" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

Phần I – Chương 2 CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI – NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CỦA TÂM LÝ HỌC

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Đi xem một cuộc triển lãm hội hoạ, chúng ta nhận thấy các bức tranh trưng bày chẳng những khác nhau về đề tài, về khuôn khổ mà còn khác nhau rất nhiều về sắc độ. Bức thì màu sắc rực rỡ, bức lờ mờ, hoặc lộng lẫy, hoặc vui hoặc buồn. Có bức thì đơn sắc, có bức lại gồm có nhiều màu sắc đối chọi nhau một cách ngộ nghĩnh, có bức hình dáng chẳng khác gì một tấm thảm.

Tuy thế, tất cả những bức tranh ấy đều đặng tạo nên với một ít màu chính, lúc nào cũng thế.

Cá tính của con người cũng giống như các bức tranh nói trên. Tuy nó hiện ra dưới bao nhiêu sắc thái nhưng tựu trung nó cũng chỉ đặng tạo nên bởi một ít bẩm màu căn bản. Chính sự phối hợp vô cùng phức tạp của những bẩm chất này đã làm cho có sự khác nhau giữa loài người, làm thành bao nhiêu hạng người.

Tâm lý học nhằm hai mục tiêu: Tìm xem đâu là những bẩm chất cốt yếu của con người và sau khi đã định rõ giá trị mỗi bẩm chất ở một người, sẽ tiên đoán thái độ, lối xử sự của người ấy.

Hai cá tính của con người:

Từ lâu rồi người ta đã ngờ ngợ rằng những yếu tố cấu thành cá tính con người có thể phân làm hai loại. Người ta nhận thấy một cách mơ hồ rằng trong thâm tâm của mỗi người đều có một cái gì vững vàng, suốt đời không thay đổi và bao phủ trên cái cái phần ấy, như một cái mặt nạ, còn có một cá tính khác, uyển chuyển hơn, biến hóa hơn, lại chịu ảnh hưởng của những biến cố bên ngoài.

Một trong những thắng lợi của tâm lý học hiện giờ là đã chỉ định một cách rõ rệt rằng trong mỗi người đều có hai cá tính.

Lúc chào đời chúng ta mang sẵn trong người cái cá tính thiên nhiên. Những yếu tố của nó làm nòng cốt cho cái khí chất và cái trí tuệ của chúng ta. Cái cá tính thứ nhì được gọi là cá tính tập thành bởi nó được kết thành do những hiện tượng bên ngoài, do tất cả những biến cố của đời sống.

Đôi khi các nhà khoa học cũng gọi nó là “bản ngã căn bản”, “bản ngã ngoại diện”. Nhưng chúng ta xin miễn dùng những tiếng “lóng” ấy và chỉ có thể nói một cách giản dị là mỗi người khi sinh ra đời đều có nhận được một số dụng cụ hoặc tốt hoặc xấu, đó là cá tính thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của những hiện tượng đời sống, họ sẽ dùng những công cụ ấy để xây dựng cá tính tập thành.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét cái cá tính thiên nhiên ấy làm bằng những gì? Lúc sinh ra đời, chúng ta đã nhận được những dụng cụ gì? Những bẩm chất nào là những bẩm chất căn bản? Bao nhiêu câu hỏi mà bấy lâu nay người ta không tìm ra lời giải.

Tuy thế, từ lúc nào cũng như lúc nào, con người luôn luôn muốn tìm hiểu lý do những hành động của mình. Họ tự dò la, khảo sát, tự thú. Họ đã ghi chép kết quả của những cuộc khảo sát này trong bao nhiêu sách vở: tiểu thuyết, ký sự, khái luận, khảo cứu và thu thập rất nhiều tài liệu song chẳng đi đến một kết quả khả quan nào. Không thể xếp thành loại mớ tài liệu ấy, cũng không thể rút ra những quy tắc tổng quát. Ngay việc đặt để và định nghĩa các danh từ, những tác giả cũng chưa đồng ý thay. Việc dùng “phương pháp nội quan” để tìm hiểu tâm lý con người đã thất bại.

Vì sao? Bởi khi người ta chỉ trông qua một bức tranh thì không tài nào có thể phân định những màu căn bản mà họa sĩ đã dùng để vẽ bức tranh ấy. Hẳn thí dụ rằng loài người chưa biết thuật hội họa. Có thể nào qua một bức tranh chúng ta phân tách nổi trong bức tranh ấy có bao nhiêu chất màu xanh, và cách phân phối màu xanh ấy ra sao? Chúng ta có biết màu xanh là màu căn bản chăng? Chắc là không, cho đến khi chúng ta tìm ra một phương pháp có thể làm nổi bật ra một màu này hoặc một màu khác trong bảy màu của cầu vòng. Lúc bấy giờ chúng ta mới rõ: chỉ có bảy màu chính, bảy màu căn bản, cách phân phối những màu ấy ra sao, và chúng ta biết rõ tất cả các sắc do sự pha trộn của hai hoặc nhiều màu trổ ra.

Cách nhà tâm lý học hiện giờ đã tìm ra một thứ “thuốc thử” na ná như thể để phân tách rõ rệt những yếu tốt tạo thành cá tính con người. Thuốc thử đó là bệnh điện.

Thuốc thử của bệnh điên:

Nếu khoa học tâm lý về con người ngày nay đã có một nền tảng vững chắc đó là nhờ công trình của nhiều nhà chuyên về bệnh tinh thần như Ernest Dupré chẳng hạn và nhất là nhờ những phát minh của hai nhà bác học: Giáo sư F. Achille Delmas, một tâm y sĩ có tiếng và giáo sư Marcel Boll, một nhà khoa học mà cũng là môt nhà văn, một nhà phê bình nhiều người biết đến.

Họ đáng cho chúng ta ghi ân. Chính họ là những người sáng tạo ra nền tâm lý học tân thời. Chẳng những họ đã lập ra một lối phân loại rất hợp lý về các bẩm chất căn bản của cá tính con người, ngoài ra họ cũng là những người đầu tiên đã phân biệt có hai loại tâm lý học: Một thứ tâm lý học tịnh khảo sát về cá tính thiên nhiên và các tính tập thành. Một thứ tâm lý học động khảo sát về lối cư xử, thái độ của con người. Nói một cách khác, có thứ tâm lý học chuyên khảo xét về các bộ phận của guồng máy lại có thứ chuyên khảo về cách vận dụng của guống máy ấy.

