" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

Phần III – Chương 5 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC TÂM LÝ HỌC VÀ NGHỆ THUẬT BÁN HÀNG

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Có một định nghĩa rất hay về thuật bán hàng: “Bán hàng tức là nghệ thuật làm sao cho khách hàng mua những món hàng và khách sẽ trở lại mà trong tay không mang theo những món hàng ấy”.

Định nghĩa này chứng tỏ: nghệ thuật bán hàng không cốt ở việc “tống” món hàng đi cho bằng được mà còn phải quan tâm đến việc “giữ khách”.

Như vậy, bán được một món hàng là vừa gợi cho khách ham thích món hàng và đồng thời cũng phải biết thỏa mãn khách hàng để khách có thể tín nhiệm nơi người bán.

Xem thế, sự thấu hiểu tâm lý rất cần thiết cho người đứng bán hàng cũng như cho những chuyên viên làm quảng cáo mà nhiệm vụ là cốt làm cho khách vừa biết đến món hàng vừa ham thích, muốn mua lấy món hàng ấy.

Những điều kiện để bán hàng:

Muốn bán đặng hàng phải có một vài điều kiện nào đó mà hai điều kiện cốt yếu là hiểu biết về món hàng và biết rõ khả năng mua hàng của khách tức là biết rõ sức mua của họ. Những điều kiện khác như: sức ham muốn của khách đối với món hàng, sự cần dùng món hàng của khách chỉ có ích nhưng không cần thiết.

Nghệ thuật của người bán hàng cốt ở chỗ biết gây ra cho khách hàng sự ham thích ấy và làm cho họ cảm thấy cần dùng món hàng.

Sự ham thích là một tình cảm bắt nguồn ở bẩm chất tham muốn và ở óc tưởng tượng. Người ta thích có một vật gì đó và đồng thời người ta cũng tưởng tượng trước những lợi ích hoặc những thích thú mà vật ấy sẽ mang lại. Có thể nói lòng tham muốn là nền tảng của mọi việc mua chác, song như chúng ta sẽ thấy sau đây, những bẩm chất khác của cá tính cũng có xen vào trong một vài trường hợp nào đó.

Người ta quan sát và nhận thấy rằng sự ham thích của khách hàng đã phát sinh từ trước, trong cái thời kỳ “ấp trứng” mà khách hàng bị ảnh hưởng của quảng cáo, vì đã xem qua những tập in mẫu hàng, hoặc đã trông thấy mặt hàng.

Trong thời kỳ “ấp trứng” này, sự ham thích của khách hàng nảy nở thêm, song người bán hàng hoặc việc chào hàng phải đến cho kịp thời, vì nếu khách hàng không đặng chào đón đúng dịp, lòng ham thích của họ sẽ bị giảm đi, nhất là khi lúc ấy có món hàng nào khác câu sức chú ý của họ. Sự ham thích một vật gì đó có thể bị một sự ham thích khác bóp chết từ trong trứng.

Sự ham thích phát sanh do lòng tham muốn và óc tưởng tượng, cần đặng bồi bổ bằng những hình ảnh.

Vì thế, muốn gợi lòng ham thích của khách hàng chúng ta nên cung cấp cho họ những ảnh tượng hoặc là những giải thích. Đó là vai trò của những cáo bạch bằng tranh ảnh, những tập catalogue, những bích chương.

Các hiệu buôn lớn như “Au bon Marché”, “Galerie Lafayette” Canufactures d’armes et cycles de Sainte-Etienne” v.v… luôn luôn biết áp dụng nguyên tắc này. Trong những tập catalogue của các hiệu ấy, khi họ rao một món hàng nào đó thì luôn luôn có kèm tranh vẽ hoặc ảnh chụp món hàng.

Các sở du lịch khiêu gợi sở thích du ngoạn của hành khách bằng cách phô bày các phong cảnh đẹp của những phương trời xa lạ, kiểu mẫu những chiếc máy bay vững chãi, nhưng chiếc tàu thủy điện đầy tiện nghi v.v…

Những công ty xây dựng nhà phố để bán còn đi xa hơn nữa. Chẳng những họ trình bày họa đồ của những gian nhà, họ còn biết trình kiểu mẫu thâu hẹp lại của những gian nhà ấy như nó đã đặng cất xong.

Biết áp dụng điểm quan sát tâm lý nói trên nên các hiệu buôn tân tiến hiện giờ biết bày biện tủ hàng của mình một cách hấp dẫn.

Tóm lại, luôn luôn nên giải thích với khách hàng bằng ảnh tượng, nói bằng hình ảnh, kích thích óc tưởng tượng, đánh mạnh vào phương diện tình cảm hơn là phương diện lý trí của cá tính.

Bán hàng là một công việc đặt cơ sở trên tâm lý học:

Chúng tôi đã nói, động lực chính trong việc mùa hàng là tham muốn, vì muốn một món hàng tức là chuyển sang quyền làm chủ một món hàng từ trong tay nhà buôn về tay mình.

Tuy nhiên, lòng ham thích mua hàng lắm khi cũng phát sinh do sự kích thích của một trong những bẩm chất thiên nhiên nào đó của chúng ta hoặc một vài nét phức tạp nào đó thuộc tâm tính chúng ta.

Có nghiên cứu kỹ về cách bán hàng nhất định nào đó, chúng ta mới dễ nhận thấy bẩm chất nào đã làm động lực thúc đẩy việc mua hàng.

Đối với những món hàng thuộc nhu cầu khần thiết như cơm, thịt, rau cải hoặc những món đồ hộp, chỉ có nhu cầu sinh lý dự vào. Dù vậy, trong việc mua các món hàng cần thiết ấy, nhưng bẩm chất như lòng tham muốn, óc hợp đoàn cũng có xen vào. Các nhà bán thịt luôn luôn biết chưng bày những khúc thịt hảo hạng, nếu nhà bán thịt mời khách mua những món thịt hạng thường, khách có thể lầm tưởng rằng nhà hàng khinh dể họ.

Ngoài một số ít món hàng nói trên, đa số những dịp bán hàng đều căn cứ trên một trong những bẩm chất thiên nhiên của chúng ta.

Việc bán các thức điểm trang như son, phấn chẳng hạn, căn cứ trên óc hợp đoàn (tính làm dáng) của người khách.

Có nhiều lý do khiến người ta mua cái máy hát hoặc chiếc máy radio. Có người mua vì thích nghe nhạc (cảm xúc tính) hoặc thích khêu vũ (hoạt động tính). Có người mua vì lòng nhân thúc đẩy, mua về để vợ con cùng có dịp vui chơi, cũng có khi do óc hợp đoàn xui khiến: trong những buổi họp giữa anh em, đặng có thêm chút nhạc đệm vào thì không khí buổi họp sẽ thú vị hơn. Cũng có khi do phần tâm trí thuộc cá tính tập thành làm động lực (khao khát học hỏi, thích mở mang sở học phổ thông).

Việc mua một chiếc ô tô vận dụng tất cả những bẩm chất thuộc cảm tính. Do tham muốn (dùng ô tô đi làm ăn), do lòng nhân (thích làm vui lòng vợ con), do óc hợp đoàn (để “lên mặt với hàng xóm”), do hoạt động tính (thích hành động nhanh chóng), do cảm xúc tính (thích mạo hiểm, thích chạy nhanh).

Động cơ thúc đẩy việc mua một quyển sách còn tùy nội dung của sách ấy. Người mua một quyển sách giáo koa hay một quyển sách khảo cứu là do lòng tham muốn (muốn mở mang kiến thức) hoặc giả chỉ vì ham thích học hỏi, để thỏa mãn óc tò mò về khoa học (hoạt động tính).

Người mua một quyển tiểu thuyết tình là do cảm xúc tính, mua một quyển truyện phiêu lưu là để thỏa mãn trí tưởng tượng v.v…

Việc mua những trái phiếu, những cổ phẩn hội buôn là do lòng tham muốn, nếu chủ tâm người mua chỉ để dành tiền; những người mua cổ phần với mục đích đầu cơ trên thị trường chứng khoán là do lòng tham muốn mà cũng do cảm xúc tính (sự khoái trá vì hồi hộp trong khi đánh cuộc với may rủi mà những con bạc đều biết).

Trái lại, những việc mua chác có tính cách để dành vốn như việc mua phiếu tiết kiệm, bảo hiểm sinh mạng là do tính phòng xa thúc đẩy. Tính phòng xa là sự phối hợp của tham muốn và lòng nhân.

Một thương gia sắm dụng cụ văn phòng là do tham muốn: lời thời gian, lợi tiền bạc mà cũng do hoạt động tính: muốn công việc chạy nhanh chóng.

Có nhiều lý do phức tạp thúc đẩy viên chủ hãng trang hoàng cửa hiệu lại cho tiện nghi hơn, cho mới mẻ và đẹp hơn. Trước hết là do lòng tham muốn (hy vọng sẽ bán hàng chạy hơn), do óc hợp đoàn (vì muốn sĩ diện với các đồng nghiệp), do cảm xúc tính (óc thẩm mỹ, có nhiều người thích làm việc trong những văn phòng lộng lẫy) và cũng có khi là do lòng nhân (để nhân viên có thể làm việc trong hoàn cảnh ấm cúng, đầy tiện nghi).

Một chủ gia mua sắm bàn tủ trang hoàng nhà cửa là do bản năng gia đình, thích sống yên vui (lòng nhân). Có khi là do tính thích tiếp tân, đãi đằng bè bạn hoặc vì sĩ diện (óc hợp đoàn) và một cách gián tiếp là do tham muốn (để gây thế trên địa hạt xã hội). Ngoài ra cũng có thể là do cảm xúc tính (óc thẩm mỹ, yêu chuộng những đồ vật đẹp).

Việc mua một cái tủ sắt là do bản năng bảo vệ tài sản (tham muốn), do cảm xúc tính (sợ mất cắp, bị cháy nhà). Người lo bảo hiểm nhà cửa cũng do những lý do nói trên.

Có nhiều lý do khiến người ta mua sắm quần áo. Những lý do này thay đổi tùy theo loại y phục người ta định mua sắm.

Bà khách đặt may chiếc áo dạ hội lỗng lẫy là do óc hợp đoàn thúc đẩy (muốn làm đẹp, làm dáng) cũng có thể do cảm xúc tính (óc thẩm mỹ) hoặc do lòng tham muốn của ông chồng (tính kiêu ngạo).

Một ông sắm “bồ đồ vía” để đi giao thiệp làm ăn là do lòng tham muốn (ăn mặc bảnh bao mới có thể áp phe lớn).

Một “bà lớn” sắm chiếc áo da lông cừu đắt giá là do lòng tham muốn và óc hợp đoàn (tính phô trương của sự xa hoa).

Việc bán bánh, bán mứt kẹo căn cứ trên tham muốn (tính tham ăn) nhưng cũng có thể do óc hợp đoàn (đối với các nhà bán bánh mứt vào dịp Tết Nguyên Đán hoặc Tết Trung Thu) khách mua bánh mứt không cốt để ăn mà để làm quà.

