mặt, ở CHÂN, TAY TRONG MỘT VÀI PHÚT RỒI THÔI. Cháu bé thở mạnh, người lả đi. Từ trạng thái mê man, không tỉnh cháu đi vào một giấc ngủ mê mệt.

Trong các trường hợp nhẹ , người ta khó nhận thấy các cơn co giật vì cháu bé chỉ cứng người hoặc giật chân tay, mặt tái trong một thời gian ngắn. Thay vào hiện tượng mê man, có lúc cháu bé như không nghe, không nhìn, không cảm thấy mọi vật chung quanh. Chỉ có đôi mắt bị trợn ngược là triệu chứng rõ nhất.

Trong lúc bác sĩ chưa có mặt, cần phải làm những việc sau để nhiệt độ của cháu bé hạ xuống:

– Cởi khuy áo hoặc bỏ bớt quần áo;

– Tắm cho cháu bằng nước có nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt của cháu 2oC trong 10 phút; có thể tắm nhiều lần như vậy;

– Chườm nước mát hay nước đá;

– CÓ THỂ dùng các loại thuốc hạ nhiệt như aspirin, paracétamol.

Bác sĩ sẽ tiếp tục điều trị bằng các loại thuốc khác để chấm dứt các cơn co giật và ngăn ngừa không xảy ra nữa.

SAU CƠN CO GIẬT

– Bác sĩ thường yêu cầu bố mẹ các cháu đưa cháu đi bệnh viện để làm một số xét nghiệm, sau khi cháu đã qua cơn. Vì, hiện tượng co giật rất có thể liên quan tới tổn THƯƠNG Ở MÀNG ÓC.

Hơn nữa, cần phải có phương pháp đề phòng tránh cho cháu bị lại. Nếu cháu bé lại sốt ngoài các biện pháp áp dụng ở PHẦN TRÊN, BÁC SĨ CÓ THỂ CHO CHÁU uống thuốc chống co giật Valium. Thuốc giọt uống làm nhiều đợt.

VÌ HIỆN TƯỢNG SỐT CAO KÈM CO GIẬT Ở nhiều trẻ thường xảy ra bất chợt, nhiều lần lặp đi lặp lại nên có trường hợp, bác sĩ yêu cầu cho trẻ uống thuốc đề phòng liên tục cho tới khi cháu 4 – 5 tuổi. Nhất là đối với các cháu hay có các cơn kéo dài hoặc bác sĩ đã phát hiện thấy trong gia đình Bé có người mắc chứng động kinh.

Cảnh cháu bé bi sốt co giật thường gây ấn tượng mạnh cho các người thân săn sóc cháu. Tuy vậy, khi cơn đã qua đi thì cháu lại trở lại trạng thái bình thường.

141. Co giật mà không sốt.

Nếu cháu bé không sốt cao mà cũng bị co giật thì có thể là do có các hiện tượng sinh học bất thường trong cơ thể như: lượng đường hoặc lượng Canxi trong người bị sụt một cách bất thường, hoặc cháu bị tổn thương trong não. Nếu không vì có các nguyên nhân trên thì phải nghĩ đến chứng động kinh.

142. CHỨNG CO GIẬT Ở trẻ sơ sinh.

Các trẻ sơ sinh bị những cơn co giật hoặc tay chân co cứng lại là do cơ thể bị thiếu chất Canxi . Cơ thể các cháu nhỏ cần có các tia nắng hoặc ánh sáng mặt trời để hấp thụ chất Canxi.

Chứng bệnh này thường kèm theo bệnh còi xương. Ðể chữa trị, bác sĩ thường cho các cháu uống các thuốc trong thành phần có vitamm D và canxi .

143. Cơn co giật.

Chứng này có đặc điểm là tiếp theo một cơn co giật là hiện tượng chân, tay, đầu cháu bé gập và co rúm lại về phía trước hoặc duỗi ra và ưỡn ngửa về phía sau. Nguyên nhân của chứng này hiện vẫn chưa được biết rõ trừ một vài trường hợp do dị tật bẩm sinh của hệ thần kinh.

Chứng này thường kèm theo hiện tượng ngưng phát triển tâm lý và vận động. Khi cháu bé lên cơn, cần phải nhờ tới sự giúp đỡ của bác sĩ ngay.

144. Chứng động kinh.

Ðộng kinh là một chứng bệnh gây co giật cơ thể, không phải vì sốt cao, cũng không phải vì cơ thể mất thăng bằng về mặt sinh học như thiếu glucô hay Canxi trong máu.

Người ta thường dùng bộ quét (scanner) để dò tìm xem có PHẢI DO TỔN THƯƠNG Ở NÃO không. Nếu cũng không tìm thấy nguyên nhân thì chỉ còn lại một lý do: bệnh GIA TRUYỀN.

Ở trẻ em, hiện tượng bị động kinh có nhiều mức: có cháu bỗng nhiên ngã vật xuống, cong người lên rồi co giật tay chân và các cơ mặt. Ðôi mắt vô hồn đờ đẫn, trợn ngược, mặt nhăn nhúm, thở khó khăn. Lát sau, cháu thở bình thường trở lại, các cơ bắp toàn thân đều thư giãn tới mức, có cháu tè dầm. Sau đó, cháu có thể thiếp đi trong giấc ngủ. Khi tỉnh dậy, cháu không hề biết gì về những sự việc vừa xảy ra với bản thân mình.

CÓ TRƯỜNG hợp các hiện tượng xảy ra không đầy đủ như trên, chỉ có hiện tượng cong cứng người hoặc ngược lại, người mềm rũ, cộng với vài sự co giật ở THÂN THỂ, MẮT LỜ ÐỜ. Hoặc Bé vẫn tỉnh táo, nhưng không nói được, cơ thể bị co GIẬT Ở MỘT VÀI NƠI KHI BÉ vừa thức dậy, hoặc đang trong giấc ngủ.

CÓ CÁC CHÁU nhỏ 5 – 6 tháng đã có các biểu hiện co giật như thế. Lại có các cháu từ 3 tuổi trở lên, có những lúc như bị hôn mê, không biết gì trong một vài giây.

Ðộng kinh là một chứng bệnh cần phải chữa trị lâu, mất nhiều công sức, nhưng ngày nay, không còn là một bệnh không thể chữa khỏi, hoặc phải chữa suốt đời. Người ta đã coi một số trường hợp như một loại bệnh nhẹ, tuy rằng, bệnh này vẫn cần tới sự săn sóc của các bác sĩ chuyên ngành.

Khi còn trong thời gian chữa trị, các cháu cần được theo dõi từng ngày. Nhưng nếu trong 3 năm liền mà cháu không lên cơn hoặc có một triệu chứng gì nữa thì có thể ngưng việc thuốc thang, điều trị. Chỉ cần chú ý tổ chức sinh hoạt cho có nề nếp, bảo đảm cho các cháu không bị mất ngủ. Các nhà tâm lý học cho rằng nên để các cháu tới trường như các đứa trẻ bình thường khác. Không nên lúc nào cũng quá chú ý tới các cháu vì chính làm như vậy sẽ làm cho tinh thần các cháu bị căng thẳng hơn.

Các cháu bị chứng động kinh vắn có thể tham gia các hoạt động thể dục thể thao, kể cả bơi lội, nhưng phải có người canh chừng.

Ðiều cốt yếu trong việc chăm sóc các cháu bị chứng bệnh này là giúp đỡ các cháu phát triển bình thường về mặt tinh thần cũng như về thể chất.

145. Bé ăn ngon miệng, ăn được. Tại sao?

Nhiều bà mẹ chỉ mong mỏi sao cho con ăn ngon miệng, ăn được. Vấn đề này rất rộng và nên chuyển thành vấn đề: “Nuôi sao cho con khỏe thì hơn. Bởi vì nhiều cháu có tính khó ăn, ăn ít nhưng sức khỏe vẫn tốt. Thế là được rồi. Vấn đề Bé không chịu ăn đã được nói tới ở PHẦN TRÊN, PHẦN NHIỀU DO NGUYÊN NHÂN TÂM LÝ.

Ở phần này, chúng ta chỉ chú ý tới : “Tại sao cháu ăn khỏe thế ?”. Ðối với các cháu nhỏ, việc cháu ăn được nhiều không đáng mừng và cũng không đáng lo. Vì nếu dòng dõi cháu có những người to béo thì cháu cũng có xu hướng ăn nhiều để thành to béo và mai sau, có thể thành một người bụng phệ! Ðiều này cũng chẳng hay gì!

Nhưng nếu cháu ăn nhiều mà tạng người vẫn bình thường hay ốm yếu thì nên nghĩ ngay tới việc chữa trị cho cháu bệnh giun hoặc sán và có thể cả bệnh tiểu đường nữa.

146. Bé không chịu ăn.

Hiện tượng trẻ em không có bệnh tật gì mà biếng ăn, hay không chịu ăn phần lớn do nguyên nhân tâm lý chứ không phải Bé bị bệnh. Ðối với các trẻ sơ sinh cũng vậy. Vấn đề này có liên quan tới một sự rối loạn nào đó trong quan hệ giữa mẹ và con.

Trước hết, chúng ta không nên xếp vội các cháu sau đây vào loại biếng ăn:

– Các cháu có tính ăn thất thường, khi nhiều, khi ít một cách tự nhiên.

– Các cháu hay ăn vặt, lúc đến bữa, vẫn ăn nhưng ăn ít.

Trên thực tế, nếu cộng cả các lần ăn vặt vào bữa chính, thì các cháu ăn thế là đủ rồi.

Các cháu đáng được để ý săn sóc, có các hiện tượng sau :

– Bỗng nhiên bỏ ăn hay biếng ăn, có vẻ mệt, sốt, đau bụng v.v…;

– Các cháu từ 6 – 18 tháng tuổi bị đau họng; sau khi tiêm chủng; sắp mọc răng hay đang mọc răng;

– Các cháu vừa cai sữa mẹ.

Ngoài ra, các bà mẹ cũng nên để ý tới các nguyên nhân sau có ảnh hưởng tới việc ăn của các cháu, như: thay đổi loại sữa hoặc thức ăn mà các cháu không ưa, dùng thìa, muỗng để cho bé ăn to quá, cho ăn kiểu nhồi nhét làm Bé sợ, đang ăn lại lau miệng, làm vệ sinh làm cháu mất hứng thú.

Với các cháu đã biết nhận xét, việc thay đổi người cho ăn, cách đối xử với các cháu khi ăn như nựng nịu khuyến khích hay đe dọa, mắng cháu đều có ảnh hưởng, hoặc làm cho cháu chịu ăn hay bỏ ăn.

Các bà mẹ cũng không nên quá máy móc về giờ giấc. Cháu bé đang ngủ không nên đánh thức dậy để cho ăn hoặc buổi tối, nếu cháu khóc có thể cho cháu bú thêm một ít ngoài bữa chính. Nói chung,

KHÔNG NÊN :

– Bắt buộc cháu ăn, hoặc phải ăn hết;

– Không cần quá chính xác về thời gian của bữa ăn;

– Ðể các cháu ăn tự nhiên, trong khi ăn không quấy rầy các cháu về những săn sóc vệ sinh như lau miệng, lau mặt, lau tay.

NÊN :

– Ðể cho các cháu ăn tự nhiên, vì ham thích;

– Cho ăn ít hơn khả năng ăn của Bé một ít để nuôi dưỡng xu hướng thèm ăn, rồi dần dần tăng lên trong các bữa sau;

– NÊN CHO ĂN Ở chỗ tĩnh mịch, không có tiếng động hay nhiều người qua lại, làm các cháu không chăm chú tới việc ăn. Nếu các cháu vẫn lớn đều về chiều cao thì việc các cháu phát triển hơi chậm về số cân nặng cũng là chuyện bình thường.