Chính tôi đã căn cứ trên lý thuyết của hai nhà khoa học ấy để xây dựng cái nền tảng vững chắc của sách này, và trong bao nhiêu áp dụng mà tôi đã đề cập trong sách này tôi chưa hề thấy lý thuyết ấy sai chạy ở một điểm nào.

Muốn hiểu rõ tại sao người ta có thể dùng người điên để phân tích tâm trí của người có đủ lý trí, chúng ta cần hiểu qua về những chứng bệnh tinh thần và cách xếp loại của nó.

Xưa kia người ta không biết gì về bệnh điên cả. Thấy người nào nói xàm nói nhảm hoặc có những hành động kỳ dị, người ta cho rằng họ điên hoặc khùng, không hơn không kém. Tuy rằng người ta đã nhận thấy có nhiều chứng cuồng tâm, loạn óc song không ai buồn nghiên cứu những bệnh ấy. Cho đến cuối thế kỷ XVIII người ta vẫn còn xem những người điên như loài ác thú, người ta cùm xích họ lại, họ sống một đời sống đáng thương hại.

Đến đầu thế kỷ XIX, mới có một nhà y sĩ từ tâm biết nghiêng mình xuống số phẩn hẩm hiu của những người bạc phúc ấy. Đó là ông Pinel. Ôngười đã kéo họ ra khỏi chốn cực hình, đã bắt đầu nghiên cứu về họ một cách hợp lý.

Suốt thế kỷ gần đây, nhiều người khác đã tiếp tục việc khảo cứu này và ngày ngay, khoa tâm y học tức là khoa học nghiên cứu về các chứng bệnh tinh thần đã tiến bộ một cách khả quan. Những công cuộc nghiên cứu liên tục này đã giúp người ta tìm ra một lối xếp loại rất quan trọng: Phân chia các chứng bệnh tinh thần ra làm hai nhóm riêng biệt: Những bệnh do thương tích gây ra và những bệnh do thể tạng tức là do sự cấu thành của thể chất tạo nên.

Những bệnh điên do thương tích gây ra:

Những bệnh điên do thương tích có những đặc điểm cốt yếu sau đây:

Con bệnh luôn có những vết thương trong óc, người ta tìm thấy những vết thương này khi mổ thây người chết để khám nghiệm.

Có thể đây là một chứng bệnh tập thành chứ không phải do thiên bẩm, vì những vết thương này phát ra sau khi con người đã sinh ra hoặc nếu sớm hơn, thì cũng là khi bào thai đã tượng hình.

Tùy theo vết thương có tính chất vĩnh viễn hay tạm bợ, người ta sẽ chia những bệnh do thương tích này làm hai loại:

Loại đầu gồm những chứng mất trí, ngu đần, động kinh, bất toại, điên cuồng, lẩm cẩm vì già nua. Loại sau gồm những bệnh điên phát sinh bởi một vết thương hoặc một chất độc (rượu, thuốc phiện v.v…).

Những bệnh này thường đều bất trị, trừ những bệnh thuộc loại thứ hai và ở trường hợp mà chất độc chỉ gây những thương tích nhẹ.

Những bệnh điên do thể tạng gây ra:

Những bệnh tinh thần thuộc nhóm thứ hai, tức là những bệnh điên do thể tạng sinh ra, mới đáng cho người muốn nghiên cứu về tâm lý học quan tâm hơn.

Những bệnh thuộc nhóm này có hai thuộc tính:

Nó do thiên bẩm. Mầm gốc những chứng bệnh ấy đã sẵn có trong người con bệnh từ lúc họ mới lọt lòng. Rất có thể và thường khi như thế, bệnh ấy chưa phát triển đầy đủ lúc con bệnh còn thơ ấu, bởi sự phát triển ấy có thể hoặc sớm hoặc muộn, tuy nhiên người ta luôn luôn nhận thấy điều này là những bệnh ấy do thể tạng của con bệnh tức là do cơ cấu thể chất mà họ có sẵn từ lúc họ ra chào đời. (Giáo sư F. Achille Delmas định nghĩa cơ cấu tâm bệnh như thế này: Đó là một nhóm xu hướng tâm thần nhất định, thuộc cá tính thiên nhiên của con bệnh, phát triển lúc người ấy mới sinh ra, và suốt đời họ, bộc lộ bởi những phản ứng mạnh hay yếu… nó có thể đi đến những chứng bệnh thần kinh tuần hoàn, thuyên giảm trong chốc lát hoặc tiệm tiến (nghĩa là bệnh điên phát triển trong một thời kỳ gần hay xa hoặc tuần tự mà tiến). – Bài phúc trình về tâm bệnh học ở hội nghị Limoges, từ ngày 25 đến 30 tháng 7 năm 1932.

(Còn vấn đề: Bằng cách nào và do đâu bệnh điên có thể phát sinh từ một cư cấu tâm bệnh thì người ta chỉ hiểu lờ mờ. Trong bản phúc trình nói trên, giáo sư Delmas chỉ thử tìm cách giải).

Những con bệnh này không mang vết thương tích nào trong óc cả. Khi người ta khám tử thi một người bệnh điên thuộc nhóm này, người ta thấy óc họ chẳng khác gì óc một người lành mạnh. Rất có thể sự giống nhau ấy chỉ có ở mặt ngoài, còn nếu có chỗ khác nhau thì những phương tiện tìm tòi hiện giờ cũng chưa cho phép chúng ta nhận thấy những đặc điểm của các khối óc bệnh hoạn ấy.

Điều quan trọng cũng là điều cốt yếu trong việc nghiên cứu của chúng ta là những chứng bệnh ấy chỉ là sự lệch lạc, sự phát triển quá độ hoặc sự khuyết kém những yếu tố căn bản tạo thành cá tính của một người lành mạnh.

Ở người lành mạnh, những yếu tố ấy pha trộn, phối hợp lẫn nhau một cách điều hòa khó lòng cho chúng ta phân biệt.

Ở những con bệnh tinh thần trái lại tính cách bất thường của những yếu tố ấy làm cho nó nổi bật lên trên cá tính, nhờ đó chúng ta rất dễ thấy.