Người đặt một chiếc máy điện thoại là do óc hợp thích hoạt động mà cũng do tham muốn.

Người bán hàng da (rương, va li, các món đồ hành lý) có thể khích động hoạt động tính của khách hàng (thích thú xê dịch), óc hợp đoàn của khách hàng (đặng dịp phô trương các hành lý đắc tiền trong các lữ quán).

Nhà bán dụng cụ thể thao sẽ biết khích động hoạt động tính (thích vận động), cảm xúc tính (những cảm giác thể thao) và óc hợp đoàn của khách hàng (nhất là về các môn thể thao quý phái như quần vợt, đấu kiếm, đấu ngựa v.v…).

Người ta mua những món đồ phụ tùng ô tô vì muốn phô trương chiếc xe (óc hợp đoàn) vì óc thẩm mỹ, đối với một vài món đồ phụ tùng taxi để tô điểm chiếc xe (cảm xúc tính), vì tính tiết kiệm xăng nhớt hoặc giả có thể giúp chiếc xe khỏi hư hao (lòng tham muốn). Đôi khi vì là muốn chiếc xe thêm tiện lợi, chạy nhanh hơn hoặc khỏi sang số tay (hoạt động tính).

Người chủ nhà in có thể kích thích khách muốn in một tập catalogue đẹp bằng cách gợi lòng tham muốn (gia tăng thương vụ), gợi óc hợp đoàn (lấy sĩ diện, thêm tiếng tăm) hoặc gợi cảm xúc tính của khách hàng (óc thẩm mỹ).

Việc bán những mỹ phẩm như tranh, lọ sứ, tượng v.v… căn cứ trên cảm xúc tính (óc thẩm mỹ, lòng yêu cái đẹp) trên tham muốn (hy vọng sẽ có lãi, óc đầu cơ), (có những tay đầu cơ, lẽ dĩ nhiên là những người vừa rất am hiểu hội họa lại rất tinh mắt, mua tranh của một họa sĩ lúc họa sĩ ấy chưa có tiếng, nhờ đó họ mua với giá rẻ, đợi lúc họa sĩ ấy nổi tiếng sẽ bán những tranh ấy với giá đắt gấp nghìn lần) trên óc hợp đoàn (theo lối các nhà giàu mới “nổi lên” mua tranh để khoe với bạn bè rằng mình cũng biết “thưởng thức” nghệ thuật như ai kia).

Người thích sưu tầm cũng như người thích đầu cơ là người vừa có nhiều tham muốn vừa can đảm. Song người sưu tầm có nhiều cảm xúc tính hơn tham muốn. Chúng ta đặng thấy nhiều nhà sưu tầm khi mê say một món đồ vật nào đó, họ chẳng tiếc công tiếc của, lo kiếm cho bằng được những đồ vật ấy để sưu tầm. (Có người sưu tầm tem bưu chính, sách quý, tranh đẹp, đồ cổ, lại có những người thích sưu tầm nhiều đồ vật lạ: các kiểu ống pip, các búp-bê, các kiểu mặt nạ, gươm giáo v.v…). Nhưng một khi họ đã rút hết các cảm xúc thích thú sưu tầm mang đến, khi họ không còn khoái trá ngắm nhìn các đồ vật ấy nữa, họ lại bán đi không chút luyến tiếc. Người bán đồ cổ sẽ biết nhấn mạnh ở hai điểm nói trên, nhưng ngoài ra, việc mua một chiếc bàn hoặc một cái tủ xưa cũng có thể do óc hợp đoàn gây ra (để lấy sĩ diện là nhà giàu xưa).

Người bán hoa sẽ biết gợi cảm xúc tính (thích đẹp), lòng nhân (để làm vui lòng người yêu), óc hợp đoàn (vì nhu cầu xã giao) của khách hàng.

Việc mua sắm những món hàng để làm quà căn cứ ở lòng nhân (để tặng người thân thích), ở óc hợp đoàn (để bắt cầu liên lạc, vì xã giao), hoặc ở lòng tham muốn (lấy con tép bắt con tôm).

Việc mua sắm có thể dẫn nhiều thí dụ khác. Nhưng bao nhiêu đó cũng đủ cho chúng ta thấy điểm quan trọng này là: trong việc quyết định mua một món hàng, những bẩm chất thuộc trí tuệ ít khi can dự vào. Nghĩa là họ mua hàng thường do “tình cảm” hơn là do “lý trí”. (Muốn móc tiền của khách hàng nên nhớ rằng cái ví (bóp) của họ ở gần quả tim hơn khối óc).

Đó là điều mà các tay bán hàng phải nhớ kỹ. Muốn bán đặng hàng, không cần phải biện luận với lý trí của khách hàng mà chính là phải đập mạnh vào tình cảm của khách hàng, bằng cách gợi ra sự ham thích mua hàng nó bắt nguồn từ cá tính thiên nhiên của con người.

Phần III – Chương 4 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC – TÂM LÝ HỌC VÀ VĂN CHƯƠNG

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Chúng ta có thể chia các nhà văn làm hai hạng: những nhà văn có thiên tư và những nhà văn có tài năng. Xin miễn bàn đến hạng văn sĩ tin rằng họ vừa có thiên tư, vừa có tài năng.

Song phân biệt như thế nào cũng chưa mấy rõ rệt, vì có vẻ giả tạo. Làm sao phân biệt ranh giới của thiên tư, của tài năng? Trong lịch sử văn học chúng ta đặng thấy lắm nhà văn viết thật nhiều song chẳng viết nên văn phẩm nào có giá trị, nhưng rồi do sự ngẫu nhiên nào đó, họ lại “đẻ” ra một tác phẩm tuyệt tác. Người ta nói lúc ấy họ gặp hứng hoặc đặng nàng thơ hậu đãi.

Chúng ta hãy thử dùng tâm lý học để xét về vấn đề này.

Những nhà văn làm việc theo phương pháp và những nhà văn làm việc theo trực giác:

Khi chúng ta nghiên cứu về phương pháp làm việc của các nhà văn, chúng ta nhận thấy họ chỉ có hai lề lối làm việc: có người làm việc theo phương pháp, có người làm việc theo “hứng”, theo trực giác.

Ở những người làm việc theo phương pháp, sự cấu tạo văn phẩm của họ nảy nở, phát triển cách điều hòa, từ lúc cái ý tiên khởi vừa chớm nở trong óc đến khi họ thảo nên bố cục tổng quát trên mặt giấy. Có thể nói: họ làm việc chung quanh một ý chánh rồi họ phân chia nó ra từng phần, từng đoạn để tạo ra cái khung cảnh mà họ sẽ theo đó để viết, để hoàn thành tác phẩm. Họ không bỏ qua một chi tiết nào, họ bắt đầu viết ở chỗ phải khởi đầu và họ chấm dấu “hết” ở chỗ phải chấm dứt. Vì thế mỗi ngày họ có thể sản xuất ra đều đều đúng cái số trang mà họ đã định viết.

Từ lúc cái ý chánh của cốt truyện đã phát hiện trong trí óc, họ có thể tiên đoán trong thời hạn bao lâu họ sẽ viết xong quyển truyện ấy. Những chu kỳ tinh thần của họ luôn luôn đầy đủ và tiếp diễn rất mạch lạc. Vì thế những tác phẩm của họ thường đặng xây dựng cách chắc chắn, nhưng hình như thiếu một cái gì lôi cuốn, cái thần, nó đánh dấu một thiên tài.

Xét về tâm lý học, những nhà văn làm việc theo phương pháp là thuộc hạng đầu có kỷ hà, tâm trí điều hòa, kém cảm xúc nhưng hoạt động bền bỉ. Buffon, Boileau thuộc hạng nhà văn này (Xét về các nhà văn Việt Nam có thể kể: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh vào hạng này). Thiên tư của họ nếu có, chẳng qua đó là một sự kiên nhẫn dài…

Hạng sau thường gồm có những bậc thiên tài, chúng ta nhận thấy đó là những người có tâm thần bất định phụ họa với tính đa cảm xúc. Người có tính bất định sẽ thâu thập nhiều cảm giác lúc họ trải qua giai đoạn suy nhược, càng đa cảm xúc họ càng thâu thập đặng nhiều cảm giác. Chính trong thời gian này, cái ý tổng quát của tác phẩm đã phát sinh trong óc họ, nó nảy nở một cách ngẫu nhiên, vô chừng, trong một phút mơ mộng, một buổi đi dạo, do một sự việc xảy ra, một biến cố, tuy thế nó vẫn chưa thành hình, chưa đặng vững chãi. Do những chu kỳ tâm lý, nhà văn sẽ mơ tưởng về ý đó, những chu kỳ này giúp họ moi móc trong ký ức, gợi ra những truy tưởng, sau rốt họ sẽ phán đoán, có khi óc phán đoán lại xen vào. Lúc bấy giờ nhà văn cũng chưa có ý niệm cụ thể sẽ như thế nào, nó sẽ dài hay ngắn, họ cũng chưa biết.

Luôn luôn người ta thấy dấu vết cái giai đoạn ám ảnh này trong thời kỳ khơi nguyên của những tác phẩm có giá trị. Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn. Sau đó đến giai đoạn khích động, bao nhiêu truy tưởng, bao nhiêu cảm giác thâu thập trong giai đoạn trước sẽ tuôn trào ra như một dòng suối, không bao giờ cạn, đẩy mạnh ngọn bút của nhà văn chạy một mạch trên trang giấy. Tác phẩm đã thành hình, nó bật ra như một khối đá tảng và đôi khi mang dấu tuyệt mỹ, nó thành một tuyệt phẩm.

Những bậc thiên tài chính hiệu trong tất cả các ngành mỹ thuật đều là những người có tâm thần bất định lại đa cảm xúc. J.J. Rousseau, Molière, Beethoven, Baudelaire, Musset là những thí dụ sáng tỏ.

Sở dĩ nhiều văn nghệ sĩ hay tự tử hoặc đắm mình vào những cõi thiên đàng giả tạo, hút xách, chè chén, vì như đã nói trên, bản chất họ vốn đa cảm lại thêm tính bất định.

Gặp lúc tinh thần xuống dốc, đôi khi nhà văn phải nhờ đến những chất ma túy (như thuốc phiện) nó kích thích họ rất mạnh trong nhất thời, làm cho họ ngờ rằng “nàng tiên nâu” đã mang đến cho họ nhiều “từ” giúp họ sáng tác dễ dàng. (Theo ông Thomas de Quincey, tác giả quyển “Hồi ký của một người nghiện thuốc phiện” (Les Confessions d’un mangeur d’opium) thì chất ma túy không nảy sanh ra “tứ”, nó chỉ giúp chúng ta nhớ lại những ký ức gần phai mờ. Và đây, ý kiến của ông V. Descreux, người bình luận tác phẩm của ông Quincey:

“Có thể nào nhà văn dùng thuốc phiện hoặc những chất ma túy tương tự để giúp cho tinh thần thêm sáng suốt chăng? Có thể trả lời: Có. Nếu nhà văn dùng nó để tạo nên những điều kiện thuận tiện cho công việc trước tác, để làm dịu bớt những nỗi đau đớn về thể chất hoặc tinh thần nó là trở ngại chính trong công việc trước tác. Chúng tôi sẽ trả lời: Không. Nếu nhà văn định dùng nó để sáng tạo, hoặc chỉ để nhận xét. Trong vở kịch Hamlet, Shakespeare nói: Trong thực tế có lắm điều mà với tất cả cái triết lý của anh, anh cũng không dám mơ tưởng đến”.