Làm cho các cháu khỏi biếng ăn chủ yếu là vấn đề tâm lý, tìm cách khuyến khích cho các cháu ăn là tốt nhất. Các bác sĩ nếu được yêu cầu khám bệnh cho các cháu biếng ăn thường làm những công việc có tính cách “thủ tục” như : xét nghiệm máu để đo số hồng huyết cầu, thử phân để xem có bệnh đường tiêu hóa hay không, thử các phản ứng về bệnh lao v.v… ,

147. Không phát triển đủ khi mới sinh.

Một số cháu bé sinh ra thiêu cân (dưới 2.500g), và không đủ chiều cao. Sự kém phát triển này đã xảy ra khi đứa trẻ còn ở TRONG BỤNG MẸ. KHÁC VỚI TRẺ ÐẺ NON BỊ thiếu cân do sinh ra không đủ tháng, hiện tượng này có thể có nhiều nguyên nhân : trong thời gian mang thai mẹ bị bệnh hoặc bị ngộ độc vì dùng thuốc có nhiều độc tố, vì nghiện nặng thuốc lá v.v… Cũng có thể vì có sự bất THƯỜNG Ở NHAU THAI.

148. Thiếu cân.

Một số cháu bé không phát triển đầy đủ so với độ tuổi, đặc biệt là về trọng lượng. Nếu không phải vì nguyên nhân thiếu ăn thì phần lớn là vì Bé bị bệnh kéo dài như : viêm tai giữa, viêm đường tiết niệu…; tim, thận có chỗ bị dị dạng bẩm sinh, bị bệnh đường tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa, rối loạn về khả năng hấp thụ của ruột đối với một số thực phẩm…

149. Bé gầy hoặc càng ngày càng gầy.

Gầy không phải là bệnh. Nếu cháu có tạng gầy thì không phải lo. Nhưng, nếu cháu đang bình thường, bỗng bị gầy đi thì đó là một đấu hiệu cần chú ý.

Nếu cháu bé gầy, không lớn hoặc lớn chậm thì bố mẹ cháu cần suy nghĩ để trả lời 2 câu hỏi sau:

1. Thuở nhỏ (như bé) mình có gầy như thế không?

2. Tuy gầy như vậy, nhưng cháu có ăn được, ngủ được, có vẫn nô đùa vui vẻ như các trẻ khác không ?

Nếu câu trả lời là :

– CÓ: thì không có gì đáng lo ngại. Vì “tạng” người của cháu là như vậy, giống như tạng của bố mẹ.

– KHÔNG : thì có thể vì các nguyên nhân như: ăn chưa đủ chất, ăn không đúng giờ giấc, chế độ, ngủ không đẫy giấc, ăn, ngủ không đủ để bồi lại sức tiêu hao lúc Bé hoạt động.

Nếu Bé bị gầy một cách bất thường quá thì cũng nên nghĩ tới một số bệnh như bệnh tiểu đường chẳng hạn.

150. Tái mặt đột ngột.

Ðứa trẻ bỗng tái mặt đi rồi lại bình thường trở lại. TẠI SAO? CÓ ÐIỀU GÌ LÀM BÉ SỢ hoặc Bé bị lạnh chăng ?

Nếu thế phải sưởi ấm cho Bé ngay. Sắc mặt Bé sẽ hồng trở lại.

Có trường hợp Bé ho, ngạt mũi và được nhỏ thuốc vào lỗ mũi để làm co niêm mạc, cũng làm sắc mặt Bé tái đi trong chốc lát.

Còn những trường hợp như sau, cần phải hỏi bác sĩ:

KHÔNG RÕ LÝ DO GÌ, MẶT BÉ BỖNG TÁI ÐI VÀ BÉ BỊ NGẤT

– Phải gọi bác sĩ hoặc đưa Bé tới bệnh viện ngay. Vậy điều gì có thể đã xảy ra?

Bé có thể đã uống một thứ gì hoặc thuốc độc đối với BÉ, MÀ TA KHÔNG BIẾT (COI TRƯỜNG HỢP NGỘ Đ Ộ C). CHÂN TAY BÉ ÐÃ CÓ LÚC CO QUẮP LẠI MÀ TA CŨNG KHÔNG HAY.

NẾU BÉ TỈNH NHƯNG CÓ VẺ BỊ “CHOÁNG”, CHÂN TAY LẠNH, VẺ MẶT SỢ HÃI:

– Có thể Bé bị ngộ độc hoặc bị đau do một vết thương nào đó. Trong khi chưa có bác sĩ, hãy đặt Bé nằm thẳng trên giường, đầu hơi thấp hơn chân và sưởi ấm hoặc chườm nóng cho cháu, mỗi bên người một chai nước nóng để ngoài chăn và cẩn thận để không làm cháu bị bỏng.

Cũng có thể đây là dấu hiệu của sự xuất huyết nội: hiện tượng này có thể đã xảy ra trước đó hàng giờ hoặc trước nhiều ngày do MỘT VA CHẠM MẠNH LÀM THƯƠNG TỔN TỚI THẬN HOẶC LÁCH.

BÉ THƯỜNG BỊ TÁI MẶT LUÔN NHƯ THẾ –
RÕ RÀNG LÀ HIỆN TƯỢNG NÀY không phải do Bé bị xúc cảm mà do nguyên nhân phức tạp hơn. Cần phải cho Bé tới bác sĩ.

151. Chậm biết đi.

Biết đi là một giai đoạn quan trọng trong đời sống của một đứa trẻ, đánh dấu một sự phát triển tốt về các mặt cơ thể, tâm lý và tình cảm.

Những điều kiện cần phải có để cháu bé biết đi bao gồm: bộ xương đủ cứng cáp, các cơ bắp, hệ thống thần kinh và nhất là bộ não đã phát triển được bình thường tới mức nào đó do quá trình được nuôi dưỡng đầy đủ với thức ăn giàu về prôtêin và vitamin, sự săn sóc về mặt tâm lý và tình cảm cũng có vai trò quan trọng kích thích đứa bé cố gắng trong việc tập đi.

TRẺ EM THƯỜNG BẮT ÐẦU TẬP ÐI Ở độ tuổi từ 12 tới 14 tháng. Nhưng cũng tùy vào thể trạng từng cháu, mà thời gian này có thể xê dịch từ tháng thứ 10 tới 18. Nếu sau 20 tới 22 tháng tuổi mà cháu vẫn chưa biết đi, chúng ta mới nên lo rằng cháu chậm biết đi:

Việc chậm biết đi của trẻ em có thể do các cháu đã trải qua một thời gian bị ốm, dù chỉ là những căn bệnh ngắn ngày và không trầm trọng như viêm xoang, họng, đau tai v.v… Người cháu bé mập mạp quá cũng là một nguyên nhân làm cháu bé biết đi chậm hơn các cháu khác một vài tuần hoặc một vài tháng. Nhiều cháu ham thích bò hay lết nên cũng quên lãng việc tập đi.

Các cháu chưa biết đi sau tháng thứ 18 cần được chú ý: CHÁU CÓ BỊ DỊ TẬT Ở ÐOẠN xương chân nào không, nhất là đoạn khớp với xương hông. Ngoài ra cũng phải chú ý tới hệ cơ bắp bị chứng teo cơ bắp chân hoặc một số các bệnh về cơ bắp khác không. Ngoài ra, các bệnh về hệ thống thần kinh và cột sống mắc phải sau khi sinh, hoặc do bẩm sinh đều có ảnh hưởng tới khả năng giữ người được cân bằng hoặc làm chân bị liệt khiến đứa trẻ không đi được bình thường.

Nếu trí khôn cháu bé phát triển bình thường mà lại chậm biết đi thì cháu có thể bị thương tổn ở não ảnh hưởng tới việc điều khiển vẫn động của cơ thể. Nhiều phương pháp luyễn tập đặc biệt có thể áp dụng trong những trường hợp này để giúp các cháu vượt qua được những khó khăn khi tập đi.

Nếu những nguyên nhân trên đều không có mà cháu bé lại chậm biết đi thì nên tới vấn đề thiếu chất vitamin D trong các chất dinh dưỡng hoặc không được người lớn săn sóc đầy đủ và chú ý khuyến khích cháu bé tập đi khi đã tới độ tuổi.

152. Chậm biết nói.

Sau 3 năm tuổi mà cháu bé chưa bập bẹ nói được 2 âm khác nhau, thì bố mẹ phải chú ý:

Trước hết phải nhờ bác sĩ thử xem cháu bé có nghe được không. Rất có thể, cháu bị điếc nhẹ, bị thương tổn một phần tai thôi mà người lớn không biết.

Sau đó, phải kiểm tra xem cháu có bị tật gì không bằng cách quan sát các cử chỉ, động tác, ứng xử cua cháu bé khi cháu chơi đùa. Bác sĩ có thể có các cách thử theo phương pháp chuyên môn để kiểm tra về trạng thái tinh thần của cháu bé.

Hiện tượng Bé chậm biết nói còn có thể là biểu hiện sự phát triển chậm về nhận thức của Bé hoặc ảnh hưởng không có lợi của môi trường chung quanh đối với cháu.

Nếu tất cả nhưng nguyên nhân trên đều được loại bỏ thì chỉ còn lại các vấn đề như: cháu bé không được người lớn khuyến khích nói, sự chú ý săn sóc cháu chưa được đầy đủ v.v… Cháu cũng sẽ biết nói, nhưng cần phải chú ý luyện tập cho cháu để khỏi gặp khó khăn khi cháu đến tuổi tới trường.

153. Mất tiếng nói.

Hiện tượng mất tiếng nói khác hiện tượng chậm biết nói. Cháu bé vẫn phát triển trí khôn bình thường, nhưng bỗng nhiên cháu không chịu nói nữa. Hiện tượng này có khi chỉ là tâm lý xảy ra khi cháu bé ở NGOÀI GIA ÐÌNH, NHƯ Ở TRƯỜNG CHẲNG hạn. Cháu có đủ trí khôn, nhưng vì cảm động, nhút nhát nên không thể hiện được nhưng ý nghĩ của mình.

Khi cháu chế ngự được nhưng cảm xúc của mình thì cháu lại nói được: đó là hiện tượng “không nói được có điều kiện”.

Hiện tượng không chịu nói hoàn toàn xảy ra khi có một cú sốc tình cảm đột ngột. Cháu có thể bỏ cả ăn và không kiềm chế được việc tiểu tiện ra quần.

Vài ngày hoặc vài tuần sau sự kiện làm cháu bé xúc động đột ngột, cháu có thể lại nói được một cách chậm chạp.

Những yếu tố làm cháu bé không nói còn có thể do môi trường đã gây cho cháu thái độ thờ ơ, không quan tâm tới cuộc sống và mọi người chung quanh.

154. Nói lắp (cà lăm).

TẬT NÓI LẮP THƯỜNG GẶP Ở con trai từ 3 – 5 tuổi. Người ta cho rằng các cháu này nghĩ nhanh hơn nói, trong lúc chưa đủ từ vựng để diễn đạt ý nghĩ của mình. Hiện tượng các cháu vẫn duy trì tật nói lắp khi đã lớn, người ta chưa giải thích được có thể tính nhút nhát, dễ cảm động có ảnh hưởng rất nhiều tới tật này.

Người ta phân biệt 2 loại nói lắp: lắp đi lắp lại một TRỌNG ÂM TRONG CÂU HAY LẮP NGAY Ở âm đầu khi bắt đầu nói. Hoặc phối hợp cả 2 loại.

Một người nói lắp cũng biểu thị trạng thái tinh thần không bình thường, có thể có quan hệ căng thẳng với gia đình và những người xung quanh. Một cháu bé nói lắp thường có cử chỉ ngượng nghịu, lúng túng. Sợ BỊ TRÊU GHẸO, CHẾ GIỄU CŨNG LÀ MỘT nguyên nhân góp phần tạo ra tật nói lắp.

Ðể chữa bệnh nói lắp cho các cháu, nên nhờ các nhà giáo chuyên dạy về phát âm, đồng thời động viên các cháu về mặt tầm lý.