Vì thế chúng ta có thể dùng những bệnh “điên” thuộc nhóm sau này như một thứ “thuốc thử” mà chúng tôi đã nói ở trước. Một khi có thể phân biệt và xếp những chứng bệnh ấy thành loại thì chúng ta cũng đã biết rõ có bao nhiêu bẩm chất căn bản tạo thành cá tính con người. Công trình nghiên cứu của hai ông F. A Delmas và M. Boll là đã xác định lối phân loại ấy.

Phần I – Chương 1 – CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI – NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM LÝ HỌC

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Một điều hơi lạ, trong việc đào luyện con người, người ta không mấy quan tâm đến môn tâm lý học. Trong chương trình học vấn, người ta không đếm xỉa đến nó hoặc chỉ dạy phớt qua. Có lẽ người ta nghĩ rằng những lớp triết học mà một số ít sinh viên ban trung học có dịp theo đuổi, là những hành lý đầy đủ để họ xông pha trên trường đời. Ngoài ra người ta phó thác họ cho đời chỉ dạy.

Theo ý kiến một vài nhà giáo dục, ch úng ta nhồi nhét vào trí óc của trẻ em quá nhiều tri thức. Chúng ta muốn nhào nặn khối óc của chúng trở thành một bộ bách khoa toàn thư “sống”, nhưng chúng ta quên dạy chúng cái khoa học cốt yếu, quên trao cho chúng cái chìa khóa có thể mở các cánh cửa: tâm lý học.

Ngoại trừ bị giam hãm suốt đời trong một phòng thí nghiệm hoặc trong một xưởng máy, chúng ta luôn luôn cần nhờ đến người khác để áp dụng những điều hiểu biết của mình hoặc đối phó với sự thờ ơ, ghét vơ của họ.

Nên chúng ta dốt đặc về tâm lý học, nếu chúng ta không hiểu về những định luật bất dịch chi phối những thị dục của con người, nếu chúng ta không đặng dẫn dắt bởi những chân lý đã từng thí nghiệm, thì với hiểu biết của chúng ta rất có thể đưa chúng ta tới thất bại. Chúng ta có thể nói không sợ lầm rằng: sự hiểu biết của mọi người có đắc dụng chăng là tùy thuộc sự thấu đáo về tâm lý của họ.

Kiến nghiệm và khoa học:

Đành rằng, kinh nghiệm của sự đời cũng có thể giúp chúng ta nhận xét để hiểu biết người. Thường gần gũi với người đồng loại, chúng ta có thể phán đoán về họ, nếu chúng ta có chút ít khả năng về việc đánh giá con người.

Nhưng chúng ta đừng lầm lộn việc áp dụng thực tiễn một khoa học với khảo cứu những nguyên tắc của nó. Cái kinh nghiệm chúng ta thâu rút khi chung đụng với đời có thể hợp thành một phương pháp kinh nghiệm. (Phương pháp kinh nghiệm là phương pháp chỉ được căn cứ vào những kinh nghiệm, không chịu tìm hiểu nguyên do, khác với phương pháp thực nghiệm căn cứ trên những thí nghiệm khoa học. Thí dụ Đông y dựa vào phương pháp kinh nghiệm và Tây y sau khi trải qua giai đoạn kinh nghiệm, đã tiến đến giai đoạn thực nghiệm). Dù không có ý khinh rẻ phương pháp kinh nghiệm, chúng ta cũng phải nhận thấy nó có lắm bất tiện. Muốn dùng đặng nó chúng ta phải trả một giá khá đắt: phải trải qua những lỗi lầm, đau thương, phải mất bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu cố gắng. Đó là chưa kể muốn áp dụng đặng những kinh nghiệm ấy chúng ta phải có đôi chút khả năng thiên nhiên; trái lại, phương pháp thực nghiệm căn cứ trên những nền tảng khoa học có thể giúp ích cho một số đông người có những khả năng tầm thường.

Ở ngoài đời, chúng ta đã từng thấy có người văn hóa rất kém (mà chúng tôi đã đặt cho họ cái tên hơi bất công là “những người sơ đẳng”) đã chiếm đặng những địa vị khả quan trong xã hội. Có nên vì đó mà kết luận rằng văn hóa không cần thiết để thành công?

Có lắm tay ngang thiếu học chuyên môn những cũng cạy cục rất tài để có thể ráp nỗi một bộ máy vô tuyến truyền thanh rắc rối. Tuy không biết qua về lý thuyết nhưng nhờ có mó tay vào thực hành nên họ cũng có thể bàn về “tần số”, về “cuộn xen”, về “máy phát sóng”… một cách khá rành rẽ. Có phải vì thế mà chúng ta nên cho rằng muốn học về vô tuyến điện không cần phải học qua phần lý thuyết? Chắc chắn là không ai sẽ nghĩ như thế, vì ai ai cũng thấy rõ, một tay ngang thiếu cơ sở khoa học mà ráp nổi bộ máy truyền thanh ấy, ắt đã mất bao nhiêu thì giờ, bao nhiêu dọ dẫm và bao nhiêu nhẫn nại mới có thể đạt đến đích, đó là chưa kể hắn phải có nhiều tài quan sát. Một kỹ sư điện học, trái lại chỉ cần vài giờ suy nghĩ là có thể ráp xong máy ấy nhờ áp dụng những hiểu biết về lý thuyết mà ông ta đã thu thập được khi học ở trường.

Biết người:

Bí quyết của thành công, trong đời sống cũng như doanh nghiệp gồm hai chữ “Biết Người”. Ở đây chúng ta không nên hiểu hai chữ “thành công” với cái nghĩa hẹp hòi là thâu đoạt được nhiều tiền của, nhiều danh vọng, mà nên hiểu rộng là sự tiến bộ về tri thức cũng như về vật chất, là sự hoàn thành một cách hợp lý cái nhiệm vụ mà đời sống đã vạch cho mình.

Một người bán hàng, một thương gia dù sẵn có nhiều khả năng thể chất hoạt động tâm thần cũng chưa ắt đã dễ thành công nếu họ thiếu đức mẫn tiệp, thiếu hiểu biết về tâm lý học để có thể gợi sự thèm thuồng của khách hàng.

Một kỹ sư khôi nguyên ở trường bách khoa xuất thân rất có thể thất bại trong những công trình của mình, nếu họ không biết gì về cá tính của những nhân viên làm việc dưới tay họ.