Như chúng ta thấy, chất ma túy chỉ có thể làm dịu bớt trong nhất thời cái trạng thái lo âu, nhưng nó không thể cung cấp cho nhà văn những tài liệu mới mẻ nào). Nhưng rồi không mấy chốc, họ sẽ phải hứng lấy những hậu quả tai hại, khốc liệt của sự đầu độc này. Xem lại tiểu sử của Verlaine, Oscar Wilde, Jarry, Musset Edgard Poe, (nhất là ở E. Poe, chúng ta thấy rõ chứng tâm thần bất định). (Ở nước ta, nhiều nhà văn thuộc thời tiền chiến đều nghiện ngập: Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính, Lan Khai…).

Khi cơn khủng hoảng tinh thần ấy trở nên quyết liệt, nó có thể đưa nhà văn đến chỗ tự sát. Họ sẽ mất hết tin tưởng, ngờ vực tất cả, ngờ vực cả cái thiên tư, cái văn nghiệp của mình, họ thấy chỉ còn có cách là ẩn trú trong cõi chết, trường hợp của văn sĩ Gérard de Nerval. (Giáo sư Achille Delmas nhận thấy tinh thần bất định là nguyên nhân của 90% vụ tự sát. Định mệnh của người tự sát là do một khí chất tâm lý bất thường “Không phải ai muốn tự sát mà được” (Psycho, logie pathologique du suicide) Alcan X.B Pariss 1932).

Việc cấu tạo một quyển tiểu thuyết:

Việc cấu tạo một tác phẩm thuộc loại tưởng tượng như tiểu thuyết, đòi hỏi nhà văn nhiều đức tính. Không bàn về lối hành văn hoặc về cốt truyện, ngay cái truyện mà nhà viết tiểu thuyết kể lại có hấp dẫn độc giả hay chăng một phần lớn là ở điểm nhà văn ấy có biết diễn tả những phản ứng của các nhân vật trong truyện đúng với tâm lý chăng. Nếu chúng tôi không lầm, một tiểu thuyết gia nổi tiếng, ông Paul Bourget có nói đại để: “Một quyển tiểu thuyết khó thể làm say mê độc giả nếu trong đó không có một phần nào “có thể tin được”.

Trước khi viết truyện nhà văn đã gán cho mỗi nhân vật trong truyện một cá tính nhất định. Những chủ đề của bài toán đã đặng nêu ra trước. Những phản ứng của các nhân vật đứng trước những hoàn cảnh mà truyện đã nêu ra, không còn tùy thuộc vào người viết tiểu thuyết nữa. Những nhân vật ấy phải hành động đúng theo cá tính mà nhà viết tiểu thuyết đã gán cho họ.

Quyển truyện sẽ kém phần hấp dẫn nếu cá tính của các nhân vật trong truyện lờ mờ, không đặng rõ rệt. Độc giả sẽ thấy ngay đó là những hình nộm mà tác giả giựt dây chứ không phải những con người có thật, những nhân vật “sống” và người đọc sẽ trách tác giả đặt sai vấn đề. (Về điểm này chúng ta phải phục những tác giả đã soạn ra các pho truyện tàu như Tam Quốc, Đông Chu, Thủy Hử. Các nhân vật trong truyện ấy phần nhiều là những “nhân vật đặt trưng”, không ai có thể lầm lẫn một Quan Công, một Tào Tháo, một Lưu Bị. Có nhà phê bình nhận xét: Đặc biệt nhất là truyện Thủy Hử, trong đó có hằng mấy chục nhân vật chính song mỗi nhân vật lại đều có những cá tính đặc biệt không ai giống ai cả). Mặt khác, nếu những nhân vật đã đặng tác giả tạo ra có những tính năng riêng biệt, song những nhân vật ấy lại hành động không đúng với cá tính của họ thì chúng ta sẽ ngạc nhiên một cách khó chịu. (Khái Hưng là một nhà tiểu thuyết có tiếng là sành tâm lý, nhưng khi đọc truyện “Trống Mái” của ông, chúng ta không khỏi bất mãn về thái độ và cử chỉ rất khó hiểu của hai nhận vật chính trong truyện: Hiền và Vọi. Hiền một cô gái trưởng giả, có học, thuộc hạng tân thời, say mê anh Vọi, một anh chàng đánh cá, chỉ vì anh ta có một thân hình đẹp như pho tượng. Đọc qua truyện ấy, chúng ta có cảm tưởng là họa chăng truyện ấy chỉ có thể xảy ra bên kia trời Âu chứ không thể xảy ra bên đất Việt Nam vì nó quá cách biệt tâm lý phụ nữ Việt Nam. Tuy thế đây chỉ là tiểu thuyết và chúng ta cũng còn có thể châm chế cho óc tưởng tượng quá mức của tác giả. Nhưng khi xét đến những hành động và thái độ của Hiền và Vọi thì chúng ta không sao còn hiểu nổi. Ai đời một cô gái mê trai mà không biết giấu diếm tình cảm của mình lại còn phô bày cho tất cả mọi người biết, chẳng những thế, cô gái “thông minh” ấy lại còn mời người yêu rất “ngốc tử” của mình đến dự buổi tiệc trà mà đông đủ các bạn lịch lãm và học thức của mình. Có phải cô ta muốn “chế giễu” anh Vọi chăng? Không, cô ta yêu say đắm anh chàng ta. Đã “yêu say đắm” thì có ai lại nỡ đem người mình yêu ra làm “trò cười” cho thiên hạ, tại sao tác giả lại gán cho cô những cử chỉ vừa khích mạn vừa vô lý ấy?). Ở trường hợp này tác giả đặt đúng vấn đề song lại giải sai.

Những dẫn chứng của tâm lý học hiện giờ rất cần thiết cho nhà tiểu thuyết cũng như cho nhà soạn kịch. Đã đẻ ra những nhân vật, tác giả có quyền tạo cho các nhân vật ấy một cá tính nào đó. Nhưng, khi cái phương trình cá tính của các nhân vật ấy đã đặng nêu ra, tác giả không có quyền thêu dệt nữa, tác giả bắt buộc phải làm thế nào để mỗi nhân vật ấy phải hành động, nghĩ suy phù hợp với cá tính của họ.

Trong vở kịch “Sáu nhân vật đi tìm tác giả” (Six personnages en quête d’auteur), Pirandello đã nhận thấy điểm quan trọng ấy. Bên tai tôi còn văng vẳng những lời phản đối hốt hoảng của một trong sáu nhân vật ấy trong lúc tập tuồng, khi hắn thấy ông bầu gánh định sửa đổi vai tuồng của mình.

Những nhân vật trong các vở kịch cũng như trong các tiểu thuyết phải có một cá tính bất di bất dịch. Có như thế nó mới trường tồn. (Nhiều nhân vật tiểu thuyết đã thành nhân vật điển hình: khi nói đến người hà tiện chúng ta nhớ ngay hình ảnh lão Grandet của Balzac, nói đến hạng anh hùng rơm, chúng ta liên tưởng đến chàng Don Quichotte của Cervantès, nói đến gã bợm bãi, chúng ta nhớ đến Sở Khanh và nói đến hạng buôn thịt người là chúng ta thấy ngay hình ảnh mụ Tú Bà của Nguyễn Du). Sự trường tồn của một văn phẩm cắn cứ ở điểm chính này là nó có đúng với tâm lý hay chăng. Một quyển tiểu thuyết viết cách đây ba mươi năm vẫn còn có người thích đọc nếu nó chứa đựng được ít nhiều “thực chất của muôn đời”. Trái lại nó sẽ bị chôn vùi trong lãng quên nếu nó thuộc hạng “tâm lý giả hiệu”, nghĩa là chỉ hợp với thị hiếu thời đại. Khi cái thời ấy đã qua, không còn ai buồn xem tác phẩm ấy nữa. Xét trong văn học sử Pháp, quyển “Asirée” của Hononré là một pho tiểu thuyết rất đặng hoan nghênh ở thế kỷ XVII, nhưng hiện giờ có ai còn can đảm để đọc nó?

Hiện giờ, nếu xem lại những tác phẩm của thời kỳ lãng mạn đã từng làm rơi lụy bao nhiêu thanh niên nam nữ trong thời ấy, chúng ta bắt phì cười. Vì sao? Chỉ vì các nhân vật do những tác giả của thời ấy tạo ra không đúng với những mẫu người có thực mà chỉ là những mẫu người thích hợp với thị hiếu của thời đó, hoặc do óc tưởng tượng của các tác giả ấy đẻ ra. Họ tra cho các nhân vật ấy một “bộ cánh tâm lý” hợp với “thời trang” của thế kỷ thứ XIX thật, nhưng hiện giờ, khi thấy một người ăn mặc theo thời ấy, chúng ta sẽ tưởng chúng như họ ăn mặc theo lối trá hình. (Xét trong văn học Việt Nam hiện giờ có ai còn tìm xem quyển “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách không? Không phải vì nó xưa, quyển “Kiều” của Nguyễn Du còn xưa hơn, song người ta vẫn đọc và vẫn thưởng thức “Kiều” nhưng không ai đọc “Tố Tâm” nữa chỉ vì các nhân vật trong truyện ấy không sát thực với tâm lý. Nhiều tiểu thuyết của Lê Văn Trương cũng ở trường hợp ấy. Có một thời tiểu thuyết của Lê Văn Trương đã đặng độc giả hoan nghênh, nhưng hiện giờ ít ai xem. Thời ấy thanh niên hoan nghênh Lê Văn Trương vì ông đề cao “triết lý sức mạnh”, nêu ra những “người hùng” rất hợp thời, bởi sau mấy mươi năm bị đô hộ, bị áp bức, tự nhiên con người ta phải thích cái gì “hùng”, “mạnh”. Rất tiếc là những nhân vật ông tạo ra có vẻ gò ép, những “người hùng miễn cưỡng” của ông có vẻ những hình nộm hơn là những người thực nên số mệnh của chúng cũng mong manh).

Tâm lý học và những tác phẩm cổ điển:

Chúng ta phải chịu rằng những định luật của tâm lý học hiện đại là đúng khi chúng ta nhận thấy: tất cả các nhân vật trong những tác phẩm đặng người ta cho là “cổ điển” đều có những cá tính rõ rệt.

Xem như những tác phẩm của Stendhal, lúc ông sanh tiền, tức là vào thời kỳ lãng mạn, không ai thích xem nhưng hiện giờ người ta lại hoan nghênh. (Bạn đọc lưu ý: Thời điểm xuất bản sách này là 1956 – ldlvinhquang). Người đồng thời không hiểu ông, chỉ vì ở thời lãng mạn ấy Stendhal lại có can đảm đưa ra một Julien Sorel, nhân vật chính trong tiểu thuyết “Le Rouge et le Noir”, một mẫu người rất “thực” nhưng không hợp với phong trào lãng mạn thời bấy giờ.