155. Khả năng phát âm hạn chế (Nói đớt).

Nhiều cháu bé phát âm không rõ hoặc không phát âm đúng MỘT SỐ ÂM NHƯ R, L, N. .. VÌ CÓ TẬT Ở LƯỠI HOẶC LƯỠI KHÔNG Ở ÐÚNG VỊ TRÍ. CÓ người lại cho nguyên nhân là tại răng.

Ngày nay, người ta cho rằng việc cháu bé chỉ có khả năng hạn chế về phát âm như thế, xảy ra trước khi có những hiện tượng bất thường về răng, và có thể tránh được hoặc chữa khỏi nếu cháu bé được luyện tập từ khi 4 – 5 tuổi về động tác uốn lưỡi.

l56. Tật sử dụng tay trái.

Nhiều trẻ em có thói quen đặc biệt, sử dụng tay trái nhiều hơn tay phải nên làm việc gì cũng thuận tay trái hơn, tuy rằng vẫn ngắm nhìn thuận mắt phải (nhắm mắt trái lại), hoặc đá bóng chân phải mạnh hơn chân trái. Ðể khuyến khích cháu bé sử dụng tay phải, người lớn nên để các đồ dùng hàng ngày bên tay phải của cháu như thìa ăn, bút viết v.v… Nhưng nếu cháu vẫn sử dụng bằng tay trái thì người lớn cần nhận xét xem cấu tạo cơ thể của cháu bé có điều gì thể hiện là thiên về bên trái không, như mắt trái tốt hơn, tay chân trái khỏe hơn… và bàn bạc với bác sĩ để cho cháu sử dụng bên tay trái là chính. Ngày nay, người ta không khắt khe với những cháu thuận tay trái, vì xét cho cùng, thế giới này không có định luật nào đặc biệt chỉ dành mọi thứ thuận lợi cho những người thuận tay phải. Một người cầm bút viết bằng tay trái chưa chắc sẽ vì thế mà gặp nhiều trắc trở trong cuộc sống.

Tuy vậy, nếu cháu bé đang sử dụng hai tay như nhau, thì các bà mẹ nên hướng cho cháu sử dụng cho quen bàn tay phải như đa số chúng ta.

157. Những động tác bất thường.

CÓ NHỮNG cháu bé hoàn toàn khỏe mạnh nhưng lại có những động tác bất thường như lắc lư đầu từ trái qua phải, hoặc gật đầu như người chào hàng giờ đồng hồ . Lại có những cháu có thói quen đập đầu xuống giường hoặc đưa tay sờ bộ phận sinh dục của mình khi sắp ngủ.

Nhiều nhà chuyên môn cho rằng để chữa những hiện tượng này Ở CÁC CHÁU, NGƯỜI LỚN NÊN chú ý tìm hiểu các cháu về mặt tâm lý như có phải cháu cảm thấy mình không được săn sóc đầy đủ không, cháu có ghen tị với anh, chị, em về việc gì không, cháu có phải ức chế trong người mình một tình cảm gì, một nỗi buồn hoặc nỗi sợ gì mà cháu không nói được ra không ? Trong những trường hợp như vậy thì bố mẹ chỉ cần tăng cường an ủi, âu yếm cháu làm cháu yên tâm là các hiện tượng trên sẽ giảm hoặc hết ngay.

Nhiều bậc cha mẹ đã nhờ các chuyên viên tâm lý tiếp xúc với các cháu bé để tìm nguyên nhân và phương pháp chữa trị .

Nhưng phần lớn trường hợp không phải chữa trị gì, khi các cháu tới độ từ 2 tới 4 tuổi, các hiện tượng trên cũng sẽ hết.

Ðôi khi, có thể cho cháu uống thuốc an thần theo đơn và sự chỉ định của bác sĩ, cũng có nhiều hiệu quả.

158. Chứng co giật cơ bắp.

CHỨNG CO GIẬT CƠ BẮP ÍT THẤY Ở trẻ em từ 3-4 tuổi trở xuống. Chứng này có những biểu hiện co giật cơ bắp trong thời gian ngắn, xảy ra bất chợt, hay lặp đi lặp lại nhiều khi không cố ý như: nháy mi mắt ia lịa, chép miệng, lắc đầu, lắc cố, lắc vai liên tục v.v…

Những biểu hiện này có thể do nguyên nhân thần kinh bị căng thẳng, vì lo ngại một điều gì. Những cử chỉ chép miệng, lắc đầu, oằn người chỗ đông, nhiều khi làm cho những người xung quanh thấy khó coi.

Không có thuốc chữa trị chứng này. Chủ yếu là người đang có những hiện tượng co giật phải chủ động bình tâm và tự chủ. Các cơn co giật rồi sẽ qua đi.

Những trường hợp nặng cần phải có sự giúp đỡ của bác sĩ tâm lý về thần kinh.

159. Chứng tự kỷ và loạn tâm thần.

Tự kỷ là hình thức nghiêm trọng nhất của rối loạn tâm thần Ở TRẺ EM, CÓ ÐẶC ÐIỂM LÀ đứa trẻ tự tách rời với thực tế và môi trường chung quanh. Ðứa trẻ mới sinh không thể hiện rõ bệnh, nhưng từ tháng thứ 18 trở đi, cha mẹ và những người săn sóc cháu có thể thấy rõ các triệu chứng của bệnh.

Cháu bé lúc nào cũng có vẻ thờ ơ, không chú ý gì tới cuộc sống và các hoạt động chung quanh, không đáp lại sự săn sóc của người lớn bằng nét mặt, cách nhìn hay nụ cười.

Các hoạt động tay chân thường không liên quan gì với nhu cầu thực tế, lặp đi lặp lại như máy, như các cử chỉ của những con rối, hai cánh tay đung đưa, nhiều khi không ăn nhịp với thân thể. Cháu vẫn lớn nhưng trí khôn trì trệ, kém phát triển, không nói được hoặc nói không ra câu, khó hòa nhập với xã hội. Nguyên nhân của bệnh, cho tới nay vẫn chưa được XÁC ÐỊNH RÕ RẰNG. TỪ 20 NĂM NAY, NGÀNH Y HỌC VẪN DỪNG LẠI Ở CÁC ÐIỂM DỰ đoán: rối loạn sinh hóa của cơ thể, dị dạng nhiễm sắc thể và một số hội chứng cần phải nghiên cứu thêm. Ði tìm các phương pháp chữa trị , người ta đặc biệt chú ý về mặt tâm lý của các cháu bị bệnh hoặc phải sống xa cách với xã hội, hoặc cùng sống chung nhưng lại bị các bạn cùng lứa tuổi chế giễu, trêu chọc.

160. Mút tay.

Trẻ sơ sinh mút tay là việc bình thường. Người ta thấy nhiều cháu bé mới sinh đã có ngón tay cái ứng đỏ vì các cháu mút tay từ trong bụng mẹ. Tuy vậy, trẻ mút tay cũng là một tín hiệu để bà mẹ chú ý xem cháu đã được ăn đủ chưa. Mỗi lần cháu bú tí mẹ phải lâu khoảng 15 phút thì cháu mới đủ no. Hoặc nếu cháu bú bình, thì phải kiểm tra lại xem NHỮNG CÁI LỖ Ở NÚM VÚ CAO su có lớn quá hay nhỏ quá không? Vì lỗ lớn sẽ làm cháu sợ vì sữa ra nhiều làm cháu sặc, mà nhỏ quá thì cháu phải ra sức mút mà sứa vẫn ra ít, làm cháu mệt. Sau này, khi lớn lên thêm một chút nữa, các cháu cũng hay mút tay KHI NGỦ, DƯỜNG NHƯ CÓ LÀM VẬY MỚI YÊN TÂM.

TỪ CAI SỮA TỚI 6 TUỔI – CỨ 3 CHÁU THÌ CÓ 1 CHÁU MÚT NGÓN TAY Ở ÐỘ TUỔI TỪ 1 CHO tới 4 tuổi. Các cháu hay mút ngón tay trước khi ngủ: khi cháu không có gì để chơi, khi cháu thấy người khó chịu hay đang mọc răng; khi mẹ lại sinh một em nữa làm cho cháu có ý nghĩ mình bị bỏ rơi; khi các cháu được chiều chuộng quá hoặc ngược lại, khi người lớn tỏ ra nghiêm khắc đối với cháu.

NGƯỜI LỚN PHẢI LÀM GÌ?

Nên bình tĩnh và yên tâm chờ đợi, khuyên bảo nhẹ nhàng. Các cháu mút tay như thế có ảnh hưởng tới răng sau này không? Không. Vì răng của các cháu ở TUỔI NÀY CHỈ LÀ RĂNG SỮA, SẼ RỤNG ÐỂ ÐỔI CÁC RĂNG VĨNH VIỄN KHÁC.

SAU 6 TUỔI – Cháu bé đã hơn 6 tuổi còn ngậm ngón tay có thể do thói quen trước khi ngủ, hoặc cũng có thể là một vấn đề tâm lý. Cháu muốn trở lại thời kỳ mấy năm về trước: hồi đó cháu chưa phải tới trường, ngồi trong các lớp học có kỷ luật nghiêm khắc và những bài tập viết khó khăn, mệt nhọc như hiện nay. Bạn hãy cố tìm hiểu tâm tư cháu, an ủi, khuyến khích cháu. Nếu bạn làm cho cháu tự hào với độ tuổi của cháu, cháu sẽ tự động BỎ MÚT TAY NGAY.

Ở tuổi này, các răng vĩnh viễn đã mọc. Bởi vậy, việc mút ngón tay có thể ảnh hưởng tới sự đều đặn và hình dáng của cả hàm răng. Nếu có hiện tượng đó rồi, (thí dụ hàm răng trên hoặc dưới có vẻ nhô ra), nên đưa cháu tới bác sĩ khoa răng hàm mặt để CHỈNH HÀM CHO CHÁU.

NÊN LÀM GÌ ÐỂ CÁC CHÁU KHỎI MÚT TAY
?

Nên động viên khuyến khích các cháu là chính. Không nên dùng các phương pháp thô bạo như: buộc tay, bặt đeo găng tay hoặc bôi các chất đắng vào ngón tay.

161. Nhai lại.

Một số trẻ kể cả trẻ sơ sinh và trẻ đã lớn – có thói quen Ợ THỨC ĂN LÊN MIỆNG RỒI nhai, giống như loài nhai lại. Nguyên nhân có thể do các cháu bị rối loạn nhẹ về các phản ứng tình cảm.

Nếu thấy cháu bị gầy đi, các bà mẹ nên cho bác sĩ biết vì tật nhai lại này nhiều khi cần phải cho các cháu nằm bệnh viện hoặc chữa trị bằng phương pháp giáo dục.

162. Nôn ói.

Các cháu mới sinh thường hay ói. Có nhiều nguyên nhân. Người lớn coi sóc các cháu nên chú ý xem cháu bị nôn ói trong trường hợp nào, có kèm theo các triệu chứng gì không thì mới xác định được là hiện tượng này không quan trọng hoặc đáng lo ngại. Hiện tượng nôn ói có thể như sau :

* Ðang khỏe mạnh bỗng nôn ói kèm sốt, tiêu chảy: có thể do bị bệnh thuộc loại tai-mũi-họng, hoặc vì các chất tiêu hóa di chuyển ngược CHIỀU Ở ÐOẠN DẠ DÀY – ruột; bị đau màng óc; viêm niệu đạo v.v… Nôn ói sẽ dẫn tới hiện tượng cơ thể thiếu nước.

* Bỗng nhiên bị nôn ói, không sốt nhưng không muốn uống, bị đau bụng không đi tiêu được: có thể bị rối loạn tiêu hóa hoặc lồng ruột, tắc ruột. Cần tới bác sĩ ngay.

* Bị nôn nhiều lần, bị đi bị lại, ngưng tăng cân: viêm tai hay viêm niệu đạo.

* Mới sinh được vài tuần đã bị nôn ói: cần chiếu X-quang để xem môn vị có bị hẹp không. Nếu cần phải phẫu thuật.