Một doanh nghiệp có thể suy sụp dù rằng được điều khiển bởi một viên giám đốc có tài, nếu ông ta lầm lỗi trong việc tuyển chọn những nhân viên cần thiết giúp ông ta làm tròn nhiệm vụ.

Một tay cuộc chê đi chào mời khách hàng bảo hiểm nhân mạng, dù rằng có biết rõ sự ích lợi về mặt xã hội của việc bảo hiểm, cũng chưa ắt đã có thể khuyến dụ khách hàng ký hợp đồng nếu hắn không biết cách trình bày những lý lẽ một cách khéo léo để cho khách hàng gật đầu.

Một người có thể có tài viết văn, nhưng làm báo lại rất dở nếu họ không hiểu tâm lý quần chúng. Một họa sĩ dù có sẵn thiên tư cũng cần thấu đáo cá tính của người mẫu mới mong đạt được sắc diện của người ấy nổi. Một nghị sĩ phải thấu hiểu cử tri của mình. Một trạng sư: những thân chủ của mình. Một y sĩ: những bệnh nhân của mình. Một sĩ quan: những quân sĩ của mình. Một vị thuyền trưởng: đoàn thủy thủ của mình. Chỉ có nhân viên thu thuế là… không cần hiểu những tên dân đen.

Trong đời sống thực tiễn, những cuộc xào xáo trong gia đình, những xích mích giữa bạn bè, những bất mãn do người giúp việc bất tín gây ra, những thất vọng về đường tình duyên thường có nguyên do bởi sự dốt nát về tâm lý học.

Như chúng ta đã thấy, bất luận trong ngành sinh hoạt nào, chúng ta cũng cần biết rõ cá tính của những người mà chúng ta có liên lạc gần hay xa.

Nghiên cứu về tâm lý học chẳng những giúp ích chúng ta rất nhiều trong phạm vi chức nghiệp, ngoài ra nó còn giúp chúng ta thâu đoạt nhiều kết quả thiết thực trên đường giao thiệp.

Ngày nay, tâm lý học là một khoa học có thể truyền dạy cũng như bao nhiêu khoa học khác. Với một bộ óc thông minh trung bình người ta cũng có thể học và hiểu nó. Nó cũng không bắt buộc người học phải có số vốn về triết học. Nó căn cứ trên những yếu chỉ và những nguyên tắc có lẽ còn giản dị hơn môn hình học hoặc vật lý học. Người đã có một cơ sở tâm lý học sẽ dễ mà rút tỉa những cái hay trong mớ kinh nghiệm mà đời sống sẽ đưa đến cho họ sau này. Họ sẽ dễ thông cảm, mau hiểu người đồng loại hơn cũng như viên kỹ sư điện học dễ mò ra những bí quyết của vô tuyến điện hơn một tay ngang chỉ dựa vào mớ kinh nghiệm.

Lối văn “triết học”:

Nói cho đúng, việc đọc sách khảo cứu về tâm lý học thường dễ làm cho người dù hiếu học đến đâu cũng đâm ra chán nản. Nản vì “lối văn triết học” mà phần nhiều tác giả sách này quen dùng, lối văn mà A. Abalat đã chỉ trích gắt gao trong mấy tác phẩm bàn về nghệ thuật viết văn. Kể ra “lối văn triết học” này có thể so sánh với “lối văn sở cẩm” mà André Thérive đã từng chế giễu. Và có khi nó còn tệ hơn, vì trong lối văn sau này, những danh từ dùng sai nghĩa song người ta còn có thể đoán được chứ đọc “lối văn triết học” thì chẳng khác gì đọc sấm ký, bởi tác giả thường khéo che đậy một cái trống không to tướng dưới một lớp danh từ khúc mắc có vẻ khoa học.

Đành rằng văn của Bergson (Nhà triết học Ly Lạp) cũng tối mò song ít ra chúng ta còn thưởng thức đặng cách bố trí chặt chẽ những ức thuyết rất tân kỳ của ông. Dù vậy, tôi cũng mạn phép trách ông điều này là ông đã không biết làm cho một người chỉ có óc thông minh trung bình hiểu đặng tư tưởng ông. Muốn hiểu ông, phải đọc qua những sách diễn giải tư tưởng ông.

Tôi vốn nghi kỵ những lối văn chuyên môn dành riêng cho từng khoa học. Vì người ta rất dễ lạm dụng nó để lòe đời và như vậy người ta chỉ cần học qua một mớ thuật ngữ là có thể bàn đến nhiều vấn đề vô lý dưới cái vẻ sành sỏi.

Anatole France nói rất đúng: “Sự dốt nát sở dĩ có là do trong ngôn ngữ chúng ta còn lắm danh từ nghĩa không được đích xác”.

Trong quyển “Luận Về Trí Năng Con người” nhà đại tư tưởng Locke đã nói: “Muốn cho người ta thâu nhận những chủ nghĩa phi lý hoặc kỳ hoặc, không có cách gì hay bằng bao phủ những lý thuyết ấy dưới một lớp danh từ tối nghĩa, mù mờ hoặc không định rõ nghĩa”.

Tôi tin rằng người ta có thể bàn giải nhiều vấn đề mắc mỏ bằng một lối văn thông thường, với những danh từ thông dụng, chỉ dùng đến những thuật ngữ khi chúng ta không tìm thấy trong ngôn ngữ thông thường một danh từ tương đương và nếu phải dùng đến một danh từ chuyên khoa ít ra chúng ta phải định nghĩa nó cho rành mạch.

Đó cũng là quy tắc mà chúng tôi cố gắng theo khi soạn ra sách này. Chúng tôi được sung sướng nếu tất cả bạn đọc đều có thể hiểu chúng tôi, dù là người chỉ có sức học cơ sở sơ học.

Có cần gì phải nói không phải một khi gấp quyển sách này lại mà quý bạn đọc đã trở thành một nhà tâm lý sành sỏi.

Việc dọ dẫm, khảo xét cá tính con người là một công việc tế nhị vì mỗi con người là mỗi trường hợp riêng biệt.

Nhưng muốn giải đáp bài toán, ít ra cần phải biết những định lý căn bản. Đây chỉ là một mớ tài liệu về khoa học của tâm hồn mà chúng tôi ước mong rằng nó sẽ giúp cho những ai muốn tìm hiểu bài giải về cá tính con người.