Chúng ta có thể phân tách cá tính của Julien Sorel: một người nhiều hoạt động, nhiều tham muốn. Óc hợp đoàn cũng quá mạnh gần như đến mức khoác lác. Nhưng bởi kém lòng nhân nên hắn phải giết người để thỏa mãn cao vọng của mình.

Xét ngay trong truyện “Kiều” ngoài phần văn chương trác tuyệt mà ở đây chúng tôi xin miễn bàn, chúng ta còn thấy cái tài của Nguyễn Du ở điểm: chỉ trong một tập truyện ông đã tạo ra bao nhiêu nhân vật điển hình vì mỗi nhân vật đều có một cá tính riêng biệt, những nhân vật ấy lại có những suy nghĩ và hành động hợp với cá tính của họ, tức là rất đúng với tâm lý, rất sát với “thực” do đó mà các nhân vật ấy sống mãi với thời gian.

Một nàng Kiều đa cảm lại đa tình (giàu lòng nhân, rất nhiều cảm xúc tính) nhưng ít nghĩ suy hoặc chỉ nghĩ suy bằng quả tim (kém có phán đoán) lại quá suy nhược (thiếu hoạt động tính) nên cam sống một cuộc đời thụ động phó mặc cho định mệnh:

“Phận sao đành vậy cũng vầy

Cầm như chẳng đổ những ngày còn xanh”

Tính lại bất định gặp lúc tinh thần xuống dốc dám đắm mình xuống sông Tiền Đường.

Một Kim Trọng tượng trưng con người điều hòa, biết suy nghĩ, tâm tính bên trong xứng với cái mã ngoài “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”, vốn đa tình (giàu lòng nhân) nhưng không quá đa cảm (cảm xúc tính vừa phải), biết nhận định sự việc (nhiều óc phán đoán). Phải là người rất quân tử, có độ lượng biết suy nghĩ mới có thể thốt ra câu:

“Bấy lâu đáy bể mò kim

Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa?

Ai ngờ lại họp một nhà

Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm”.

Một Từ Hải:

“Giang hồ quen thói vẫy vùng

Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”.

Tiêu biểu cho hạng người hoạt động, nhiều tham vọng (rất nhiều tham muốn, nhiều hoạt động tính) song dưới cái vỏ khô khan có ẩn núp nhiều tình cảm, khi có người biết đánh vào chỗ yếu cũng biết rung cảm như ai:

“Khen cho con mắt tinh đời

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già

Một lời đã biết đến ta

Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau”.

Nhưng kém óc phán đoán, dó đó mới phải chết một cách nông nổi vì tay Hồ Tôn Hiến, bởi nghe lời người yêu về đầu hàng. Cho nên về sau, nàng Kiều đã phải khóc:

“Khóc rằng: trí dũng có thừa

Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này”.

Hiện giờ người ta còn tìm đọc truyện Kiều vì người ta vẫn còn nhận ra những nàng Kiều, những Kim Trọng, Từ Hải hoặc Sở Khanh, Hoạn Thư ngay trong xã hội hiện đại.

Trong số các nhà văn cận đại, có lẽ Khái Hưng là tác giả sở trường về tâm lý nhất, cũng có thể kể thêm Nhất Linh. Tuy nhiên những nhân vật ông đưa ra có giá trị không đồng đều, có những nhân vật thật “sống”, lại có những nhân vật rất “giả tạo”, khi ông cố gò ép để một vài nhân vật ấy thành ra nhân vật lý tưởng. Chẳng hạn trong “Nửa Chừng Xuân”, Mai và Lộc vẫn còn yêu nhau (theo tác giả), nhưng tác giả vẫn không để cho hợp nhau, chỉ vì muốn cho họ có thái độ “cao thượng” nhưng chính đó là chỗ hỏng vì người đọc thấy ngay tính tình giả tạo. Cô Hiền trong “Trống Mái” cũng rất giả tạo hoặc chỉ có óc tưởng tượng của tác giả vì tác giả đã tạo ra cho cô những hành động vô lý, những hành động không “người” chút nào.

Trái lại bà Án Ba trong “Thừa Tự” rất điển hình cho hạng đàn bà tháo vác, keo kiệt (nhiều tham muốn), thương con nhưng thương vì mình chứ không vì hạnh phúc của con (kém lòng nhân và thiếu phán đoán), sống vì dư luận nhiều hơn vì mình (nhiều óc hợp đoàn). Bà định gả Cúc, con riêng của bà cho người con chồng chỉ vì muốn có chút nén hương sau khi chết và để đánh tan tất cả những điều dị nghị của thiên hạ về sự đối đãi của bà với các con chồng.

Và giáo Hạnh, trong tiểu thuyết ngắn “Hạnh”, một thanh niên nhút nhát, mơ mộng cũng rất tiêu biểu cho con người nhút nhát vì suy nhược (rất nhiều cảm xúc tính nhưng kém hoạt động tính).

Một tiểu thuyết gia tiền bối, cụ Hồ Biểu chánh, cũng đã tạo ra nhiều nhân vật rất “sống”, dù chưa nổi bật hẳn để thành nhân vật điển hình. Tiểu thuyết của ông thiên về việc kể chuyện nhiều hơn là tả tình, tức là ít phân tách tâm lý, tuy nhiên phần nhiều các nhân vật ông đã nêu ra đều diễn đúng tính tình của họ qua những hành vi và thái độ. Có lẽ nhờ chất “thực” này mà hiện nay độc giả (nhất là độc giả miền Nam) vẫn thích xem tiểu thuyết của ông.

Nhiều tác phẩm có tính cách nội quan như: hồi ký, tiểu thuyết tự thuật, ký ức v.v… cũng có thể tồn tại với thời gian mặc dầu trong những văn phầm thuộc loại này tác giả thường vô tình hay “gia vị” phần nào, nhưng tựu trung nó cũng phản ảnh đặng một cá tính có thực. Vì lẽ đó những tác phẩm của P. Loti, của bà Colette được nhiều người mến chuộng. Những tác phẩm tác giả tự đem mình ra để phân tách như bộ “Essais” của Montaigne, “Pensées” của Pascal vẫn trường tồn cũng vì lý do nói trên. Trong văn học cận đại Việt Nam, chúng ta thấy có Nguyễn Tuân (Nguyễn Tuân trong thời tiền chiến) là nhà văn phô bày “con người” của mình một cách thành thực trong nhiều tác phẩm của ông. Qua những tác phẩm như “Thiếu Quê Hương”, “Một Chuyến Đi”, “Chiếc Lư Đồng Mắt Cua” người đọc hiểu rõ tâm hồn của tác giả một cách không mấy sai chạy, một tâm hồn ngờ vực nên đâm ra khích bạc, bất mãn hoàn cảnh hiện tại nhưng vì tâm thần suy nhược lại bất định nên chỉ biết đối phó bằng cách trốn đời, thích xê dịch mà ông ta gọi là “phiêu lưu”.

Tâm lý học và môn kịch:

Nhà soạn kịch vần phải thấu hiểu tâm lý học hơn nhà tiểu thuyết. Một quyển tiểu thuyết có khuyết kém về tâm lý, đôi khi có thể nhờ câu văn bay bướm hoặc màu sắc của những khung cảnh trong truyện che lấp đi phần nào. Nhiều tác phẩm của Chateaubriand chẳng hạn chỉ nhờ câu văn quyến rũ mà hiện nay còn đặng người tan ham thích, chứ xét về nội dung thực ra không còn đáng cho chúng ta chú ý. (Trừ tác phẩm “Mémoires d’outre-tombe” của ông nó thuộc loại nội quan. Mà thực vậy, hiện giờ trong số những tác phẩm của Chateaubriand chỉ có tác phẩm này là đặng người ta thường nhắc nhở nhất. Trong dịp kỷ niệm bách châu niên Chateaubriand gần đây người ta đã ấn hành lại tác phẩm này). Nhưng trên sân khấu, chúng ta đặng thấy các diễn viên “sống” với vai tuồng của họ. Khi những vai tuồng này không cấu tạo sát với tâm lý, chỗ khuyết điểm ấy sẽ nổ bật lên ngay và dù không sành về kịch người ta cũng dễ nhận thấy.

Chúng ta hường thấy khuyết điểm này trong nhiều phim ảnh hiện nay, lắm cốt truyện phim rất ngây ngô làm sao ấy, bởi những nhân vật trong phim đặng dựng nên một cách giả tạo. Cái lộng lẫy của hình ảnh, sự rực rỡ của cảnh trí không làm cho chúng ta quên rằng các nhân vật hoạt động trên màn bạc là những con người. Ở điểm này chúng ta càng nhận thấy rõ thiên tài của Charlie Chaplin. Có lẽ ông là nhà soạn phim và diễn viên duy nhất có thể sắm tuồng trên một cách đồng hoang mà khán giả sẽ không một ai nhận thấy sự thiếu thốn về bối cảnh.

Phần III – Chương 3 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC – ÁI TÌNH VÀ PHỤ NỮ

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Yêu và… yêu:

“Anh có yêu em chăng?” – “Em yêu quý của anh”. Mấy câu đối đáp muôn đời mà từ thuở nào những cặp tình nhân trên thế giới này đã từng thốt ra. Nhưng chúng ta nên tìm hiểu nghĩa những gì chúng ta nói. Ngôn ngữ Pháp tuy rất phong phú về những danh từ gần đồng nghĩa nhưng lại rất nghèo nàn về những danh từ để chỉ về yêu đương. Chúng ta chỉ có một danh từ là “ái tình” và những danh từ do gốc đó mà ra để diễn tả bao nhiêu trạng thái khác nhau của tâm hồn. Khi người ta nói đến ái tình một cách gọn lỏn, thoáng qua người ta không biết rõ mình nói gì. Để nói về mối tình mà câu thư sinh trao gửi cho đô đào chớp bóng, để chỉ về tình yêu của một tân lang đối với giai nhân, để chỉ về mối tình giữa một cặp tình nhân, về mối tình của nhà thơ đối với nàng thơ hoặc của gã Sở Khanh đối với cô gái sau cùng vừa sa vào cạm bẫy của hắn? Hoặc của đôi trai gái vừa ước hôn? Chúng ta nên định rõ nghĩa.

Như chúng ta đã biết, ái tình không phải là một khuynh hướng đơn giản như lòng ái quốc hay yêu súc vật. Chúng tôi cũng đã nói: ái tình đặt cơ sở trên bẩm chất lòng nhân, mà lòng nhân lại do tính dục, một trong những điều kiện sống mà ra, nhưng ái tình cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác. Trong ái tình người ta có thể nhận thấy trước hết là sự lôi cuốn của xác thịt, sự thèm khát về tình dục bắt nguồn nơi phần sinh lý của chúng ta. Nội một sự trạng này cũng sinh ra lắm thứ ái tình, từ thứ tình yêu thuần nhục dục đến tình yêu không tưởng.