Phần lớn các cháu bé nôn ói vì thức ăn chuyển động ngược LẠI Ở ÐOẠN THỰC QUẢN – DẠ dày.

Các cháu nhỏ thường nôn ói vì động cơ tâm lý, làm nũng mẹ.

Các cháu lớn hơn nếu bị nôn ói kèm theo đau bụng và sốt có thể do các bệnh đau ruột thừa, đau màng óc, viêm gan…

163. Béo bệu.

Các cháu Bé béo bệu (mập ú) là vì ăn nhiều quá. Cũng có các cháu là con cháu những gia đình có nhiều người béo mập, nhưng nếu người lớn béo như vậy thì cũng là do ăn nhiều quá mức mà thôi. Bởi vậy, để các cháu khỏi béo bệu, nên có chế độ ăn vừa đủ theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Sự béo quá của các cháu, nhất là các cháu nhỏ, không có lợi cho sức khỏe. Ðối với các cháu lớn, chúng ta nên chú ý rằng lượng thức ăn cháu ăn hàng ngày phải kể tới cả những lần cháu ăn quà vặt nữa, để rút bớt lượng thức ăn trong các bữa chính đi.

Việc chữa béo cũng khó vì cần có sự quyết tâm và tự nguyện của người béo, có đủ tinh thần chống cự cám dỗ của thức ăn cùng sự giúp đỡ và hỗ trợ của các người thân chung quanh.

164. Tật nguyền.

Một cháu bé không may có thể bị tật nguyền làm giảm trí thông minh, giảm sức lực, giảm khả năng cảm giác của mắt, tai v.v…

NHỮNG DẤU HIỆU BÁO ÐỘNG

– Ðể ngăn ngừa các tật nguyền, các bác sĩ thường yêu cầu bố mẹ các cháu nhỏ phải chú ý phát hiện những triệu chứng lạ, đáng báo động của các cháu trong thời gian sớm nhất, ngay từ những tuần lễ đầu hay tháng đầu sau khi sinh.

Những triệu chứng này có thể khi có, khi không trong 3 tháng đầu tiên nên phải theo dõi liên tục. Thí dụ các hiện tượng cổ của Bé quá yếu không giữ được đầu thẳng, khó ngồi, khó đứng v.v…; các cử động tay chân, cử động quay người, sự chú ý tới mọi hoạt động chung quanh, tới ánh sáng; mầu sắc v.v.. có những biểu hiện khác thường. Hiện nay, người ta có nhiều phương pháp phát hiện được các cháu bé bị yếu về một mặt nào đó NHƯ: NHÌN KÉM, NGHE KÉM, KHÔNG CHÚ Ý ÐƯỢC V.V…

NẾU CON MÌNH BỊ TẬT NGUYỀN

– Nên có thái độ như thế nào? khi có đứa con bị tật nguyền, chính bố mẹ là người cần được an ủi để chấp nhận sự việc và bình tĩnh nghĩ tới cách chữa trĩ và săn sóc cho cháu bé sau này. Xã hội nào cũng có các tổ chức dành riêng CHO CÁC CHÁU NHƯ VẬY. BỐ MẸ các cháu nên tìm hiểu về các tổ chức này, để đưa các cháu tới sinh hoạt, không nên tách mình hoặc tách các cháu ra khỏi các hoạt động của cộng đồng. ĐÓ LÀ CÁCH XỬ SỰ của những người bi quan, không có ích gì cho các cháu.

Trang sách này không thể nói hết mỗi trường hợp vì có NHIỀU LOẠI TẬT BỆNH.

Ở NƯỚC nào cũng có các địa chỉ các tổ chức như: Hội các phụ huynh có con bị tật nguyền; Trung tâm các trẻ bị liệt; Hội cứu trợ các trẻ bị bệnh về cột sống, về thần kinh v.v… rất có ích cho gia đình các trẻ bị tật.

Việc săn sóc và chữa trị cho các trẻ tật nguyền phải dựa vào nguồn tài chính của bố mẹ là chính. Nếu bố mẹ không đủ khả năng, họ có thể nhờ sự giúp đỡ của các hội từ thiện để được hỗ trợ. Thường người ta phân biệt các mức hỗ trợ dựa vào tình hình của cháu bé:

– Cháu cần phải có người săn sóc hàng ngày nhưng không cần LÚC NÀO CŨNG PHẢI Ở LIỀN BÊN CHÁU HOẶC PHẢI Ở LIỀN bên cháu;

– Cháu bị tật nặng, cần phải được săn sóc bằng các phương tiện kỹ thuật cao, thuốc thang đắt tiền;

– Tiền phí tổn bố mẹ các cháu có thể gánh được bao nhiêu? cần được hỗ trợ một phần hay tất cả?

– BỐ MẸ CÁC cháu có thể tham gia săn sóc các cháu không? có thể nghỉ việc để ở GẦN CÁC CHÁU KHÔNG?

165. Bị đối xử tệ.

Hiện nay, người ta quan niệm rằng một đứa trẻ bị đối xứ tồi tệ căn cứ vào các hiện tượng sau: cháu bé bị đánh đập hoặc bị bỏ rơi, để cho thiếu ăn, thiếu mặc, không được săn sóc về mặt tinh thần; bị lợi dụng tình dục.

Các tổ thức xã hội đã đề ra nhiều biện pháp để bảo vệ quyền lợi của trẻ em và trao nhiệm vụ cho các ngành y tế và luật pháp để theo dõi và phát hiện. Các tổ chức này thường chú ý đặc biệt tới các gia đình có thể liên quan tới vấn đề này.

NHỮNG VẤN ĐẾ LIÊN QUAN TỚI DA

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

VII. NHỮNG VẤN ĐẾ LIÊN QUAN TỚI DA

106. Vết trên da trẻ mới sinh.

Khi mới ra đời, da trẻ em thường có những vết có màu: vết màu đỏ thẫm như màu rượu vang, có nhiều chấm nhỏ hoặc từng mảng ở GÁY, TRÁN, DA ÐẦU… DO CÁC MẠCH MÁU nhỏ (mao mạch) dưới da bị giãn nở. Những vết này sẽ hết dần dần. Có CHÁU TỚI 1 2 NĂM MỚI HẾT: ÐÓ LÀ những vết bớt, nết ruồi hay vết chàm. Nốt ruồi to hoặc nhỏ, có thể xuất HIỆN Ở MỌI NƠI TRÊN CƠ thể. Cần hỏi bác sĩ chuyên khoa da, vì việc chữa trị tùy trường hợp có NHIỀU HAY ÍT, Ở MỖI CHÁU MỖI KHÁC. (NAEVUS).

VẾT CHÀM hay thấy ở lưng dưới. Những vết chàm này cũng sẽ hết dần khi các cháu lớn lên.

107. Vết bớt hay chàm đỏ.

Da các cháu mới sinh có thể có các chấm hoặc mảng màu đỏ sẫm: đó là các vết bớt còn gọi là chàm đỏ. Bớt do sự phì đại của các mạch máu nhỏ dưới da có dạng phẳng như da, có dạng nổi trên da. Những vết chấm hay thấy ở trán, cổ, gáy, chân tóc trẻ sơ sinh có thể tự mất đi sau vài tháng tuổi, có khi phải sau một vài năm.

Tuy rằng một số vết bớt khó coi, làm giảm sự xinh xắn của các cháu, nhưng bác sĩ nào cũng khuyên các bà mẹ phải kiên nhẫn, chờ đợi, tránh không nên can thiệp tới bằng bất cứ biện pháp gì.

Nếu vết bớt ngày càng lan rộng và có hiện tượng chảy máu thì nên tới bác sĩ chuyên khoa về da để hỏi cách chữa trị. Ngày nay, người ta có thể dùng tia laze để chữa trị hiện tượng này.

108. Hiện tượng tím tái của trẻ sơ sinh.

Da của Bé có thể có các vùng tím hay xanh. Í T THÌ Ở ÐẦU CÁC NGÓN TAY HOẶC MÔI: hiện tượng này chứng tỏ máu thiếu ôxy vì sự hô hấp hoặc sự tuần hoàn (tim) của cháu chưa tốt. Nếu hiện tượng này chỉ có rất ít thì do lạnh, làm các mạch máu bị co lại.

Nếu hiện tượng tím tái có từ khi cháu mới sinh và cứ duy trì mãi không thấy đỡ, thì có thể phải tìm hiểu về các bệnh tim bẩm sinh.

Nếu hiện tượng trên xảy ra bất chợt và nghiêm trọng thì có thể do các nguyên nhân: ngạt thở vì vật lạ, đau họng, viêm đường hô hấp…

109. Chứng vàng da của trẻ sơ sinh.

Sau khi sinh được mấy ngày, nhiều cháu bé có mầu da mỗi ngày một vàng thêm: đó là chứng vàng da của trẻ sơ sinh, một sự cố không quan trọng mà người ta biết rõ nguyên nhân.

Khi ra đời, đứa bé mang theo trong người một số hồng huyết cầu dự trữ. Hồng huyết cầu là những phần tử trong máu có nhiệm vụ nhận ôxy từ phổi mang tới mọi nơi trong cơ thể, và luôn luôn được thay thế bởi những lớp mới. Trong cơ thể đa số trẻ em, việc loại bỏ các hồng huyết cầu già ở lá lách và ở gan được tiến hành bình thường. Nhưng, một số ít các cháu có bộ gan còn non yếu chưa làm được đầy đủ nhiệm vụ này khiến một số muối mật sinh ra trong quá trình hủy diệt hồng huyết cầu bị tích tụ ở máu làm cho da các cháu có màu vàng.

Những hiện tượng trên có thể sẽ hết trong vòng mấy ngày sau, khi các cơ quan trong cơ thể cháu bé quen dần với công việc.

Một số các cháu khác có thể bị dị tật bẩm sinh ở các đường ống dẫn mật khiến những chất muốí mật đã được gan biến đổi và thải ra không xuống được ruột làm cho phân có mầu nhợt hoặc mầu trắng.

110. Rôm sảy

Ở vùng cổ và lưng các cháu bé thường có những nốt mẩn đỏ, do mồ hôi gây ra. Các nốt này sẽ chóng lặn hết nếu giữ gìn cho da các cháu sạch và khô.

111. Da: ngứa ngáy, mẩn đỏ.

Da trẻ em, nhất là cháu sơ sinh rất mỏng nên dễ bị tổn thương vì các nguyên nhân gây ra từ phía ngoài cũng như từ bên trong cơ thể. Theo năm tháng, lớp da sẽ đỡ mỏng manh hơn, nhưng vẫn là một lớp mô nhạy cảm dễ bị phát ban, dị ứng hoặc là nơi biểu hiện triệu chứng của một số bệnh như sởi, lên đậu… Một số bệnh khó xác định và khó chữa, nên các bà mẹ săn sóc cháu nên nhận xét để mô tả được rõ ràng với bác sĩ.

LOẠI DA ÐẶC BIỆT NHẠY CẢM

– Có nhiều Bé có loại da đặc biệt nhạy cảm tới mức chỉ sờ lên da Bé cũng làm làn da ửng đỏ một lát. Do đó việc cọ sát da cháu bằng miếng vải, sức một ít nước thơm hay dầu thơm, tắm cho cháu bằng xà phòng có hóa chất thơm, cháu bị toát mồ hôi, nước tắm có pha ít nước hoa Cologné v.v… cũng làm da cháu bé phản ứng.

Cổ, cổ tay, cổ chân, vòng bụng là nơi dễ bị kích thích nhất. Muốn làm cho da Bé dày dặn hơn, nên cho Bé đi chơi ở ngoài trời luôn, cho Bé tắm nắng nhưng hãy coi chừng và có giới hạn để tránh bị cháy nắng hay say nắng.