Biết Người – Lời nói đầu của dịch giả

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Xin chân thành cảm ơn chịCTT (Chân Trời Tím) đã chia sẻ quyển sách này với Thư Quán. Trong quyển sách này, bối cảnh và các câu chuyện mà tác giả dẫn chứng, các sự kiện lịch sử, các địa danh… là vào những năm thập niên 50. Chính vì vậy, khi xem qua quyển sách này các bạn đọc cần lưu ý cột mốc thời gian và các dẫn chứng mà tác giả đưa ra trong nội dung, trong đó bao gồm cả từ ngữ phổ thông thường được dùng lúc bấy giờ mà ngày nay chúng ta ít nghe hay sử dụng. Chúc các bạn vui vẻ.

ldlvinhquang.

* * *

Tâm lý học là một khoa học người ta thường nhắc nhở đến nhiều nhất, song cũng là một môn khoa học mà ít người hiểu nó nhất, lại càng ít người biết áp dụng một cách hữu ích trong đời sống thực tiễn.

Trong rạp hát, sau khi anh kép cao hứng xổ một tràng lý luận dài dòng và kết thúc bằng một câu đại để: “Tiền! Tiền! Than ôi đời này chỉ có tiền, chỉ vì tiền, tiền là tất cả. Tiền! Tiền! Vì mi mà người ta đã phạm bao nhiêu tội ác”. Một tràng pháo tay phát lên từ những hàng ghế cuối cùng, ông khán giả ngồi kề tôi cũng gật đầu nói với người bạn: “Đúng là tâm lý hết sức!”.

Cô Hai bán hàng đọc xong một quyển “tâm lý xã hội ái tình, tiểu thuyết” trong đó kể lại một câu chuyện cũ rích như quả địa cầu đại khái: Chàng yêu nàng, dan díu với nàng, nhưng sau đó nghe lời cha mẹ bỏ rời nàng để cưới một cô gái khác có bề thế hơn, bình phẩm với cô bạn đồng sự: “Thật đúng là tâm lý người đời!”.

Đó, đại để phần đông người ta chỉ hiểu tâm lý học qua một vài điểm tâm lý sơ đẳng như thế. Ngoài ra họ không biết rõ tâm lý học nghiên cứu những gì, những phương pháp hoặc công dụng của tâm lý học ra sao cả.

Chúng ta đừng nghĩ rằng những người văn hóa khá cao, những người đã từng theo học lớp triết học ban tú tài chẳng hạn có một ý niệm rõ rệt hơn về tâm lý học. Vâng, trong những lớp triết học họ có học qua môn tâm lý học thật, các giáo sư giảng giải cho họ biết những sinh hoạt của tình cảm, của trí thức, có định nghĩa cho họ hiểu thế nào là ý thức, thế nào là vô thức. Họ cũng phân loại các khuynh hướng, các cảm giác, các ảnh tượng. Họ cũng biết phân biệt thuyết chủ nghiệm khác thuyết chủ lý ra sao. Nhưng sau mấy năm đèn sách, mớ trí thức họ đã thâu thập về tâm lý học vẫn lẻ tẻ, rời rạc, có thể thỏa mãn óc tò mò của trí thức nhiều hơn là giúp ích cho họ. Vì thế không mấy người biết nhận định một cách rõ rệt, tổng quát về cái “khoa học của đời sống” ấy và khi bước ra thực tế không mấy người biết áp dụng tâm lý học một cách có ích lợi.

Về tâm lý học, ngoài các phần tâm lý học thuần túy mà người ta cũng gọi là tâm lý học ở nhà trường, còn phần tâm lý học thực tiễn, cái phần tâm lý học “có thể dùng vào một công việc gì” mà các nhà tâm lý học hiện giờ, nhất là những nhà tâm lý học Anh–Mỹ vốn vẫn có óc thực tiễn, đặc biệt chú trọng và đang hướng những tìm tòi, khảo cứu của họ vào đó.

Người ta có thể áp dụng tâm lý học vào các ngành đại để:

Về y học: Khoa phân tâm thần học, tâm lý học.

Về chức nghiệp: Hướng dẫn trong việc chọn nghề, tuyển trạch người làm, tổ chức công việc làm.

Về giáo dục: Hướng dẫn việc học, tuyển trạch, tâm lý nhi đồng, khoa sư phạm.

Về thương mại: Bán hàng, quảng cáo.

“Và ngay trong đời sống hàng ngày, người ta luôn luôn có dịp nhờ đến tâm lý học để nhận định rõ rệt cá tính của người mình giao tiếp, để hiểu rõ dục vọng, sở thích của họ, để biết họ muốn gì, suy nghĩ những gì và cảm tưởng họ ra sao. Người bán hàng cần biết gợi sự ham thích của khách hàng để họ mua hàng. Nhà y sĩ cần biết phán đoán về người bệnh. Viên sĩ quan cần hiểu những binh sĩ dưới tay mình. Nhà văn cần hiểu tâm lý các nhân vật mình tạo ra. Vợ chồng cần hiểu nhau. Cha mẹ cần hiểu con cái.

Đó âu cũng là một khuyết điểm lớn của nền giáo dục hiện tại, chỉ quan tâm đến chữ “Trí” mà ít nghĩ đến chữ “Hành”, chỉ lo dạy cho bạn trẻ “biết” thật nhiều điều mà không dạy cho chúng “biết hành động” hoặc ít ra vạch cho chúng “biết đường lối để hành động”. Các giáo sư thường nhồi nhét vào óc các sinh viên mớ hiểu biết hỗn tạp với những lý thuyết, những giả thuyết, những tài liệu, những thí nghiệm mà các nhà tâm lý học xưa nay đã thâu thập. Có mấy người đã biết vạch cho bạn trẻ rõ: Bằng cách nào người ta có thể dùng tâm lý học để phát triển cá tính của mình, có thể dùng kỹ thuật tâm lý học nào để làm cho mình thêm sức hăng hái hoạt động hoặc thêm sức chịu đựng, dùng tâm lý học cách nào để quan sát, phân tách và nhận xét tâm tính của những người mình gần gũi?