Nhưng ngoài ra, toàn bộ cá tính chúng ta đều có dự phần trong tình yêu, những bẩm chất thiên nhiên chúng ta dự vào với tư cách là những yếu tố bổ chính. Một người có quá nhiều bẩm chất tham muốn rất dễ bị cái óc chiếm đoạt chi phối, nếu người ấy lại đa cảm xúc, tự nhiên y phải mắc chứng ghen tuông nguy hại.

Một người suy nhược sẽ yêu đương một cách nhút nhát, có khi họ chẳng dám tỏ tình trong khi người nhiều hoạt động tính chinh phục người yêu một cách tạo tợn. Người hoạt động biết chia cuộc đời ra nhiều ngăn nhờ vậy trong những lúc làm việc họ biết đuổi xua hoặc dẹp qua bên những chuyện tâm tình. Người bạc nhược, trái lại không dám thốt ra mối tình ấp ủ trong thâm tâm để rồi bị nó ám ảnh mãi. Người đa cảm sẽ yêu một cách nồng nhiệt hơn người có tính thản nhiên vì do bản chất, người thản nhiên không biểu lộ những cảm xúc của họ. Người ích kỷ theo lối các cụ già vừa yêu nhưng cũng vừa hành hạ con chó con yêu quý của họ. Người vị tha trái lại suốt đời quỳ lụy dưới chân người yêu.

Trí tuệ và nhất là óc phán đaón cũng có thể tham dự vào tình yêu, để bổ túc, để sửa đổi, để kềm giữ nó ở mực trung bình.

Điều nguy hại trong tình yêu là khi những quyến rũ của xác thịt và những tình cảm không đặng phối hợp, không đặng chồng lên nhau mà lại đi song song. Có khi người đàn bà gần gũi người đàn ông mà họ yêu nhưng họ lại chỉ nếm đặng những khoái cảm tương đối thôi, thường là một khoái cảm thuộc đầu óc. Cũng có khi họ yêu chỉ vì xác thịt thôi. Điều này nhận xét về những đàn ông cũng đúng.

Sau hết còn bao nhiêu yếu tố khác thuộc bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của tình yêu. Không phải bình luận dài dòng, chúng ta có thể nhận thấy những yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến tình yêu: sự tự do hoặc áp bức, sự sống chung hoặc sự xa cách, sự cách biệt về địa vị xã hội, về học vấn, về giáo dục, về hoàn cảnh sống, về tài sản và ngay những chức nghiệp cũng có ảnh hưởng đến tình yêu.

Như thế chúng ta có thể nói: tình yêu hết sức chủ quan. Không có mối tình của một người nào lại đặng giống mối tình của một người khác.

“Em không yêu anh như anh đã yêu em”. Câu phiền trách muôn đời của những cặp tình nhân. Câu phiền trách rất vô lý này lại là nguyên do của bao nhiêu thất vọng, bao nhiêu thảm kịch. Về điểm này không có cặp tình nhân nào biết nhận xét sáng suốt.

Khôn ngoan hơn, chúng ta nên nhận lấy người yêu, tìm hiểu và tìm cách dung hòa với họ. Trong tình yêu cũng như trong tình bạn đừng đòi hỏi người kia những gì mà họ không thể cho chúng ta.

Có hiểu biết nhau, mới mong có hạnh phúc. Điều cốt yếu không phải là cái sắc thái của tình yêu mà chính là cái lòng thành của người đã hiến mối tình ấy cho chúng ta.

Tâm lý học và đàn bà:

Những dẫn cứ của tâm lý học lẽ dĩ nhiên có thể áp dụng cho đàn bà cũng như cho đàn ông, tuy thế hai phái vẫn tố cáo lẫn nhau rằng “không ai hiểu mình cả”.

Các bà thường cho rằng “bọn đàn ông là ích kỷ” và các ông thường cho rằng “đầu óc đàn bà kém cỏi” trí thức không bằng họ.

Nếu phải luận về cái khía cạnh của thói ích kỷ của các bà, nhất là các bà đang si tình, có lẽ phải mất nhiều trang giấy. Còn về sự chê trách của các ông, nó chỉ đúng một phần nào đó thôi. Vẫn biết rằng trong những địa hạt mỹ thuật và khoa học, phái nữ không sao bì nổi với phái nam, không kể một vài trường hợp ngoại lệ, tuy thế các bà cũng chẳng kém thông minh hơn các ông. Cái trực giác, cái linh tánh mà các bà thường tự hào đặng dà do lề lối giáo dục, các bà phải quan sát nhiều hơn các ông. Họ góp nhặt, phối trí cái kỷ niệm của những việc nhỏ nhặt rồi họ rút lấy kết luận… nhưng thường khi không mấy đúng.

Nhiều tiểu thuyết gia đã từng thêu dệt chung quanh cái đề tài: sự bí mật của người đàn bà, về lòng nham hiểm của người đàn bà hoặc về lòng dạ khó lường của người đàn bà. Có nên nhắc lại câu thơ này của J. Samain:

Ôi đàn bà, một cái hố sâu thẳm nó giữ miết những ai đắm mình vào đấy.

Đó là một bả mồi hay một cạm bẫy, dù sao cũng chỉ là một tấm thân dệt toàn bằng mộng.

Thật ra cá tính người đàn bà không bí mật gì hơn của người đàn ông, nhưng khi một người bên phái này phán đoán về người bên phái kia thì luôn luôn họ bị ảnh hưởng bởi yếu tố tính dục. Do bản năng, khi gặp nhau lần đầu, họ tự xếp loại nhau theo mấy hạng: “có thể yêu” hoặc “rất có thể yêu”. (Một cảnh thường thấy: Trong một nhà hàng hoặc ở một nơi nào khác tương tự. Khi có một người đàn bà bước vào, tất cả bọn đàn ông có mặt đều liếc mắt để rồi ngoảnh mặt liên sau đó, nếu người đàn bà ấy “không có gì hấp dẫn”. Khi có một người đàn ông bước vào? Tất cả những cắp mặt xanh cũng đều ngước lên để rồi trở nên lạnh lại nếu người đàn ông ấy chẳng có gì đặc sắc, nói theo thời đại nguyên tử này là không có “điện lực”). Họ chỉ nhận xét theo yếu tố tình cảm, có cảm tình hay ác cảm, một yếu tố không ăn chịu với việc muốn tìm hiểu cá tính của một người. Chúng ta thấy nhận xét trên rất đúng vì khi người đàn bà đã luống tuổi, bóng sắc đã về chiều thì đối với bọn đàn ông họ cũng không còn là một cái gì bí mật nữa.

Một triết gia nói: “Người ta chọn bạn, không ai có thể chọn những kẻ thù của mình”. Dựa theo câu này chúng ta cũng có thể nói: “Người ta chọn vợ (ít ra trong một phần nào đó), không ai có thể chọn người nhân tình của mình”.

Một cuộc tình duyên có đặng nảy nở hay chăng thường do những trường hợp thuận lợi về cảnh trí, về không khí, về cách trang phục và cũng do những điều khả dĩ đưa đến thuận chiều hay chăng, hoặc vì người ta biết chắc mối tình ấy sẽ đặng giữ kín đáo. Đôi khi chỉ vì thiếu một trong những yếu tố thuận lợi đó mà một vài đàn bà khỏi sa ngã, giữ đặng tiết trinh, và một vài đàn ông có dịp “làm cao”. Muốn yêu, hai người chỉ cần thích nhau, dù là chỉ thích nhau trong giây lát, song tình yêu ấy có thành tựu hay sẽ tan, điều ấy không thuộc quyền của họ (mặc dù có người vẫn tưởng rằng họ có thể chi phối đặng tình yêu) nó còn tùy hoàn cảnh của mỗi người lúc gặp gỡ.

Sau đó đến đoạn “vỡ mộng” vì lúc đầu hai bên đều giữ kẽ, họ không thích vén tấm màn dĩ vãng của nhau hoặc có vén lên họ cũng chỉ trình bày những khía cạnh nào đẹp đẽ nhất, lẽ đương nhiên là rất sai với sự thực; điều khác, lúc bấy giờ sức quyến rũ của xác thịt làm cho họ tối mắt, và những năng lực của họ dùng để nhận xét về tâm lý hình như bị tê liệt.

Một người đàn bà, dù là người như thế nào đi nữa, cũng không có gì là bí mật. Muốn phán đoán về họ, để hiểu họ, người đàn ông chỉ cần quên mình là người đàn ông và hãy nhìn qua cách sống của họ.

Ngoài ra, trong việc khảo xét về phụ nữ, chúng ta còn vấp phải khó khăn này là cá tính tập thành của họ thường bị che kín chứ không bộc lộ như ở người đàn ông. Họ đặng giáo dục cách nghiêm ngặt hơn chúng ta. Khi còn con gái (dù là hạng tân thời) họ cũng không đặng tự do như bạn trai. Lúc đã có đôi bạn, họ thường bị câu thúc bởi những ràng buộc của xã hội, của lễ giáo. Mặc dù điều này cũng còn tùy địa vị xã hội của mỗi người. Những đàn bà thuộc hạng tiểu tư sản sống ở thành thị vì chồng bận việc suốt ngày có lẽ đặng tự do hơn những “bà lớn” thuộc hạng trưởng giả thường bị bọn gia đinh rình mò, hoặc những đàn bà hạng dân giả thường bận bịu về công việc nhà.

Sở dĩ các bà thường có vẻ bí hiểm là bởi con người, một “con vật có óc địa chủ” đã xây đắp những bức thành kiên cố chung quanh họ. Từ thuở bé, người ta đã dạy họ cách giấu nhẹm mọi phản ứng và người ta cũng tập cho họ tính e dè, kín đáo, một cách gắt gao hơn bọn đàn ông.

Khéo léo trong cách nói chuyện, họ biết dùng lời nói để che đậy tâm tư. Luôn luôn họ dè dặt, kín đáo không phải do bẩm sinh mà do giáo dục.

Nhưng người ta vẫn có thể lột cái mặt nạ ấy ra, bằng chứng là ở giai đoạn sau đây: Có bà nọ đến nghe ông Marcel Boll diễn thuyết, lại chất vấn ông:

– Tôi tin chắc rằng không sao ông có thể biết rõ cá tính của tôi.

Diễn giả chặn ngay:

– Bà khỏi nói thêm, với câu bà vừa thách đố, tôi đã biết rõ đặc điểm của tâm tính bà.

Đàn ông chúng ta thường không mấy người am tường về cách ăn mặc của phụ nữ. Chúng ta thường chỉ biết móc bóp phơi trả tiền công thợ may cho các bà. Âu đó cũng là điều đáng tiếc, vì liếc qua mà có thể đoán biết chiếc áo của bà kia đang mặc nó xuất xứ từ nơi một nhà may có tiếng hay từ một nhà bán quần áo may sẵn, hoặc giả biết phân biệt thứ bít tất bằng tơ nhân tạo cũng giúp ích cho chúng ta khá nhiều trong việc xét đoán phụ nữ.