– MẨN ĐỎ VÙNG MÔNG – Mông Bé là điểm hay có mồ hôi, bị đẫm nước tiểu khi cháu tè dầm không được thay tã lót ngay, nên hay bị mẩn đỏ: da đỏ, đùi đỏ, đỏ ở rãnh giữa 2 mông, ở những nếp nhăn. Những nốt đỏ hơi phồng lên và lõm ở giữa, đôi khi cũng xuất hiện khi Bé mọc răng, hoặc trên toàn bộ lớp da tiếp xúc với ghế khi Bé ngồi.

ĐỂ BÉ KHỎI MẨN ÐỎ, n ên : thay tã lót luôn, lau ghế luôn, dùng pommát sát trùng bôi lên chỗ mẩn đỏ. Khăn trải giường (nếu dùng cho Bé) cũng nên thay luôn, ghế Bé ngồi thỉnh thoảng nên mang phơi nắng.

Sau khi tắm cho Bé nên lau thật khô hay sấy cho Bé bằng cái sấy tóc, nhưng phải hết sức cẩn thận không làm Bé bỏng.

Nếu chỗ mẩn đỏ cả tuần lễ chưa khỏi thì nên hỏi bác sĩ, không cần thay đổi chế độ ăn của Bé .

– MẨN ĐỎ Ở CỔ, NÁCH VÀ SAU TAI – Những chỗ mẩn đỏ bóng và có nước. Bạn hãy chú ý coi cổ áo của Bé có chật quá không, không năng tắm rửa và mồ hôi là nguyên nhân của những chỗ mẩn đỏ này.

Hãy thay quần áo tã lót cho cháu sau khi tắm kỹ bằng loại xà phòng có nhiều tính chua (axít), rồi dùng dung dịch sát trùng loại éosine 1% bôi cho cháu.

Chỉ nên mặc cho cháu những quần áo bằng vải, từ các chất liệu thiên nhiên như bông, len chứ không nên dùng các chất liệu tổng hợp.

– BÉ CÓ NHỮNG CHẤM ĐỎ VÀ NHỮNG MỤN NHỎ TRẮNG CHẢY NƯỚC , ở gáy, lưng, đôi khi ở vòng quanh bụng chỗ vẫn quấn khăn quanh rốn làm cháu luôn cựa quậy, ngủ không yên giấc: tránh đắp cho Bé nhiều chăn quá hoặc đặt Bé trong phòng nóng quá. Tắm cho Bé bằng xà phòng có tính axít hoặc nước pha chanh (để có tính axít). Cho cháu tấm nắng vừa phải, mỗi ngày.

Nếu da cháu vẫn chảy nước, cần đi khám bác sĩ.

– CẦN NÓI GÌ VỚI BÁC SĨ?

Nếu bạn liên lạc với bác sĩ qua điện thoại, nên nói ngay cháu bé mấy tháng, mấy tuổi? Vì có một số bệnh chỉ xuất hiện ở một độ tuổi nào đó. Hãy cho bác sĩ biết thêm: cháu bé có sốt không? Chỗ da chảy nước thế nào? Bé đã uống THUỐC GÌ CHƯA?

– SỐT

– Lấy nhiệt độ cho Bé. Thường thì các bệnh ngoài da không làm trẻ sốt. Nếu những nốt mẩn ngoài da lại kèm theo sốt thì Bé đã mắc bệnh như: sởi, nhiễm khuẩn,… Biết thân nhiệt của bé khi sốt, bác sĩ sẽ dễ chẩn đoán bệnh.

Những nốt mẩn đỏ có thể mất đi sau vài giờ, như ở bệnh sởi. Bởi vậy, trước khi nói chuyện với bác sĩ, bạn cần phải nhớ lại những điều sau

– Những nốt đỏ mọc ở đâu? khắp người Bé hay chỉ có ở mông? ở những vết nhăn trên đùi, tay? ở cổ, trên mặt, ở lông mày, quanh miệng, sau tai? Những nốt mẩn bắt đầu ở đâu trước tiên ? Lan ra tới đâu?

Ấ N TAY VÀO CÓ HẾT ÐỎ KHÔNG?

– Cỡ to nhỏ của nốt mẩn: bằng đầu mũi kim hoặc lớn hơn?

– Mầu: đỏ, đỏ tím hay đỏ sẫm… ?

– Những nốt đỏ rời nhau hay từng mảng?

– Nốt đỏ có phồng lên, có vảy không ? Bé có gãi không?

– Sờ vào những nốt đó thấy nhẵn hay ráp? Có chỗ nào mềm hoặc cứng không ?

Bạn có thể nghĩ rằng những nhận xét trên không quan trọng, nhưng chính chúng lại giúp cho bác sĩ xác định được bệnh vì mỗi bệnh có những điểm riêng chỉ khác nhau một vài chi tiết nhỏ.

112. Chứng nổi mụn ngứa.

Cháu bé không ngủ được vì ngứa, gãi. Do vậy, đôi khi cháu không chịu ăn, đi tướt hoặc ngược lại đi táo. Trên da cháu, xuất hiện những nốt phồng nhỏ đường kính chừng lmm, màu đỏ, mọc khắp người trừ phần da đầu: đó là chứng mụn ngứa. Khi phát triển, mầu các nốt mụn ngứa thành đỏ thẫm, đôi khi có vẩy vàng, cứng, sờ vào thấy nháp tay. Khoảng từ 8 tới 10 ngày sau mụn ngứa lặn để lại những vết đỏ, rồi vết này cũng nhạt dần.

Các cháu nhỏ thường bị nổi mụn ngứa nhiều lần, cách quãng nhau vài ngày hay hơn.

Chứng mụn ngứa có thể vì nguyên nhân tiêu hóa không tốt hoặc dị ứng do bị côn trùng đốt.

Với các trẻ sơ sinh, không cần thay đổi chế độ ăn nếu không có ý kiến của bác sĩ. Những chỗ ngứa nhiều, có thể bôi thuốc đỏ Mercurochrome hoặc cồn iốt 1%. Nếu chỗ ngứa bị nhiễm trùng hay sây sát nên dùng băng dính che lên trên.

Các bà mẹ nên kiên nhẫn và yên tâm; thế nào rồi các mụn ngứa cũng sẽ lặn hết.

Trong trường hợp cháu bị nhiều quá, bác sĩ thường cho các cháu uống thuốc cho đỡ ngứa và nếu cần, chuyển qua bác sĩ chuyên bệnh ngoài da và dị ứng.

113. Dị ứng.

Dị ứng nói chung là phản ứng của cơ thể chống lại sự xâm nhập của các “chất lạ” vào cơ thể, bằng cách sinh ra các kháng thể. Những chất lạ còn được gọi là các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể qua da, đường hô hấp (mũi, khí quản, phổi) và đường tiêu hóa. Dị ứng da thể hiện ra ngoài theo các dạng eczema, mẩn đỏ, phù da, mụn loét.

Những chất lạ gây dị ứng da bao gồm các hóa chất như phấn, kem bôi da để trang điểm, vải mặc tổng hợp, các thuốc pom-mát v.v…, các dược phẩm uống hoặc tiêm chích. Một số thực phẩm không thích ứng với từng người như thịt bò, tôm, cua, cá…

Những biểu hiện dị ứng của bộ máy hô hấp là: ho, hen, viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản.

Những chất lạ gây dị ứng đường hô hấp có thể là phấn hoa, lông gà vịt, lông chó mèo, bụi trong nhà, ngoài đường, vi khuẩn, vi trùng, mốc.

Bộ máy tiêu hóa bị dị ứng có các biểu hiện: tiêu chảy trong thời gian ngắn hoặc tái đi tái lại, nôn ói, đau bụng kèm theo dị ứng da như mẩn ngứa. Dị ứng thêm đường hô hấp ít khi xảy ra.

Những chất gây dị ứng thường là thực phẩm hoặc có trong thành phần thực phẩm như chất prôtêin trong sữa bò, lòng trắng trứng, cá, thịt, các đồ biển; một số quả, lạc (đậu phộng), ngũ cốc các loại…

Muốn chữa trị dị ứng, bác sĩ phải hỏi bệnh nhân tỉ mỉ về nề nếp sinh hoạt, để biết được thường bệnh nhân bị dự ứng trong các điều kiện nào, ở chỗ nào, sau khi ăn gì. Từ đó truy tìm và xác định “chất lạ” là chất gì, ở đâu.

Ngoài ra, bác sĩ còn phải tìm “chất lạ” cả trong máu và tiến hành việc cấy vào dưới da một số chất dễ gây dị ứng để thử nghiệm. Ðối với trẻ em, việc cấy thử như vậy rất khó thu được kết quả.

Chữa trị dị ứng là một việc làm đòi hỏi một thời gian lâu, phức tạp dù việc làm có vẻ như đơn giản: tìm ra “chất lạ”, nguyên nhân của dị ứng rồi tránh xa để đề phòng. Người ta cũng dùng phương pháp tiêm chích các thuốc chống dị ứng với liều lượng ngày một tăng.

Dị ứng cũng là một chứng bệnh gia truyền nên có thể biết ngay từ lúc đứa trẻ mới sinh bằng cách thử máu. Sau đó, để tránh cho các cháu khỏi có các triệu chứng của bệnh này, thì tốt nhất là cho các cháu bú sữa mẹ.

(Dị ứng được trình bày thêm trong các mục HEN , ECZEMA VÀ MẨN NGỨA ).

114. ECZEMA.

ECZEMA có những triệu chứng khác nhau tùy theo độ tuổi của đứa trẻ Bé mới mấy tháng hay đã được hơn 2 năm.

– Ðối với các cháu lớn từ 2 tuổi trở đi, eczema thường biểu hiện ở các chỗ gấp chân, tay: da đỏ, thoạt đầu ướt, chảy nước, sau đó, khô đi và ngứa làm đứa trẻ khó chịu, không ngủ được.

Eczema tiến triển trong một thời gian dài, từng thời kỳ và một số trường hợp, kèm theo bệnh hen.

Việc chữa trị đòi hỏi một thời gian lâu và thường BỊ ĐI BỊ LẠI.

ECZEMA Ở CÁC CHÁU SƠ SINH – Từ tháng thứ 2 – 3 trở đi. Thường các cháu bị ở đầu, má, trán, cằm, có thể phát triển tới vai, tay, lưng bàn tay, ngực… Nhưng phần lớn hay bị ở đầu.

Thoạt đầu da cháu bé đỏ lên rồi có những đốm nhỏ xuất hiện, Bé cảm thấy ngứa nên khóc, cựa quậy, sát má xuống giường. Những đốm nhỏ tiết ra một chất lỏng, cứng lại thành vẩy làm chỗ da đỏ khô lại nhưng vẫn đỏ và dễ có những vết nứt.

Một cháu bé có thể bị eczema ngay từ năm đầu và bị đi bị lại từng đợt. Tới tháng thứ 18, cháu bé khỏi nhưng lại có thể bị bệnh HEN TIẾP THEO. ECZEMA LÀM ÐỨA TRẺ DỄ BỊ mất nước và nhiễm trùng.

Việc chữa trị đòi hỏi sự kiên trì. Một số trường hợp cần bôi thuốc có cortisone.

Các cháu bé bị eczema không cần kiêng sữa nhưng không nên ra nắng, gió.

Trong thời gian bị eczema, tránh tiêm chích các vắc xin trừ trường hợp chích B.C.G phòng lao.

Không nên cho cháu bé lại gần, hoặc chơi cùng với các cháu mới tiêm ngừa bệnh đậu mùa và hết sức đề phòng để cháu khỏi bị lây bệnh này.

116. Mẩn đỏ.

Da trẻ em có thể bị những nốt mẩn màu hồng, xung quanh viền trắng nhạt, hơi phồng, to nhỏ tùy lúc, giống những nốt bọ ve cắn làm cho các cháu ngứa. Hiện tượng này có thể xảy ra với cả các cháu sơ sinh và có nhiều nguyên nhân. Có trường hợp vì thức ăn như trứng (nhất là lòng trắng trứng), cá, thịt ngựa, sô-cô-la, nước cam, dâu; có khi vì các dược phẩm đủ loại như thuốc uống, thuốc bôi, thuốc chích (pénicilline là một thí dụ); có khi vì cháu bé tiếp xúc với những hóa chất hoặc cây cỏ. Với sự cộng tác của bác sĩ, các bà mẹ hoặc người trông nom cháu cần tìm ra nguyên nhân chính để cháu tránh khỏi bị mẩn đỏ sau này. Việc phát hiện nguyên nhân, thường khi rất khó.