Vì thế, đa số các bạn trẻ (kể luôn những bạn trẻ có học) rất ngỡ ngàng khi bước ra đời thực tế và họ thường tỏ ra bất lực khi phải hành động. Mớ kiến thức của họ chỉ là những món đồ trang hoàng chứ không phải là những dụng cụ có thể giúp họ xây dựng một đời sống tươi đẹp cho riêng cá nhân họ chứ đừng nói đến việc thực hiện những công cuộc gì lớn lao có thể giúp ích cho xứ sở, cho nhân loại.

Quyển “La Connaissanee Des Hommes” của Philippe Girardet mà chúng tôi đã dịch và trình diện sau đây là một quyển sách thực tiễn. Tác giả vốn là một nhà văn nhưng đã từng lăn lộn trong giới doanh nghiệp, gần gũi với thực tế nên những sách ông soạn phần nhiều đều có tính cách thực tiễn. Dựa vào một lý thuyết về cá tính con người của hai giáo sư F. Achille Delmas và Marcel Boll, ông thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống thực tiễn và theo lời ông thú nhận: “Không lúc nào ông thấy nó sai”. Đặc biệt nhất là ông đã khéo trình bày một vấn đề trừu tượng bằng một cách rất “sống”, ông đã khéo giảng giải một khoa học khúc chiết một cách rất sáng sủa.

Riêng chúng tôi, cũng nhờ may mắn có dịp đọc qua quyển “La Personnalité Humaine” của F. Achille và M. Boll mà thấy thích thú nghiên cứu về tâm lý học và cũng đặng hiểu nó một cách rõ ràng hơn. Chúng tôi cũng đã thử áp dụng tâm lý học một cách ích lợi trong nhiều ngành mà chúng tôi đã có dịp trình bày với độc giả hai quyển “Nghề Bán Hàng” và “Tâm Lý Ái Tình”. Cũng từ lâu rồi, chúng tôi có ý định giới thiệu lý thuyết của hai giáo sư ấy với độc giả trong nước nhưng chưa biết phải trình bày thế nào cho dễ hiểu vì nếu dịch thẳng quyển “La Personnalité Humaine” của F. Achille và M. Boll ra Việt văn thì chắc không bổ ích bao nhiêu vì hai nhà tâm lý học này trình bày thuyết của họ theo lối các nhà bác học nghĩa là đứng trên tầm hiểu biết của họ mà giải thích, bất chấp trình độ hiểu biết của phần đông độc giả, thì học chăng chỉ có ích cho một số hiếm người đã từng gần gũi với nhiều loại sách tâm lý. Tình cờ chúng tôi có dịp đọc quyển “La Connaissance Des Hommes” của Philippe Girardet trong đó tác giả cũng có ý định như chúng tôi là thử giải thích thuyết ấy cho đa số người đọc có thể hiểu, lẽ dĩ nhiên là cho độc giả Pháp, và thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống thực tiễn.

Ông Philippe Girardet đã viết một quyển sách chúng tôi định viết. Không phải mất thì giờ để làm lại công việc đã có người khác làm và làm rất hay, chúng tôi thấy chỉ việc xin phép tác giả cho dịch sách ấy ra Việt văn là có thể thực hiện ý định của mình. Tác giả đã vui lòng cho phép và hôm nay quý độc giả có dịp đọc quyển “Biết Người”, tâm lý học áp dụng vào đời sống thực tiễn, sớm hơn chúng tôi đã tiên liệu.

Sở dĩ chúng tôi dịch quyển “Biết Người” vì muốn giới thiệu với độc giả một khoa học rất hữu ích: Tâm lý học, mà nhất là vì đó là một quyển sách phổ thông kho học đã đặng viết bằng một lối văn hết sức giản dị, dễ hiểu. Đó là một thí nghiệm chứng tỏ người ta có thể giảng giải những khoa học khúc chiết bằng một lối văn thông thường cho mọi người có thể đọc và hiểu. Tác giả có nói rõ ý định của mình ở chương đầu sau đây. Riêng về phần tác giả, chúng tôi nhận thấy ông đã đạt mục đích một cách rực rỡ. Những ai từng có dịp đọc qua quyển “La Personnalité Humaine” của F. Achille và M. Boll và quyển“La Connaissance Des Hommes” của Philippe Girardet ắt cũng phải đồng ý với chúng tôi rằng chính ông sau này đã giúp chúng ta hiểu rõ lý thuyết của Delmas và M. Boll còn hơn hai người cha đẻ ra thuyết ấy.

Nhưng về phần dịch giả, chúng tôi có đạt được mục đích ấy chăng? Điều đó cũng còn tùy sự rộng lượng của độc giả. Khoa tâm lý học đối với chúng ta còn mới quá, sách về tâm lý chưa có bao nhiêu, chúng ta lại thiếu cả những danh từ về tâm lý học. Vì thế trong sách này mỗi khi phải dùng đến một danh từ hơi chuyên môn hoặc chưa được thống nhất chúng tôi có chua thêm tiếng Pháp để độc giả có dịp đối chiếu và ở phần sau sách chúng tôi có làm một tự vựng giải thích các danh từ ấy.

Tin rằng một khi đã hiểu qua những khó khăn ấy, quý độc giả chẳng những sẽ không “quá nghiêm khắc” đối với chúng tôi mà còn sẵn lòng chỉ bảo cho những khuyết điểm và chúng tôi xin có lời thành thật cảm ơn trước.

Dịch giả cẩn chí

Tháng 5/1956

BÍ QUYẾT ỨNG XỬ TRONG TÌNH YÊU – NGỌC THUÝ LOAN

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Chương 1

Bạn Gái và Sự Chinh Phục

Nghệ thuật chinh phục đối tượng tượng không chỉ là một lĩnh vực của riêng các đấng mày râu, mà ngay cả với phái yếu cũng rất quan trọng. Để có thể hấp dẫn, lôi cuốn một người đàn ông, một bạn trai lý tưởng mà bạn thích, vấn đề khả năng và sở trường của một người con gái là cần thiết. Trong cuộc sống ngày nay, làm thế nào để cho một người đàn ông yêu tha thiết và muốn đi đến hôn nhân thực sự với bạn, thì quả là một điều không đơn giản. Có lẻ do cuộc sống xã hội ngày càng bực bách và đầy dẫy những khó khăn, trong khi người đàn ông luôn coi trọng sự thành đạt, nên họ rất ngần ngại khi quyết định lập gia đình. Quen và yêu nhau, với họ là một điều dễ dàng, thậm chí họ luôn sẳn sàng. Thế nhưng khi đề cập tới chuyện hôn nhân, hầu như nhiều đàn ông đều lẩn tránh bằng những câu bóng gió vu vơ rồi tìm cách lơ đi. Do vậy trong tình yêu, khả năng chinh phục của người con gái rất quan trọng. Để có thể giúp bạn có được người bạn đời lý tưởng:

– Đừng bao giờ đòi hỏi quá cao về mẫu người bạn tình. Hãy đưa ra một tiêu chuẩn khiêm tốn, hợp với thực tế thân phận của mình. Ngày nay, đa số đàn ông đều có một kiến thức nhất định cũng như khả năng nhìn nhận thế giới xung quanh. Việc xỏ mũi họ không phải dễ.