Một người đàn bà trang sức một cách giản dị nhưng rất phong nhã chứng tỏ họ có óc hợp đoàn, có nhãn thức, có tính chừng mực do óc phán đoán. Sự phong nhã không đo lường bằng xa hoa, bằng tiền của. Một người đàn bà có thể ăn vận một cách phong nhã với những thứ hàng vải rẻ tiền. Nếu họ không thuộc hạng dư giả thì sự dung dị trong cách phục sức cũng làm tỏ rõ nhãn thức của họ.

Những gì có tính chất xa hoa giả hiệu hoặc kiểu cách: kim cương giả, ví da cá sấu giả, áo viền ren không phải chỗ, những nút áo kiểu kỳ dị, giày có dính đầy kim tuyến hoặc hạt chai v.v…; sự thiếu hòa hợp trong phục sức: áo bằng hàng đắc tiền lại đi đôi với ví cầm tay kiểu tầm thường mua hở hiệu Pazar hoặc chiếc áo dài màu hồng mặc chung với chiếc áo lót màu xanh da trời v.v… tất cả những lầm lỗi về nhãn thức ấy chứng chỉ một người kém óc phán đoán.

Một người đàn bà có óc phán đoán bao giờ cũng biết ăn mặc thích hợp với địa vị xã hội của mình và như vậy họ vẫn có thể tỏ ra rất phong nhã, một sự phong nhã ăn khớp với địa vị của họ.

Cũng có những đàn bà không thiết nghĩ gì đến việc trang sức. Thường là những đàn bà có đầu óc đàn ông hoặc những đàn bà phải làm những nghề nghiệp của đàn ông.

Mối tương quan giữa tuổi tác và cách trang sức cũng là một điểm quan trọng. Một bà tuổi đã tứ tuần lại mặc áo màu tươi rói như cô gái mười tám chẳng những tỏ ra họ thiếu nhãn thức mà còn chứng tỏ họ có nhiều tham muốn. Những người quá tham vọng dù là tham về danh vọng, về tiền tài về thú vui vật chất thường không biết sống theo tuổi.

Trái lại, người đàn bà già trước tuổi vì không chịu săn sóc vẻ ngoài của mình, chừng chỉ người có tính khiêm tốn, chịu nép mình trước những gì không thể tránh.

Người thích trang sức lòe loẹt, nếu đó không phải là sự bắt buộc về nghề nghiệp, là chứng chỉ sự thiếu nhãn thức và một óc hợp đoàn phát triển quá mạnh. Người ta có thể lòe bịp bằng lời nói cũng không bằng bộ cánh.

Người đàn bà không thích son phấn vị tất là người đàn bà có giáo dục, đứng đắn, như người ta thường nghĩ. Chúng ta có thể giải thích: chẳng qua người đàn bà ấy kém óc phán đoán và tính quá khiêm tốn. Nhưng đã là người đàn bà mà không thích tô điểm thật là điều rất hiếm thấy vậy.

Thế thường và dù ở địa vị nào, người đàn bà cũng biết dùng trang sức để làm đẹp, lẽ dĩ nhiên phải dùng một cách vừa phải. Trang điểm thái quá là một lỗi lầm về nhãn thức mà cũng chứng tỏ sự thiếu giáo dục. Người đàn bà tô phấn trắng toát như quét vôi chắc chắn là người thiếu óc phán đoán, vì nghệ thuật trang điểm cốt ở sự kín đáo, cốt sao cho người khác (ít ra là bọn đàn ông, vì đối với các bà thì khó qua mặt họ) đừng nhận thấy sự tô điểm của mình…

Có những cha mẹ quá gắt gao, khi thấy con gái của họ tập tễnh bôi son thì vội vã đem giấu cây son ngay. Tại sao không chỉ dạy cho cô ấy biết cách thoa son, có phải là hơn không? Biết dùng những phương thuật trang điểm, lẽ dĩ nhiên dùng cách vừa phải, để làm tăng vẻ đẹp đó cũng là một phần trong chương trình giáo dục phụ nữ. Mà như chúng ta đã biết chỉ trừ một số rất hiếm, đa số phụ nữ cũng cần đặng giáo dục qua điểm này.

Lâu nay người ta thường có thành kiến là phấn son làm “hỏng” da mặt, nhưng cũng nên biết rõ, da mặt bị hỏng là do phấn son hay là do sự không biết cách dùng son phấn?

Những hành động “vô lý” của người đàn bà:

Cảm tính đã chiếm một phần quan trọng trong cá tính của người đàn ông; ở người đàn bà có chiếm một ưu thế rõ rệt. Bởi thường hành động thiếu suy nghĩ nên người đàn bà có thể có những hành động cao quý, họ biết hy sinh, tận tụy hơn người đàn ông, nhưng họ có thể làm nhiều việc tác tệ hơn người đàn ông.

Vì thế chúng ta khó mà tiên đoán cách phản ứng của người đàn bà trước một việc đã xảy ra. Những trái chứng, những hành động “ngông cuồng” của đàn bà đã làm cho chúng ta sửng sốt, là những hành động theo cảm tính trong đó mọi luận lý đều bị gạt bỏ. Những đàn ông mà người ta cho rằng họ “rất hiểu đàn bà” (và như thế các bà rất thích họ) là những người biết tự gạt bỏ, không lọc đãi những hành động của các bà ấy qua óc phán đoán của họ và nhất là họ biết làm tuồng như không ngạc nhiên chút nào.

Trước một hành động vô lý của một người đàn bà, nếu ông biết điềm nhiên tỏ ra không ngạc nhiên chút nào về sự vô lý ấy, ông sẽ đặng nghe người đàn bà ấy thủ thỉ: “Thật, chỉ có anh là người hiểu em”. Mặc dù chính họ cũng không thể giải thích nổi lý do hành động của mình. (Một thí dụ rất “sống” về sự vô lý của phụ nữ: Một bà nọ rất yêu quý chồng, đặt may chiếc áo. Bác thợ may mang áo đến, bà mặc thử trước mặt đức lang quân và bà thấy rằng chiếc áo ấy may hỏng không thể chữa. Bà rất bực tức và không dằn nổi sự bất mãn, nếu chẳng may ông chồng ấy lại tìm lời lẽ để an ủi bà, bà sẽ nổi xung lên và trở lại cự nự… ông chồng. Ông ta chỉ còn cách kêu trời và không còn hiểu nổi tại sao mình phải mang lấy cái vạ của bác thợ may kia. Có gì đâu, bà đặt may chiếc áo ấy chỉ vì muốn làm đẹp lòng ông, chẳng may nó không vừa ý bà thì dù sao cũng là tại… ông vậy).

Cũng có những đàn bà có tính điềm nhiên, điềm tĩnh, song rất hiếm. Tình điềm nhiên của đàn bà thường do chức nghiệp tạo ra, một tự động tính tập thành bởi nghề nghiệp. Đó là trường hợp những bà đỡ, những cô y tá hoặc các nữ bác sĩ. Thường hơn, người đàn bà cù có đặng uốn nắn bởi giáo dục cũng khó đè nén cảm xúc tính của họ. Người ta đã chẳng có thành kiến nhã nhặn và tâng bốc đàn bà vốn “đa cảm”?

Bẩm chất hoạt động tính cũng trổ sanh ra nhiều loại, nhiều thứ tính tình như ở người đàn ông. Có những đàn bà lù đù, suy nhược, hoạt động, vui tính, lại có những đàn bà thích bất định, khi hoạt động thái quá, khi ủ rũ nằm co như người bệnh.

Óc hợp đoàn thường phát triển quá mạnh ở phụ nữ. Có đàn bà nào không thích làm dáng? Chưa ắt họ thường nói dối hơn đàn ông, song chắc là họ nói dối khéo hơn chúng ta.

Về lòng nhân thì hai phái đều ngang nhau. Phụ nữ thường tự hào rằng họ không ích kỷ như bọn đàn ông chúng ta, đó là bởi ở họ luôn luôn có ẩn núp hình bóng một người mẹ (trừ một vài trường hợp rất hiếm). Bản năng làm mẹ là điểm làm cho đàn bà cao thượng hơn đàn ông, đó là một ân sủng riêng, bọn đàn ông chúng ta không đặng hưởng. Đừng lầm tưởng rằng tình cha con là một bản năng thiên nhiên, “lòng cha” thường tùy thuộc cá tính tập thành. Biết làm mẹ là một thiên tính, biết làm cha là do tập thành.

Xét về bẩm chất “tham muốn” chúng ta nhận thấy người đàn bà ham thích thú vui hơn tiền bạc. Nếu họ chuộng tiền bạc chẳng qua họ xem đó là phương tiện có thể giúp họ mua những thú vui. Người đàn ông hà tiện đã đáng khinh bỉ, người đàn bà mà keo kiệt thật đáng ghê tởm, bởi như thế họ đã không làm tròn nhiệm vụ xã hội của họ.

Phần III – Chương 2 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC HÔN NHÂN VÀ HỢP ĐOÀN

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Việc chọn một người bạn đời lẽ cố nhiên là quan trọng hơn việc chọ một người bạn hoặc một tên gia bộc. Tâm lý học sẽ vạch cho chúng ta biết những điều kiện để thực hiện sự hòa diệu trong gia đình.

Và sự hợp đoàn:

Trước hết nên nhận xét điều này, trong những công việc hợp tác làm ăn, tốt hơn những người hùn hạp đừng có những “phương trình cá tính” giống nhau. Hai người định cùng nhau chung sức, góp tài hoặc chung vốn để thành công trong một công cuộc, không có ích lợi gì mà giống tính nết nhau. Họ chỉ cần biết thỏa thuận với nhau.

Một người hoạt động, nhiều cao vọng, đầu óc tinh nhanh và giàu tưởng tượng rất có thể hợp tác với một người có óc kỷ hà, trầm tĩnh, biết tự tôn và phán đoán rất chín chắn. Trong sự hợp tác ấy, người trước sẽ đóng góp những sơ kiến bao quát, cái tinh thần tháo vác, những kế hoạch táo bạo. Người sau đóng vai trò phê bình, làm cái thắng siết bớt lại, và lọc đãi qua cái óc phán đoán vừa trầm tĩnh vừa chắc chắn của họ, những lý hội của người kia.

Trong mỗi xí nghiệp chúng ta thấy có một phần “động” (sản xuất, bán hàng, quảng cáo, liên lạc với bên ngoài) và một phần “tĩnh” (quản đốc, kế toán, tài chính). Hai phần ấy tương xứng với hai thứ tâm tính nói trên.

Hai người cùng hiếu động hoặc hai người cùng suy nhược cả mà hợp tác nhau sẽ không làm nên trò gì. Ít có người đặng điều hòa hoàn toàn và mỗi người trong chúng ta đều có ít nhiều tật xấu. Một sự hợp tác hợp lý phải là một đảm bảo đối với những khuyết điểm của một cá tính. Nếu phải hợp tác với một người đồng cá tính với mình thà là chúng ta hành động riêng một mình còn hơn. (Các chính khách cũng nên biết qua những định luật tâm lý, nhất là khi họ có dịp thành lập nội các chính phủ. Để ra ngoài khả năng chuyên môn của các ông bộ trưởng, chúng ta có thể quan niệm rằng trong một nội các chính phủ, mỗi bộ phải đặng điều khiển bởi một ông bộ trưởng có những đức tính tâm lý đặc biệt. Ông bộ trưởng tài chính không nên có cá tính giống ông bộ trưởng ngoại giao hoặc giống ông bộ trưởng quốc phòng).