Ðể các cháu đỡ ngứa, có thể cho cháu uống một thìa cà phê xi rô chống dị ứng (antihistaminique).

Bệnh giun sán (sán lải) cũng gây mẩn đỏ ngoài da. Hiện tượng mẩn đỏ có thể có cả ở mặt, bộ phận sinh dục… Nếu bị ở họng, cháu bé sẽ khó thở cần phải được chữa trị ngay.

116. Ghẻ.

Chúng ta không nên coi đó là một việc đáng xấu hổ nếu bác sĩ cho biết: cháu bé bị ghẻ. Ghẻ rất dễ lây, ở bất cứ chỗ nào, bất cứ vật gì cháu bé đã tiếp xúc: quần áo, giường, ghế…

Bởi vậy cháu bé có thể đã bị lây ghẻ ngay trong nhà hoặc ở nhà trẻ, ở trường.

Chỗ da bị lây nhiễm có các mụn ngứa thường ở cổ tay, ở những chỗ có nếp nhăn ở khuỷu tay, ở sườn, nách, quanh vú, ở vai, rốn, bộ phận sinh dục, mông, gót chân, gan bàn chân.

Những chỗ ký sinh trùng ghẻ đào rãnh để đẻ trứng, da bị phồng lên màu trắng ngà, nhìn kỹ thấy có liên quan với một con đường nhỏ màu xám.

Ðể chữa trị phải năng tắm cho các cháu, sát xà phòng, chài da bằng bàn chải rồi bôi thuốc sát trùng (loại thuốc ghẻ) trên toàn thân thể.

Phải giặt, nấu các quần áo, khăn trải giường, găng tay khử trùng giày, dép của cả nhà.

Tất cả mọi người trong gia đình cần được khám xem mình có bị ghẻ không, vì chỉ chữa trị cho cháu bé thì không đủ

117. Chốc lở.

Chốc lở là bệnh ngoài da của trẻ em, do các tụ cầu trùng HOẶC LIÊN CẦU TRÙNG GÂY RA. BAN ÐẦU Ở da mọc lên một nốt rộp nhỏ. Nốt rộp to lên trong một vài giờ sau rồi vỡ thành một chấm đỏ, chảy nước, mùi tanh; bên trên dần dần đóng lại thành một lớp vẩy màu vàng, dính như sáp ong, cuối cùng thành màu xám.

CÁC CHÁU HAY BỊ LỞ Ở mặt, quanh mũi, mồm hoặc ở trên da dầu (chốc) và cả bên trong miệng nữa. Những cái vẩy đôi khi rất dày.

Chốc lở dễ lây lan. Chính bàn tay các cháu nhỏ sở vào những VẾT LỞ CỦA MÌNH Ở CHỖ NÀY, rồi lại làm lây lan ra chỗ khác ngay trên cơ thể của cháu. Bởi vậy, các CHÁU BÉ ÐANG BỊ CHỐC LỞ NÊN TẠM NGHỈ Ở nhà, không nên tới trường hoặc nhà trẻ, để tránh lây sang các bạn.

Bác sĩ thường cho thuốc bôi lên vết lở sau khi đã cậy lớp vảy đi. Người ta thường đắp lên vảy một lớp gạc tẩm va-dơ-lin một thời gian để cho vẩy mềm, trước khi làm tróc nó đi.

118. Nhọt.

Một chỗ da phồng lên, đau nhức và đỏ. Sau vài ngày phần da Ở GIỮA MỎNG ÐI, NHÌN thấy. Ở dưới có mủ: đó là nhọt. Khi nhọt vỡ, mủ trắng vàng chảy ra.

THOẠT ÐẦU Ở một điểm trên da có thể mọc lên nhiều đầu nhọt rồi mới tụ lại thành một cái duy nhất. Các cháu thường có nhọt ở ÐẦU, TRONG TÓC, Ở LƯNG, MÔNG, ÐÙI, CÁNH TAY. NẾU CHÁU bé mới mấy tháng đã có nhọt thì rất đáng ngại vì điều này chứng tỏ cơ thể cháu đã bị loại tụ cầu trùng vàng xâm nhập. Vi trùng này sẽ có thể CÒN PHÁT TRIỂN Ở TAI, RUỘT, ỐNG TIỂU, XƯƠNG HOẶC Ở BỘ máy hô hấp của cháu, gáy ra những biến chứng quan trọng hơn nữa.

Trong khi chờ đợi bác sĩ điều trị, bạn hãy dùng gạc mềm phủ lên trên nhọt để tránh quần áo cọ vào và lây lan ra những chỗ khác.

Dù chỉ có nhọt, nhưng cháu bé cũng cần được khám sức KHỎE TOÀN BỘ.

NGƯỜI LỚN CÓ NHỌT KHÔNG NÊN lại gần các cháu sơ sinh, không được săn sóc hoặc trực tiếp cho các cháu ăn, uống.

Nếu chính bà mẹ bị nhọt, phải chú ý rửa tay, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với Bé. Nếu một bên ngực có nhọt thì chỉ cho bú bên vú không có nhọt.

119. Á P XE.

Áp xe là một bọc kín như một cái túi, có chứa mủ, do tế bào và các bạch huyết cầu bị chết sau những trận chiến đấu với các vi trùng đột nhập vào cơ thể tạo thành (thường là loại tụ cầu khuẩn staphylocoque). Ðiểm cơ thể bị áp xe thường cách với các cơ VÀ MÔ LÀNH KHÁC BỞI MỘT VÙNG BỊ TẤY ÐỎ..

Á P XE Ở dưới da. Chúng ta có thể theo dõi dễ dàng sự tiến triển của nó. Trong giai đoạn đầu, khi mủ đang hình thành và tụ dần vào một điểm, LỚP DA Ở ÐÓ BỊ TẤY ÐỎ, nóng, sưng và đau nhức. Khi mủ đã tích tụ lại một nơi, vùng này trở nên mềm hơn – nếu là cái nhọt, người ta thường nói nhọt đã “chín” – Lúc này, cần phải nhể hay chích để cho mủ thoát ra ngoài. Nếu ta không làm thế, áp xe cũng có thể tự vỡ. Khi mủ đang tích tụ lại, người bệnh thấy đau, nhức và có thể sốt.

Tóm lại, có thể nhớ 4 triệu chứng đặc trưng là: sưng – nóng – đỏ – đau.

Trên đây là sự mô tả hiện tượng bị áp xe “nóng”. Có khi sự tiến triển của áp xe rất chậm và lâu khiến người bệnh không chú ý: đó là loại áp xe “nguội”.

Da của trẻ sơ sinh và của trẻ em rất mỏng manh, một vết xước nhỏ, một mũi kim chích cũng có thể mở đường cho sự viêm, nhiễm. Do đó, để phòng bệnh cho các cháu, cần phải giữ gìn cho da các cháu luôn sạch sẽ. Phải rửa sạch các đồ chơi. Người lớn tiếp xúc với các cháu cũng phải chú ý có đôi bàn tay sạch.

Nếu thấy có chỗ nghi cháu bị viêm nhiễm, phải đưa cháu tới bác sĩ. Trong khi chưa có bác sĩ, có thể lau hoặc đắp lên chỗ bị viêm bằng những miếng gạc tẩm nước ấm có pha cồn để làm giảm đau và hạn chế khu VỰC BỊ VIÊM.

Áp xe là điểm bị viêm nhiễm, dù nhỏ cũng không nên coi thường, vì đó là cửa vào của các vi trùng. Chúng CÓ THỂ ÐỊNH CƯ Ở ÐẤY hoặc phát triển tới mọi nơi khác của cơ thể gây ra các bệnh khác như viêm xương, viêm phổi v.v…

Nếu con bạn bị viêm nhiễm luôn luôn, đó là vì sức đề kháng của cơ thể cháu yếu.

Ðiều này có thể liên quan tới một căn bệnh nào đó như bệnh tiểu đường hay suy giảm miễn nhiễm chẳng hạn. Các căn bệnh này có thể có tính chất ngắn hạn hoặc dài lâu.

120. Mụn cơm.

TRẺ EM THƯỜNG CÓ MỤN CƠM Ở bàn tay và bàn chân, giống như những lớp chai. Một số mụn nhỏ MÀU HƠI VÀNG, BẸT CÓ THỂ CÓ Ở bất cứ chỗ nào trên thân thể.

Những mụn cơm này lây vì nguyên nhân có thể là do vi rút. Nước là môi trường tốt cho hiện tượng lây lan. Bởi vậy, không nên tắm cùng một lúc cho 2 trẻ em, nếu một cháu có hạt cơm.

Có thể làm cho những mụn hạt cơm biến đi bằng cách lấy bông thấm cồn i-ốt hoặc mỡ Salicylic rồi đắp vào buổi sáng và buổi tối lên trên chỗ có mụn. Bác sĩ còn có thể khử mụn bằng ni tơ lỏng, hoặc bằng phương pháp phẫu thuật.

Phần nhiều trường hợp, cứ để tự nhiên rồi chúng cũng lặn đi.

121. Mụn rộp.

Nhiều mụn màu đỏ, nổi lên thành cụm như những đầu đanh ghim, tròn, bóng. Khi các mụn trở thành trong suốt, chỉ có phần chân mụn là đỏ, thì cả đám khô nhanh, thành vảy màu xám và sẽ khỏi trong vòng 10 ngày.

Những mụn rộp như thế thường thấy ở MIỆNG (CHỐC MÉP), Ở MẮT VÀ CẢ Ở bộ phận sinh dục. Người lớn cũng hay mắc phải.

Bệnh dễ lây vì do một loại vi rút gây ra. Ðối với các trẻ sơ sinh, bệnh mụn rộp rất nguy hiểm vì vi rút có thể tấn công hệ thống thần kinh của các cháu bé. Bởi vậy, nếu bà mẹ bị bệnh này khi có mang, khi sanh con, khi cho con bú đều phải có biện pháp phòng bệnh cho con.

CÁC CHÁU BÉ BỊ MỤN RỘP Ở miệng thường kèm theo sốt hoặc ho. Hiện nay, ngành y đã có một loại thuốc có tác dụng mạnh tới vi rút của bệnh này là Zovirax.

122. Bỏng dạ.

Bỏng dạ là một bệnh ngoài da thường gặp ở CÁC CHÁU MỚI SINH HOẶC TRONG TUỔI BẾ ẵm. Thoạt đầu, da có một chấm đỏ phát triển nhanh thành một bọng nước bằng hạt lúa mì . Sau vài giờ bọng vỡ ra để lại một vết mẩn đỏ, ở GIỮA CÓ MỘT VÒNG TRÒN NHỎ MẦU ÐỎ tía, chảy nước. Các nốt này có thể mọc lan khắp người trừ gan bàn tay và bàn chân. Sau 8 tới 10 ngày, da sẽ trở lại bình thường.

Bỏng dạ là một bệnh rất dễ lây nên thường gặp ở NHIỀU CHÁU BÉ TRONG CÙNG MỘT THỜI GIAN tại những tập thể như nhà hộ sinh, nhà giữ trẻ v.v… Bé bị bệnh có thể sốt tới 38o-39oC hay hơn nữa. Bé không chịu ăn và có thể bị rối loạn tiêu hóa.

Bệnh này cũng do liên cầu trùng streptocoque hay tụ cầu trùng staphylocoque gây ra, nên bác sĩ sẽ cho Bé uống thuốc kháng sinh. Nếu không chữa tri cẩn thận, bệnh cũng có thể có những biến chứng rắc rối hơn.