– Hãy nhận thức đuợc mục tiêu và đối tuợng mà bạn muốn chọn, nên bình quân tiêu chuẩn của đối tượng. Chẳng hạn một cô hàng nước thì đối tượng thấp nhất là anh chàng đồng gánh như mình và cao nhất là ông chủ cửa hàng tạp hoá. Như vậy, tiêu chuấn giữa hai đối tuợng trên là… anh chàng quản lý tạp hoá. Bạn đừng mơ làm vợ một giám đốc hay chàng tài tử điện ảnh nào đó, vì những ước mơ đó khó trở thành hiện thực.

– Một khi đã lùng săn ra đối tượng mà bạn cho là như ý, hãy mạnh dạn tiếp cận và ra hiệu cho chàng tiến tới. Từ đó, bạn sẽ dễ dàng có cơ hội để tìm hiểu về những sở thích, tính tình, công việc… các yếu tố cần thiết cho hạnh phúc gia đình sau này.

– Theo thời gian, khi mối quan hệ giữa bạn và đối tượng đã trở nên khắng khít, bạn nên tìm cơ hội bộc lộ những thói quen không mấy tốt đẹp hay các khuyết điểm thường gặp để dò tìm thái độ phản ứng từ phía chàng. Và tất nhiên những thử thách có chủ tâm phải được đạo diễn một cách kín đáo, tránh gây hiểu lầm nơi đối tượng để thử thách, bởi nó dễ dàng làm cho tiến trình phát triển tình cảm của bạn bị chùng lại.

– Và khi tình cảm đang lên ngôi, hãy tạo những cơ hội giả để đặt vấn đề sâu xa hơn bằng những hình thức đề cập từ xa. Dù rằng bạn cũng có thể nói thẳng về vấn đề hôn nhân, song tốt nhất là hãy để chàng tự nguyện từ những gợi ý với tư cách nhắc khéo của bạn. Không nên mơ tưởng đến những gì xa vời, mà hãy hành động theo chính tiếng gọi của con tim bạn với mức độ cho phép. Những sự vồ vập quá đỗi cũng có thể làm cho đối tượng có suy nghĩ không hay về bạn.

CHƯƠNG HAI:

BẠN GÁI CÓ NÊN TỎ TÌNH TRƯỚC HAY KHÔNG?

Trong nội dung thứ nhất của câu hỏi, theo tôi các bạn gái hoàn toàn có thể chủ động tỏ tình trước trong tình yêu. Song xin nói nhỏ với các bạn: kiểu tỏ tình đó phải mang nữ tính rõ rệt mới có giá . Bởi vì về mặt tâm lý giới tính mà nói, các bạn trai luôn thích mình là người đi chinh phục, mình là người có đủ khả năng mở khoá trái tim các cô gái hơn là thích mình bị các cô gái chinh phục, bị mở khoá trái tim. Nếu bạn gái không biết cách mà tỏ tình lộ liễu, tỏ tình sỗ sàng, thiếu tế nhị, hoặc tỏ ra quá săn đón, quá mết người bạn trai mình yêu thì ít khi họ được đáp lại.

Bí quyết đầu tiên của việc tỏ tình là hãy làm sao để người bạn trai đó phải tập trung sự chú ý vào bạn bằng cách làm tăng vẻ đẹp và sự duyên dáng bên ngoài của mình. Về bên trong tâm hồn, điều dể gây mối thiện cảm ở bạn trai là sự chăm chỉ trong công việc, sự khéo léo về nữ công nội trợ, tính chân thật dịu dàng, sự tế nhị, lịch thiệp khi giao tiếp, biết giữ đúng lời hứa và sống nhân hậu, vị tha (biết quan tâm, hy sinh vì người khác…) Trước mặt bạn trai, các bạn gái đừng tỏ ra cố chấp, nhỏ nhặt hay ganh tỵ, hay xét nét người khác, bạn gái cần quan tâm đến công việc làm ăn, đến sinh hoạt, hoàn cảnh gia đình, những sở thích, những tâm tư của người bạn trai ấy. Phải biết cảm thông, biết động viên an ủi khi người bạn trai ấy gặp khó khăn, thất vọng. Tất nhiên là sự quan tâm phải hết sức tế nhị, thì mới gây được mối xúc động lớn ở người bạn trai. Bạn đừng bộc lộ sự chăm sóc của mình trước nơi đông người mà chỉ nên thể hiện khi có hai người với nhau. Khi đã phát ra những biểu lộ tình cảm trên đây, qua giao tiếp bạn gái sẽ nhận biết người bạn trai ấy có hướng tình cảm về phía mình không. Rồi bạn có thể chủ động viết thư tó tình trước hoặc bằng cách gián tiếp nào đó thổ lộ tình cảm của mình nếu rụt rè chưa dám tin vào sự đánh giá mức độ tình cảm của đối phương mà người bạn trai đó chưa dám nói lời tỏ tình. Song bạn phải cần dùng lý trí dứt khoát gạt bỏ khỏi suy nghĩ của mình hình ảnh người bạn trai đó nếu đã phát tín hiệu biểu lộ tình cảm như trên mà bạn vẫn chưa đọc thấy sự biểu lộ tình cảm đáp lại trong đáy mắt người bạn trai. Vì như vậy có nghĩa là anh ta hoàn toàn không yêu bạn. Trong những trường hợp như vậy, sự tỏ tình sẽ mang lại thất bại khiến bạn thêm đau khổ và hoang mang, dễ có mặc cảm tự ti khi đến với một tình yêu khác sau này.