Hôn nhân:

Hôn nhân cũng là một lối hợp đoàn trong đó có thêm yếu tố tính dục. Tốt hơn tính dục của đôi vợ chồng phải cùng một “điện lực” ngang nhau, có cùng ở trên một “luồng sóng điện” họ mới dễ hòa hợp, nhưng đó không phải là điều kiện tất yếu.

Sự hòa diệu của xác thịt, sự tương ứng với nhau về mặt thể chất hẳn đã là một nền tảng khá vững chắc cho việc hôn nhân. Nhưng đó không phải là một đảm bảo cho sự trường tồn của hôn nhân. Tình yêu nhục dục giữa hai người không phải là một hình “hy-pê-bol” hướng thẳng lên tận mây xanh. Nó vượt lên tuyệt đỉnh rồi sẽ chìm dần dần xuống thấp.

Nhưng trong việc hôn nhân, một khi sợi dây xích thắng của xác thịt đã bị đứt, còn có sự tương ứng của trí thức, còn có đời sống chung, còn sự kết hợp những quyền lợi, còn những con cái và những yếu tố này cũng rất quan trọng để có thể thành những sợi dây ràng chặt hai người cùng chung một số phận.

Cũng có những đàn bà có thể yêu người đàn ông mà họ xem rẻ. Lại cũng có những đàn ông có thể say đắm người đàn bà chỉ có vỏ ngoài còn đầu óc thì rỗng tuếch, mặc dù nếu đó là một người đàn ông thông minh hắn sẽ luôn luôn buột miệng nói với người yêu cái câu mà một thi sĩ đã thốt: “Hẳn là một người đẹp, rồi im miệng”.

Trong những cuộc nhân duyên tạm bợ như thế, tâm lý học cũng đành bó tay, khi mà hai người chỉ biết có nhục dục. Nhưng tâm lý học có quyền lên tiếng khi mà hai người nghĩ đến hôn nhân, đến việc lập gia đình. Nó sẽ giúp chúng ta biết óc phán đoán có bị lu mờ vì đam mê chăng, nó sẽ giúp chúng ta cân nhắc những lý lẽ trong khi chọn lựa hoặc giúp chúng ta hiểu rõ lý do của một khước từ.

Những đôi vợ chồng “bổ túc”:

Lẽ dĩ nhiên, thị hiếu và ngay cả thói quen của một đôi vợ chồng mà hai người đều có cái phương trình cá tính như nhau tất đã giống nhau, bởi cách phân phối những bẩm chất thiên nhiên ở hai người cùng như nhau, miễn là những bẩm chất căn bản ấy không có cái nào phát triển quá mức. Khi những bẩm chất ấy đặng phân phối một cách trung bình ở hai người, cuộc hôn nhân có thể tồn tại lâu bền. Đôi vợ chồng ấy sẽ không có một cái gì đặc sắc, có khi hơi tẻ nhạt, nhưng họ sẽ ăn ở với nhau bền vững.

Trái lại hai người có tính hoang phí phối hợp với nhau thì sự nghèo túng chắc chắn sẽ biết tìm đường lần mò đến viếng gia đình của họ. Hai người cùng thuộc hạng đa cảm xúc ăn ở với nhau lẽ tự nhiên “sóng bát thường xáo động”. Hai vợ chồng cùng có tính ghen tuông nếu không gây ra một thảm kịch, không sớm thì muộn cũng sẽ xa nhau sau những cơn cãi vã đầy nước mắt. Hai người kém óc phán đoán không sao có đủ tư cách để lèo lái gia đình và sẽ lầm vấp vì những hành động thiếu suy nghĩ. Hai người quá tham lam sống chung với nhau sẽ bòn xẻn nhau từ chút một. Họ sống một cách bần tiện và làm khổ những người chung quanh không ít.

Vì thế hai người tâm tính giống nhau hẳn không có tính nết nào nổi bật quá rõ. Nhưng cũng may là rất hiếm có hai phương trình cá tính giống nhau như khuôn đúc, thường thì tâm tính con người đều khác nhau.

Nhưng điều kiện để lập thành một gia đình êm thắm:

Cuộc hôn nhân lý tưởng là sự phối hợp giữa hai người mà cá tính có thể “bổ túc” lẫn nhau. Nhưng, cũng nên đề phòng đôi khi người này không đủ điều kiện bù đắp chỗ lệch do sự khuyết kém hoặc sự phát triển quá mức của một bẩm chất ở người kia.

Một người hoạt động tính nhiều, khó mà dung hòa với một người suy nhược, bởi những thị hiếu của họ do bẩm chất họat động tính sinh ra sẽ quá cách biệt nhau.

Một người đàn bà diêm dúa chỉ thích phô trương, thích sống giữa xã hội phồn hoa náo nhiệt, khó mà thích ứng với người đàn ông kém óc hợp đoàn, không thích giao du, thích sống cô độc như một thầy tu.

Một người đàn ông rất thông minh cưới phải một bà vợ đần không sớm thì muộn cũng ruồng bỏ gia đình.

Hai vợ chồng tính tình không giống nhau hẳn cũng có thể hòa hợp nhau, miễn là ở họ không có sự chênh lệch quá rõ rệt ở những bẩm chất cốt yếu, nghĩa là khi lấy một bẩm chất nào đó ra mà xét ở hai người, chúng ta không thấy một sự cách biệt quá rõ rệt về cấp độ. Tuy khác nhau, họ vẫn có thể thỏa hiệp với nhau về những thị hiếu, những khuynh hướng của họ, do bẩm chất cốt yếu ấy nảy sanh sẽ không đến nỗi khác nhau đến mức không còn dung hòa với nhau được. Khi một bẩm chất đặng phân phối một cách khác nhau, nhưng vẫn ở mực trung bình thì sự bù trừ về những ưu điểm và khuyết điểm của hai tính tình càng thêm dễ dàng.

Một ông chồng vì kém tham muốn có tính tiêu hoang, nếu đặng một bà vợ có tính tiện tặn sẽ “tốp” bớt ông lại phần nào. Một bà có tính tình diêm dúa, bãi bôi vì có nhiều óc hợp đoàn sẽ bù đắp lại cái tính xẵng của ông, nó làm hại trong việc giao thiệp làm ăn. Một bà vợ hoạt động, vui tính sẽ thúc đẩy một ông chồng bi quan vì thiếu hoạt động tính. Ngược lại một bà vợ vì đa cảm xúc, quá hăng hái, nhiệt thành sẽ nhờ một ông chồng có tính trầm tĩnh, lạnh lùng kềm hãm bớt. Một người chồng có nhiều trí nhớ sẽ giúp ích cho bà vợ có tật lãng trí v.v…

Nhưng đức tính cốt yếu cần phải có ở một người bạn đời là: lòng nhân. Việc dung hòa, bổ túc những tật xấu cho nhau có nghĩa là đôi bên phải biết nhường nhịn, chịu đựng hoặc tha thứ lẫn nhau và như thế đôi bên phải có nhiều thiện chí. Thiếu lòng nhân, khó lòng thực hiện đặng sự dung hòa ấy.

Chỉ có lòng nhân mới có thể giúp chúng ta chịu đựng những thị hiếu, những khuynh hướng của người kia “để làm vui lòng họ” và cũng để buộc họ lại thỉnh thoảng phải chịu đựng tính nết của mình.

Một đôi vợ chồng hòa thuận là một đôi vợ chồng mà hai người đều biết uốn nắn cá tính tập thành của họ cách nào để họ có thể sống chung với nhau, để trong sự chung đụng hẳng ngày họ không gặp phải những va chạm, những điều phật ý, mếch lòng.

Với một óc phán đoán có đôi chút giá trị cũng đủ để điều khiển một gia đình. Trí nhớ và trí tưởng tượng có nhiều hay ít cũng chẳng sao. Nhưng nếu trong hai người mà có một người khuyết kém về bẩm chất lòng nhân thì cũng đủ làm tan rã một gia đình.

Phải vượt suốt đường đời đầy chông gai, nhiều tranh đấu và trong khi hành động lại tránh được điều ác đã là một việc khó thay. Vì thế cũng nên hết sức tránh những kẻ dụng tâm làm hại người hoặc không biết cố gắng để tránh những hành vi phương hại đến người khác.

Ghen tuông là thứ thuốc độc nguy hiểm nhất cho gia đình. Chứng ghen tuông mà biến thành căn bệnh nặng do bẩm chất tham muốn quá mạnh, trí tưởng tượng hơi thái quá, cảm xúc tính quá nhiều mà óc phán đoán bấp bênh. Một người đã ghen như Hoạn Thư dù có đủ “lòng nhân”, bẩm chất sau này cũng không đủ sức để chữa cái tính ghen. Chứng ghen tuông bắt nguồn ở cá tính thiên nhiên. Vì thế khó mà chạy chữa bệnh ghen, cá tính tập thành ít ảnh hưởng đến nó.

Những cô gái không thích lấy người chồng ghen nên chú ý quan sát về óc phán đoán của đức lang quân tương lai. Người biết phán đoán không mấy khi vướng phải thói ghen. Người biết phán đoán chín chắn tức đã biết ước lượng, biết đánh giá những biến cố một cách xứng đáng. Sở dĩ một người đâm ra ghen tuông thường là vì họ phán đoán lầm lạc về những điều gì mà họ đam mê và đó là bởi óc phán đoán của họ khuyết kém.

Như chúng ta thấy, cái “tâm hồn bạn” mà các thi sĩ thường nói đến, xét theo tâm lý học thực ra không phải là cái “bản ngã thứ hai”, một người thứ hai giống như mình. Tâm lý cho chúng ta thấy, những gia đình êm thắm, hòa hợp, xứng đôi thường là những gia đình mà trong đó hai vợ chồng có hai cá tính khác nhau, bổ túc lẫn nhau. Song những đôi vợ chồng ấy cũng đừng quên rằng dù sao sự thăng bằng, sự hòa hợp ấy cũng bấp bênh. Muốn cho gia đình êm thắm mãi, muốn cho cán cân giữ đặng thăng bằng, khỏi nhếch lên trệ xuống, có một phương trình hay hơn cả là giao cho đàn con phận sự chêm giữ cái cán cân ấy.

Nếu hai vợ chồng cãi vã, chửi rủa nhau trước một chiếc nôi, thì thực ra họ chẳng còn chút giá trị nào…

Phần III – Chương 1 NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC BẠN BÈ VÀ GIA ĐÌNH

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Chúng ta có thể áp dụng tâm lý học trong nhiều địa hạt. Con người là một con vật có óc hợp quần. Trong đời sống, chúng ta luôn luôn có dịp chung đụng với người khác, những giờ khắc mà chúng ta phải sống cô lập, lẻ loi rất hiếm.