123. Bỏng.

Ðể xác định bị bỏng nặng hay nhẹ, người ta dựa vào 2 điều: vết bỏng rộng hay hẹp? nông hay sâu?

Sự nghiêm trọng tức khắc của vết bỏng là tùy ở DIỆN TÍCH BỊ BỎNG, CÓ THỂ GÂY CHOÁNG VÀ MẤT NƯỚC. Ở MỘT CHÁU bé, diện tích da các phần cơ thể như sau :

– Ðầu : 18%

– Ngực: 18%

– Lưng: 18%

– Mỗi cánh tay: 9%

– Mỗi bên chân: 14%

Nếu diện tích bị bỏng của cháu bé trên 5%, cần phải đưa đi bệnh viện.

Bỏng trên bề mặt da được gọi là bỏng cấp 1, tuy đau nhưng dễ lành. Sau hơn 10 ngày chỗ bỏng để lại những vết sẹo mầu đỏ.

Những vết bỏng sâu (bỏng cấp 2), lâu lành hơn, từ 15-20 ngày. Những vết bỏng này có liên quan tới da, thịt và có thể cả xương. Khi chữa trị, có khi phải ghép các mô và công việc này cần thực hiện thành nhiều đợt.

Bỏng sâu là bỏng nặng, làm co da, thịt, sau khi khỏi ở MỘT SỐ NƠI NHƯ: MẶT, CỔ, NHỮNG CHỖ có nếp gấp (nách, khuỷu) bàn tay, ngón tay, ngực. Tuy vậy, bị bỏng cấp 1 nhưng trên diện tích lớn có khi nguy hiểm hơn bỏng cấp 2, mà diện tích nhỏ.

Nguyên nhân bỏng đối với trẻ em thường là bị các đồ dùng nấu nước, thức ăn lỏng sôi, dội lên người, sờ tay vào ấm nước sôi, bàn là (ủi) v.v…

Các trường hợp bỏng vì hóa chất (chất tẩy rửa, axít…), BỎNG VÌ ÐIỆN THƯỜNG BỊ Ở NGÓN TAY, Ở MIỆNG TUY DIỆN TÍCH nhỏ nhưng là những vết bỏng sâu.

Ðề phòng bỏng cho các cháu là biện pháp tốt nhất.

Việc này chủ yếu là do sự chú ý cẩn thận của người lớn, việc tuyên truyền nhắc nhở mọi người qua hệ thống thông tin (rađiô và tivi) về việc giữ gìn các cháu nhỏ xa các chỗ đun nấu, các vòi nước nóng, các đồ điện, các hóa chất sử dụng trong gia đình.

Làm gì khi cháu bé bị bỏng?

– Trường hợp bỏng trên da (cấp 1): bọc cháu vào một tấm vải sạch để chuyển cháu tới nơi cấp cứu. Không cố gắng cởi bỏ quần áo cháu ra.

Trường hợp vết bỏng nhỏ, không sâu, nhẹ: rửa nhẹ bằng loại xà phòng sát trùng rồi băng bằng loại băng mềm, xốp để có thể thay băng 2-3 ngày một lần.

124. Bệnh Dôna.

Bệnh Dôna biểu hiện bởi các mụn nhỏ tập trung ở VÙNG NGỰC, VÀNH TAI, Ở TRÁN HOẶC Ở lông mày. Những mụn rộp này sẽ tự khô nhanh tạo thành những cái vẩy. Nhưng vẩy này sẽ bong ra vào khoảng 10 ngày sau, không gây khó chịu hay đau nhiều cho các cháu.

Chứng này do các virút gây ra có lẽ cùng loại với vi rút gây ra bệnh thủy đậu. Rất có thể, có sự liên quan và lây lan giữa 2 chứng thủy đậu và dôna.

125. Hạch.

Hạch là những điểm phồng chúng ta có thể sờ thấy dưới da Ở CỔ, DƯỚI TAI, DƯỚI HÀM, DƯỚI CÁNH TAY, Ở NÁCH, Ở BẸN. ĐÓ CŨNG LÀ NHỮNG ÐIỂM SẢN XUẤT bạch huyết cầu của máu có khả năng chống sự viêm nhiễm. Trẻ em khi bị ho, viêm họng, viêm tai, sởi…. thường có những hạch nổi lên ở CỔ.

CÁC CHÁU HAY CÓ HẠCH Ở CỔ, Ở NÁCH VÀ Ở HÁNG. HẠCH CÓ THỂ BẤT chợt đỏ, nóng và đau đó là viêm hạch do vi trùng gây ra thường gây sốt và phát triển như một áp xe có khi cần phải chích ra.

Những hạch cứng, không đau, lâu không tan thuộc loại viêm hạch mãn tính, cần phải cho bác sĩ biết.

Những trẻ em hay có hạch mỗi khi đau hoặc có bệnh gì thường là các cháu yếu, vẻ mặt xanh xao, hay mỏi mệt, sức khỏe kém.

Những loại bệnh như sởi, bệnh tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm trùng bệnh toxoplasmose… có thể gây phản ứng cho cơ thể, tạo ra nhiều hạch.

126. Rát vì lá han.

Nếu cháu bé nghịch phải những lá han – một loại lá có lông dễ cắm vào tay chân người đụng chạm tới nó gây nhức rát – hãy đắp lên chỗ da bị rát một khăn tẩm nước có pha giấm. Nếu cháu bị đau nhiều, cho uống aspirin (nếu bác sĩ đồng ý) hoặc một loại thuốc chống dị ứng (antihistamine) .

127. Bệnh vẩy Leiner-moussous.

Bệnh này còn gọi là bệnh “hai cực” vì các cháu bé THƯỜNG BỊ Ở PHẦN THÂN dưới như mông, đùi rồi lại tới phần trên như đầu, tóc, ngay khi cháu mới sinh được vài tuần.

Ðây là một bệnh ngoài da: da nhẵn khác thường và đổ mồ HÔI, ẦM VÀ ÐỎ. MỚI ÐẦU Ở MÔNG, bộ phận sinh dục, đùi trong, bụng. Sau tới đầu: phần da đầu, lông mày có những vẩy nhờn, bóng mầu vàng sẫm. Khi những vẩy này bong ra, phần da ở CHỖ ÐÓ ÐỎ ỬNG. HIỆN TƯỢNG NÀY CÓ THỂ XẢY RA Ở MỌI NƠI CÓ vết nhăn như cổ, nách, sau tai hoặc toàn thân.

Cháu bé không sốt và vẫn có vẻ bình thường. Một số ít có thể đi nhiều phân hơn mọi khi.

ĐỂ CHỮA TRỊ, VẪN CHO CHÁU ĂN Ở mức bình thường. Dùng dầu thảo mộc (dầu ô-liu) lau những chỗ bị viêm rồi rửa sạch bằng loại xà phòng giàu tính axít. Bác sĩ có thể cho cháu bé dùng các thuốc bôi nước có mầu hoặc các pom-mát có chất kháng sinh.

Ðể cháu chóng khỏi, cần giữ cho da cháu thật khô. Muốn vậy, PHẢI THAY QUẦN ÁO CHO CHÁU LUÔN.

Ở BỆNH VIỆN, NGƯỜI TA ÐỂ CHÁU Ở truồng, ngoài không khí có nhiệt độ thích hợp.

Hết sức tránh làm cho cháu đổ mồ hôi như không mặc cho cháu những quần áo bằng vải không thấm, vải tổng hợp, đồ len v.v…

Bệnh này thường sẽ khỏi trong vài tháng. Nguyên nhân bệnh chưa được rõ nhưng đây là loại bệnh khác với eczema.

128. Viêm tấy và chín mé

-VIÊM TẤY: là một loại áp xe có THỂ LAN RỘNG (COI THÊM VỀ NHỌT ).


CHÍN MÉ: THƯỜNG THẤY Ở NGÓN TAY, nhiều khi chỉ là một điểm nhỏ có mủ. Tuy vậy, cũng không được coi thường và bỏ qua. Cần phải rửa sạch, giữ sạch và đôi khi phải chích để cho mủ thoát ra

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN BỘ PHẬN SINH DỤC VÀ BÀI TIẾT

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

VI. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN BỘ PHẬN SINH DỤC VÀ BÀI TIẾT

92. Bộ phận sinh dục bị sưng tấy.

Bạn có bao giờ thấy con mình hay đưa tay vào bộ phận sinh dục của nó hay không? Nếu có, chắc là Bé thấy khó chịu gì đó, chúng ta CẦN CHÚ Ý ÐỂ CHỮA TRỊ CHO BÉ.

Ở bé trai, đầu dương vật của cháu đỏ, bị sưng và đôi khi có mủ. Những cháu nào bị hẹp da quy đầu (PHIMOSIS) thường hay có các hiện tượng như trên (coi bài hẹp quy đầu (PHIMOSIS)).

Với các cháu gái, đôi khi các môi lớn bị ngứa và phồng giộp có thể có mủ chảy ra (coi bài Viêm âm hộ (Vulvite).

Cả 2 trường hợp của Bé trai và Bé gái đều cần giữ sao cho bộ phận sinh dục không bị hấp hơi, ẩm ướt: muốn vậy, không nên cho các cháu mặc quần áo chật, hoặc các loại quần áo khó thấm bằng vải tổng hợp hay cao su.

Cũng cần lưu ý, sau các buổi tắm biển mùa hè, đừng để CÁT LỌT VÀO BỘ PHẬN SINH DỤC VÀ LƯU LẠI Ở đấy.

Tắm và rửa bộ phận sinh dục cho các cháu bằng loại xà phòng giàu tính xút, nhiều khi cũng khỏi. Nếu không có kết quả, cần nói cho bác sĩ biết.

93. Tật lỗ tiểu thấp.

KHI BÉ TRAI CÓ LỖ TIỂU KHÔNG Ở GIỮA ÐẦU DƯƠNG VẬT MÀ LẠI Ở phía dưới dương vật thì cần phải phẫu thuật để tạo ra đường ống tiểu thẳng bình thường.

94. Hẹp da quy đầu.

Bình thường, lớp da bọc chung quanh quy đầu của con trai có thể kéo tuột ra đằng sau, để lộ phần đầu dương vật ra ngoài. Sẽ không thực hiện được việc làm này nếu phần da bọc bi dính vào quy đầu hoặc quá chật, chỗ bao quanh quy đầu nhỏ hơn chỗ chu vi lớn nhất của quy đầu khiến lớp da không tuột ra sau được.

Trước đây, người ta cho rằng những trường hợp như thế cần phải phẫu thuật lớp da bao quy đầu, ngay khi cháu bé còn nhỏ tuổi, để đảm bảo vấn đề vệ sinh, rửa sạch quy đầu.

Nhưng, hiện nay người ta thấy không cần thiết phải lo sớm như thế. Nhiều cháu bé có da bọc chật như vậy là điều tự nhiên. Lớp da này sẽ rộng ra khi các cháu lớn lên. Nếu cần, sẽ phẫu thuật cho các cháu ở ÐỘ 3 – 4 TUỔI. CHỈ CẦN THỰC HIỆN SỚM hơn nếu, vì lớp da quá hẹp mà khi cháu bé đi tiểu, nước tiểu làm phồng quy đầu, khiến nước tiểu khó thoát ra.

Phẫu thuật cắt mở rộng da quy đầu sớm quá có thể dẫn đến những sự trục trặc về sau này như : lớp da tụt xuống vĩnh viễn không trở lại được vị trí cũ để bao bọc và bảo vệ quy đầu nữa. Nếu lớp da này tạo thành một cái vòng thít chặt lấy đoạn gốc quy đầu cần thiết phải phẫu THUẬT CẤP CỨU ÐỂ GIẢI TỎA SỰ TUẦN HOÀN Ở quy đầu.

Khi da bọc quy đầu bị sưng đỏ, tiểu thấy đau rát, có mủ, người ta thường chữa trị bằng thuốc bôi sát trùng sau khi rửa sạch.