Lẽ đương nhiên không phải đối với bất luận người nào chúng ta cũng cần quan tâm, chú ý đến họ. Chúng ta chỉ lưu tâm, chỉ tò mò muốn biết đến những người nào có liên hệ đến chúng ta hoặc có một cái gì đáng cho chúng ta quan tâm và không đến nỗi lạt lẽo, vô vị, hoặc quá tầm thường. Xét ra đó cũng là một sai lầm vì đối với người biết quan sát thì bất luận một người nào cũng có thể giúp họ biết thêm một điều gì đó, lẽ dĩ nhiên đây là nói về phương diện tâm lý.

Nhưng luôn luôn chúng ta có ích lợi mà khảo xét để biết qua những nét chính về tâm tính và tâm trí của những người mà đời sống bắt buộc chúng ta phải gần gũi, hoặc của những người mà do một thiện cảm thiên nhiên khiến chúng ta muốn gần gũi họ và do đó họ đặng lọt vào đời tư chúng ta.

Bè bạn:

Kết thân với một người tức là chọn lọc và nói một cách khác, có lẽ hơi ích kỷ là hy vọng rằng giao thiệp ấy đem lại cho mình những điều hay hoặc điều lợi nào đó.

Phải nhận rằng ít có tình bè bạn nào đặng thuần túy, nghĩa là không có một sự tính toán về lợi lộc. Phân tách đa số tình bè bạn, chúng ta thấy nó đặng kết thành một phần bởi thiện cảm (do bẩm chất cảm xúc tính), một phần do lòng vị tha (bẩm chất lòng nhân) và một phần là một tình cảm ích kỷ (do bẩm chất tham muốn). Chúng ta yêu người bạn vì họ cũng có, mà cũng vì những thú vui họ mang đến cho chúng ta bởi sự có mặt của họ, bởi những câu chuyện duyên dáng mà họ làm quà, bởi cái trí xảo của họ mà chúng ta biết thưởng thức; nói tóm lại, bởi những gì họ mang đến cho chúng ta về mặt tinh thần. Đó là chúng tôi không nói đến những tình bạn đặt cơ sở trên lòng ích kỷ thuần túy, vì mong đoạt những lợi lộc về vật chất hoặc định gây thế lực.

Những bất ngờ chua cay mà bạn bè đem đến cho chúng ta thường do chúng ta thiếu óc tính xác. Chúng ta nên đấm ngực và tự vấn mình trước. Đáng lý, trước khi kết thân với một người, chúng ta phải quan sát tâm lý của họ để phân tách cá tính của họ. Phương sách hay hơn hết để tránh những bất ngờ là tìm xem bạn bè có thể mang đến cho mình những gì?

Biết rõ những bạn bè:

Một người nhiều tham muốn nhưng kém lòng nhân rất có thể là một người bạn bãi bôi, khả ái nếu họ có khá nhiều trí tuệ và cảm xúc tính. Nhưng nếu một ngày kia, chúng ta có dịp cần nhờ họ về tiền bạc thì đừng mong, vì họ chỉ có thể mang đến cho chúng ta những lời khuyên.

Một người bạn suy nhược (kém hoạt động tính) vị tha và đa cảm có thể hiến cho chúng ta một tình thường nồng nàn, săn đón chúng ta từ việc nhỏ. Nhưng khi chúng ta trải qua một cơn giông tố, họ chỉ biết khóc, chỉ biết thông cảm nỗi khổ của chúng ta mà không giúp ích chúng ta về mặt tinh thần nào. Trái lại, một người bạn nhiều hoạt động tính thường rất điềm nhiên (ít cảm xúc) và nếu họ đặng thêm nhiều lòng nhân họ có thể làm cho chúng ta “lên tinh thần” rất nhiều trong những lúc chúng ta phải vượt ải qua truông.

Một người bạn ích kỷ có óc hợp đoàn có thể giúp ích chúng ta khi họ xét ra cái hảo ý ấy có thể mở rộng đường giao thiệp hoặc đề cao sự quan trọng của họ về mặt xã hội. Nhưng họ sẽ “tốp” lại ngay khi họ thấy bản thân họ bị thiệt phần nào. Đó là một người bạn mà chúng ta chỉ nên nhờ vả một vài việc nào đó thôi.

Một người tốt bụng (nhiều lòng nhân) nhưng óc phán đoán kém, có thể là một người bạn khả ái đáng giao thiệp, miễn họ có ít nhiều trí tưởng tượng, biết cảm xúc và tỏ ra bất vụ lợi. Nhưng đừng quá trông mong vào họ, vì họ rất dễ bị người khác ảnh hưởng và trở lại phản bội chúng ta, mặc dù họ không có ác ý. Họ sẽ “bỏ rơi” chúng ta dễ dàng.

Một người nhiều hoạt động, nhiều óc hợp đoàn, đầu óc minh mẫn (giàu trí tuệ) dù kém lòng nhân cũng đang cho chúng ta giao thiệp, miễn là chúng ta chỉ xem họ như một người bạn vui tính, hoạt bát. Chúng ta chỉ nên trao gửi họ những gì mà… chúng ta kể như đã mất. Óc hợp đoàn phát triển quá mạnh khiến họ khoác lác, nói nhiều. Họ thuộc hạng người có thể hy sinh một người bạn để thốt cho kỳ được một câu nói đề cao óc tinh khôn của họ.

Những điều kiện để tạo thành một tình bạn bền vững:

Chúng ta nên chọn bạn trong số những người có nhiều óc phán đoán và có ít nhiều lòng nhân. Tình bằng hữu không thể thiếu lòng vị tha. Phải biết “cho” để “nhận”, chính chúng ta cũng có lắm tật xấu và thường khi bẩm chất thiên nhiên chúng ta hoặc vì suy kém hoặc vì phát triển thái quá khiến chúng ta đòi hỏi những bạn bè chúng ta quá nhiều, nhiều hơn những gì theo lẽ phải họ có thể cho chúng ta.

Óc phán đoán là đảm bảo chắc chắn nhất của óc vô tư, không thiên vị. Nó giúp cho đôi bạn tránh những xích mích do tính cố lì gây ra, mỗ người đều quá chủ quan, khư khư giữ vững lập trường của mình cho rằng chỉ mình là đúng. Những va chạm thường do lòng tự ái quá cao nhưng ngu xuẩn gây ra. Ngoài ra, nếu vì lẽ gì chúng ta không mấy tin ở những phán đoán của mình, chúng ta có thể nhờ đến người bnạ biết phán đoán, nhưng lời khuyên chín chắn của họ sẽ giúp ích chúng ta rất nhiều.

Sự khôn ngoan dạy ta nên có một số bạn bè có nhiều đức tính khác nhau, đừng quá trông mong vào họ, cũng đừng đòi hỏi họ quá nhiều, không có tình bằng hữu nào có thể đứng vững trước lòng ích kỷ của một người nhưng về phần chúng ta, nên đối xử với họ như bát nước đầy. Một nhà văn, ông Joubert đã chẳng nói: “Khi tôi nhìn một người bạn chột mắt, tôi chỉ thấy xiên”.

Về cách tuyển chọn những gia đinh:

Bà chủ nhà nếu lỡ chọn một chị bếp không tốt, đó chưa phải là một mối thất vọng đáng kể, nhưng đó cũng là điều hơi đáng phiền vì tiền chợ thì bà phải lôi ra nhiều mà thức ăn không mấy dồi dào. Nếu hiểu biết chút ít về tâm lý, bà có thể tránh bao nhiêu lầm lẫn đáng tiếc. Bây giờ người ta không gọi những gia đinh là những đày tớ mà chỉ gọi là những người giúp việc nhà, nhưng dù sao muốn hầu hạ chủ, “người giúp việc nhà” ấy cũng phải tận tụy, tận tâm. Đã là người trong nhà, dù sao họ cũng phải sống chung với chúng ta hằng ngày, họ cũng đặng lọt vào đời tư chúng ta ít nhiều, không tín cẩn nơi họ chúng ta không thể chấp chứa họ.

Trong việc chọn một tên gia đinh, ngoài những khả năng về nghề nghiệp, điểm đáng cho chúng ta quan tâm nhất là bẩm chất lòng nhân của họ. Đành rằng đức tính liêm chính không hẳn do lòng nhân mà ra, song người ta có lòng nhân thường biết tỏ ra thận trọng, chu đáo và đó là một yếu tố tu chính những bẩm chất khác thí dụ như lòng tham nó khiến cho người ta phải gian xảo.

Theo nguyên tắc ấy, tôi không thích chọn những gia đinh không biết yêu trẻ con, thương loài vật, hoặc tỏ ra khúm núm trước kẻ bề trên mà hách dịch và xử ác với kẻ dưới.

Cũng nên biết đức liêm chính có nhiều cấp bậc, nhiều hình thức vì lẽ đó là một bẩm chất tập thành. Có người giúp việc thấy chủ nhà bỏ quên hằng trăm bạc trên bàn không động lòng tham, nhưng khi chủ nhờ đi mua hàng, họ sẽ ăn bớt một vài chục.

Điều khác, đức liêm chính không phải là một yếu tố bất biến. Nó có thể gia tăng hoặc tiêu diệt vì ảnh hưởng của một đam mê: mê đánh bạc, mê gái chẳng hạn.

Một anh bồi hoặc chị bếp có tính hay trả treo, chủ nói động đến là mặt ủ mày châu hoặc có tính lỳ lợm là dấu hiệu một óc phán đoán kém, nhưng đa cảm lại nhiều tham muốn. Tuy nhiên người có tính lỳ lợm vẫn có thể có lòng nhân.

Nếu biết cách, người ta có thể dùng những người đầu đá ấy, nghĩa là biết hướng tính cố lì của họ vào những việc hữu ích và biết nương lòng tự ái hẹp hòi của họ bằng một vài sự nhượng bộ ở mặt ngoài.

Chúng ta cũng thường đòi hỏi những gia đinh phải biết ăn ở có trật tự. Trật tự là một thói quen do cá tính tập thành mà ra, song nó cũng đặt nền tảng trên những bẩm chất thiên nhiên như: trí nhớ, hoạt động tính và lòng tham muốn. Người không biết ham thích (thiếu bẩm chất tham muốn) hoặc suy nhược (kém hoạt động tính) thường ở bẩn và bừa bãi. Của họ, họ còn không thiết gì, thì làm sao họ biết săn sóc, giữ gìn của người khác.

Tóm lại, chúng ta nên chọn những gia đinh cần cù (có lòng nhân, nhiều hoạt động tính, cảm xúc và tham muốn chỉ cần vừa phải). Trí nhớ cũng đáng cho chúng ta chú ý. Nếu đặng thêm óc phán đoán thì càng quý nhưng cũng hiếm lắm.

Vì thế có câu người ta nói đùa: “Có bao nhiêu ông chủ đặng có những đức tính mà họ đòi hỏi ở một người giúp việc?”.

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.