95. Cắt da quy dầu.

Tiểu phẫu thuật cắt da quy đầu của đứa trẻ mấy ngày sau khi sinh chỉ là tục lệ của người Do Thái Israel, và một số dân tộc theo đạo HỒI, KHÔNG PHỔ BIẾN Ở CÁC nước khác.

96. Tinh hoàn.

Về đôi tinh hoàn, gọi nôm na là hòn dái, có thể có những TRỤC TRẶC SAU ÐÂYỞ BÉ TRAI :

TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG (TINH HOÀN LẠC VỊ)

Ðôi khi, trong túi đựng tinh hoàn (bìu) của cháu nhỏ, chỉ có 1 tinh hoàn. Như vậy, không phải là cháu bị thiếu, mà vì một tinh hoàn CÒN NẰM Ở PHẦN BỤNG, CHƯA tụt xuống túi. Hãy đặt cháu nằm dài trên giường, hoặc trong bồn tắm nước ấm rồi lấy tay ấn nhẹ vào phía trên bộ phận sinh dục, ngang tầm háng để làm cho một tinh hoàn nằm trong đó, tụt xuống dưới. Trước khi đến tuổi dậy thì, có thể cái “hột” này sẽ tụt xuống nằm đúng vị trí của nó ở TRONG TÚI.

Sau 6 tuổi, ít có khả năng tinh hoàn có thể tụt xuống được nữa, vì thế cần phải tiến hành một cuộc phẫu thuật nhỏ.

BÌU TO

– Các cháu trai mới sinh ra có bìu dái to vì có chất lỏng bên trong cùng với các tinh hoàn. Sau một vài tuần, chất lỏng này sẽ tiêu đi và bìu lại có kích thước bình thường.

XOẮN TINH HOÀN

– Ở TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ NHỎ CÓ TINH HOÀN bị xoắn sẽ làm cho bìu sưng to lên, màu đỏ tía. Tuy không đau mấy và không sốt, nhưng vẫn cần phải mổ gấp ngay, để cứu cho tinh hoàn khỏi bị hư hoại.

97. Viêm âm hộ, âm đạo.

CÁC CHÁU GÁI CÓ THỂ BỊ VIÊM Ở bộ phận sinh dục, có mủ từ âm đạo chảy ra. Bác sĩ thường yêu cầu lấy một ít mủ để xét nghiệm và cho cháu uống thuốc kháng sinh. Trong trường hợp bị nặng, cần xem cháu có bị vật gì lạ chọc vào âm đạo hay không.

98. Ái nam, ái nữ.

Là trạng thái của đứa trẻ ngay từ khi mới ra đời đã có bộ phận sinh dục dị dạng, không phân biệt được nam hay nữ. Sự dị dạng này bắt đầu từ khi bộ phận sinh dục được hình thành trong dạ con.

Trường hợp thường gặp nhất là bộ phận sinh dục nữ bị nam hóa có âm vật phát triển lồi ra ngoài như dương vật. Hai môi lớn chảy xệ xuống như cái bìu nhưng bên trong không có tinh hoàn.

Người ta cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này là do một chứng bệnh của tuyến thượng thận đã sản xuất ra hoóc-môn nam một cách bất bình thường, quá mức. Cũng có thể do người mẹ đã dùng thuốc chữa trị bằng hoóc-môn trong giai đoạn đầu của thời gian mang thai.

Hiện tượng này thường gây khó khăn cho các bậc cha mẹ khi ÐI KHAI SINH CHO CON, KHÔNG BIẾT KHAI LÀ NAM HAY NỮ . TỐT nhất là khai: giống chưa xác định.

Người ta thường phải đợi tới khi cháu bé lớn lên, theo dõi xem sự phát triển của cơ thể và bộ phận sinh dục của cháu thiên về phái nào nhiều hơn. Sau đó, có thể can thiệp thêm bằng phương pháp phẫu thuật để định giống cho cháu.

99. Sự lưu thông ngược cháu bàng quang – niệu đạo .

Sự lưu thông của nước tiểu từ bàng quang về thận cũng là một sự lưu thông bất thường, ngược chiều tự nhiên. Hiện tượng này thận bị tổn thương. Các cuộc xét nghiệm về X-quang có thể cho thấy bệnh nặng hay nhẹ.

Ðể chữa trĩ, bác sĩ thường cho uống những đợt thuốc kháng sinh trong thời kỳ đầu, trong thời gian một vài tháng để chống viêm niệu đạo. Nếu không khỏi, có thể cần phải phẫu thuật.

100. Viêm đường tiết niệu.

Nhiều trẻ sơ sinh bị viêm đường tiểu tiện. Không thể đòi hỏi các cháu cho biết những biểu hiện của bệnh như người lớn như đi tiểu tiện thấy rát và đi luôn v.v. .. Bởi vậy, khi thấy cháu có những cơn sốt cao mà không phải do viêm họng chẳng hạn, thì chú ý ngay. Nhiều khi bệnh của cháu chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu như không chịu ăn, mặt tái nhợt, đau vùng bụng, không hoặc kém tăng cân.

Việc xét nghiệm nước tiểu sẽ cho bác sĩ biết cháu có bị bệnh hay không. Nếu cháu bị viêm đường tiểu tiện thì phải dùng thuốc kháng sinh ngay. Bệnh này phải chữa trị lâu, phải làm xét nghiệm nước tiểu nhiều lần để kiềm tra và là bệnh khó chữa.

Ðôi khi, nguyên nhân bệnh là do bộ máy tiểu tiện của cháu có dị tật bẩm sinh. Bởi vậy, bác sĩ cần phải tiến hành dò bệnh bằng cách chụp X-quang hay dùng phương pháp siêu âm nữa. Nếu quả thật có hiện tượng DỊ TẬT Ở CÁC ỐNG DẪN TIỂU thì lại phải đưa cháu tới bác sĩ chuyên khoa về tiết niệu.

Hiện tượng đường tiểu không thông khiến có sự dồn tắc và nước tiểu chảy ngược từ bọng đái lên thận có thể là nguyên nhân của các cơn đau đi đau lại.

101. Axêtôn.

Axêtôn là một chất được tạo thành ở gan từ chất mỡ. Khi cơ thể có một lượng axêtôn bất thường thì hơi thở sẽ phảng phất mùi rượu táo. Người ta có thể phát hiện axêtôn trong nước tiểu bằng giấy thử Labstix.

Hiện tượng dư axêtôn còn kèm theo các triệu chứng như: ói mứa nhiều lần, mệt, sốt, tái mặt.

Khi chúng ta nhịn đói, cơ thể sẽ tiêu thụ lượng mỡ dự trữ trong người cũng làm lượng axêtôn được sản xuất vượt mức bình thường. Ðối với trẻ em, chỉ cần nhịn đói qua một đêm là cơ thể cũng có hiện TƯỢNG NÀY, NHẤT LÀ Ở CÁC cháu đang ốm, sốt, không chịu ăn và bị nôn ói.

Tuy vậy, cũng nên chú ý rằng hiện tượng nôn ói liên tiếp nhiều lần cũng có thể do bị đau ruột thừa, đau màng óc, hoặc có bệnh tiểu đường, (bệnh này dễ được xác định bằng cách thử nước tiểu hoặc đo độ đường trong máu). Triệu chứng nôn ói có liên quan tới axêtôn, có thể tiến triển mạnh làm đứa trẻ có vẻ hốt hoảng, ngất vì bị mất nước nhiều.

102. Anbumin.

Khi phát hiện trong nước tiểu có chất anbumin thì đó là một dấu hiệu bất thường có thể do một bệnh về thận gây ra.

Tuy vậy, nên chú ý rằng việc thử anbumin bằng giấy thử sau khi bị viêm họng hoặc viêm phổi có thể có kết quả dương tính mặc dù lượng anbumin trong nước tiểu chưa vượt mức bình thường. Ðể xác định rõ ràng, các bác sĩ phải tiến hành đo lượng anbumin có trong nước tiểu trong vòng 24 giờ. Nếu lượng này cao hơn 0,1g thì mới đáng chú ý và còn phải thử nghiệm thêm các chức năng của bộ máy bài tiết nữa.

Kết quả thử anbumin dương tính có thể là dấu hiệu của các bệnh về thận như viêm thận cấp tính hoặc mãn tính, hoặc rối loạn chức năng thận.

103. Bệnh đái ra chất Phenylcetone

Bệnh này hiếm xảy ra, nhưng là loại bệnh trạng dẫn tới sự chậm phát triển về trí khôn. Nếu phát hiện được bệnh ngay từ những ngày đầu tiên của trẻ em sau khi sinh thì có thể tránh bệnh được, nhưng cháu bé phải giữ một chế độ ăn uống đặc biệt hàng nhiều năm tiếp theo. Bác sĩ xác định bệnh bằng những xét nghiệm nước tiểu và máu, nhất là máu (xét NGHIỆM GUTHNE). Ớ PHÁP, BỆNH VIỆN SẢN NÀO CŨNG THỰC hiện những xét nghiệm này cho các cháu sơ sinh. Bởi vậy các bà mẹ nên nhìn qua quyển sổ sức khỏe của Bé, xem Bé đã được xét nghiệm chưa.

Nếu kết quả xét nghiệm dương tính, nên yêu cầu xét nghiệm lại lần nữa cho chắc chắn, trước khi tiến hành chữa trị .

104. Ðái dầm

Trẻ em thường đái dầm vì chưa chủ động điều khiển được hoạt động của bọng đái. Ða số các cháu cứ như thế cho tới tuổi lên 4, LÊN 5. MỘT SỐ KHÔNG KIỂM SOÁT ÐƯỢC CẢ CƠ BẮP Ở hậu môn nên còn tật ị đùn nữa.

CÓ CÁC CHÁU ÐÁI DẦM CẢ BAN NGÀY LẪN BAN ÐÊM. Số đông, thường chỉ đái dầm vào ban đêm.

Nghiên cứu về vấn đề này, các bác sĩ thường tìm xem cháu BÉ CÓ BỊ TỔN THƯƠNG GÌ Ở BỘ máy bài tiết hay không. Kết quả cho thấy phần lớn các cháu nhỏ chưa thành thói quen điều khiển một cách chủ động sự bài tiết ra ngoài.

CÓ CHÁU BÉ đã thôi đái dầm một thời gian rồi lại bị lại, do những yếu tố tâm lý. Thấy bạn hoặc em bị chế giễu, cháu bé lo sợ cho mình, luôn nghĩ tới vấn đề đó và ban đêm lại đái dầm như để giải phóng khỏi sự ức chế ban ngày.

Trong khi săn sóc trẻ em, người lớn nên thông cảm với nỗi khổ tâm này của các cháu, vì chúng không muốn như thế. Không nên mắng hoặc chế giễu chúng chóng mà chỉ nên an ủi, động viên để hỗ trợ cho chúng chóng có được một trạng thái tâm lý và tinh thần mạnh khỏe và chủ động.

105. Tiểu đường.

Bệnh tiểu đường là bệ nh của cơ thể không hấp thụ được chất đường glucose từ thực phẩm. Nguyên nhân bệnh là do thiếu insulin – một loại hoócmôn do tụy tạng sinh ra. Người bệnh có các triệu chứng: cảm thấy đói, khát liên tục, người sút cân mau chóng, đi tiểu luôn và tiểu nhiều. Nếu không được chữa trị, nước tiểu sẽ có chất axêtôn và có thể bị hôn mê.

Bệnh tiểu đường dễ phát hiện bằng xét nghiệm để thấy: nước tiểu có glucô và tỷ lệ glucô trong máu cao.

Trẻ em bị bệnh tiểu đường cần phải chữa tri thật chu đáo: bác sĩ có thể chích insulin cho các cháu hàng ngày. Tiểu đường là một bệnh gia truyền. Nếu gia đình, họ hàng có người bị bệnh, cần phải đặc biệt chú ý và cho bác sĩ biết để xét nghiệm đề phòng.

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.