CHƯƠNG BA:

PHẢI NÓI GÌ MỖI KHI GẶP CHÀNG?

Nhiều bạn trai đã chú ý đánh giá những phẩm chất của sự thú vị mà họ tìm đuợc trong những cuộc gặp gỡ đi chơi với bạn. Những giây phút đầu tiên này được tạo nên do những tác động qua lại giữa hai người với nhau. Làm thế nào để những giây phút bên nhau giữa bạn và chàng có đuợc nhiều ấn tượng và là những kỷ niệm đẹp? làm sao để tránh khỏi những tình huống trong đó bạn tự mình gỡ thoát khỏi những hoàn cảnh khó xử? Để giúp bạn tránh những sự cố không biết đối phó hoặc bó tay , sau đây là một số yếu tố then chốt bạn cần lưu ý:

– NÊN nói gì đó về y phục mà chàng đang mặc hay tán thưởng về một dự kiến đắc ý nào đó mà cả hai cùng có đuợc.

– KHÔNG NÊN tự tiết lộ quá nhiều về bạn. Hãy cho chàng dần dần trở nên thân mật, gần gũi với bạn nhiều hơn. Thay vì bạn nóng lòng muốn đốt giai đoạn bằng cách cho chàng lên ngôi thần tượng quá sớm trong tim mình. Bạn mới chỉ gặp chàng không lâu, tuy bạn thích chàng đấy, nhưng lúc này đối diện với bạn, chàng mới chỉ là những đường nét sơ lược, một bản phát thảo trong bức tranh toàn cảnh mà bạn đang vẽ lên trong trí thức của mình.

– KHÔNG NÊN thiếu tự chủ. Nếu ở bên bạn mà chàng hơi hơi thân mật quá sức cho phép thì bạn hãy sửa tướng ngồi lại cho ngay ngắn và quả quyết bằng một giọng nói chậm rãi, mạch lạc hãy giải thích phải trái cho chàng hiểu rằng bạn buột lòng phải bật đèn đỏ. Nếu chàng tỏ ra cáu kỉnh, thiếu bình tĩnh vì bất như ý, tiếng nói của bạn phải càng tỏ ra mềm mỏng, khôn khéo hơn… Nhưng dù có thế nào chăng nữa thì bạn cũng phải tỏ ra cương quyết cao độ trong khi đang thuyết trình bài nam nữ thọ thọ bất thân .

– KHÔNG NÊN đòi hỏi chàng phải có quá nhiều trách nhiệm và bổn phận đối với mình mỗi lần đi chơi chung với chàng. Bạn hãy để mặc chàng tự ý thức về những vấn đề này. Hãy tỏ ra có độ lượng và tạo những cảm giác thoải mái cho chàng.

– NÊN tạo nhiều mối tiếp xúc qua ánh măt nhìn. Hãy gởi tới chàng một thông điệp qua tín hiệu không lời này rằng bạn đang cảm thấy hạnh phúc khi ở bên chàng. Đây là một biện pháp tạo khích lệ cho chàng rất hiệu quả.

Chương 20 Nữ điệp viên – cô gái trong căn nhà Biệt thự có giàn hoa tím

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Trước mặt tôi là một phụ nữ đã đứng tuổi, đôi mắt sáng đầy vẻ cương quyết. Khuôn mặt phúc hậu hiền lành, luôn có nụ cười rất tươi và thân thiện, nhưng đằng sau tất cả những điều ấy ẩn chứa một cái gì đó, mà có lẽ không bao giờ biết được. Người phụ nữ này từng là nỗi kinh hoàng của ngụy quyền Sài Gòn và mạng lưới dầy đặc CIA Mỹ, một thời với biệt danh 10K. Một điệp viên tình báo cách mạng mà kẻ thù ráo riết săn lùng, nhưng không tài nào bắt được. Và chúng cũng không thể nào biết được cô là Nguyễn Thị Thu Trang.

Thu Trang sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân, đông con, ở xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Là một gia đình trung nông, nhưng có truyền thống cách mạng rất sớm, như quê hương Trảng Bàng của cô. Vì thế mà cô vẫn đùa: “Hồi nhỏ được cả gia đình cưng chiều, yêu thương. Đi học phải có mẹ đi kèm mới chịu…” Như bao cô bé sinh ra trên mảnh đất anh hùng này, lòng căm thù giặc cứ ngấm vào trong máu thịt

từ lúc nào chẳng rõ. Tuổi hồn nhiên thơ mộng của Thu Trang trôi nhanh như một cánh chim vụt qua khung cửa tuổi thơ… Cả gia đình không một ai biết cô bé cưng 15-16 tuổi đã gia nhập tổ chức cách mạng…

Hàng ngày Thu Trang ôm cặp đến trường cùng bạn bè, nhưng đôi mắt cô luôn ngóng về phía cây cầu ấp Bình Trang, nơi bọn mật vụ ác ôn, chỉ điểm của giặc tra xét giấy tờ, nhìn mặt từng người dân qua lại. Năm 1968, sau những thất bại cay cú của Mỹ và tay sai, bọn giặc tìm mọi cách ngăn chặn phong trào cách mạng đang chuyển sang đấu tranh vũ trang kết hợp binh vận. Hàng ngày có hai tên mật thám đèo nhau trên xe 67 chạy qua lại theo quy luật nhất định… Tổ chức giao cho Thu Trang nhiệm vụ đầu tiên trong đời là bấm mìn diệt 2 tên ác ôn đó. Mìn được cài đặt bên vệ đường, cầu dây dẫn vào bụi cây cách đó khoảng 10m. Đến chiều hai tên ác ôn bắt đầu xuất hiện, vẫn ôm cặp học trò, từ trường, Trang xuất hiện gần vị trí bấm mìn. Người cô run bắn lên, có lẽ lần đầu tiên trong đời cô nghe tim đập thình thịch như trống trường giờ tan học. Thời gian nhảy theo nhịp tim khi hai tên tiến lại gần vị trí. Nhưng run quá, cô không dám thò bay bấm… Hai con chó săn đi qua rồi, cô nói sao với các anh, các chú đây? Hình ảnh những người thân quen trong gia đình hiện về như tra vấn cô, nhất là người mẹ kính yêu bị pháo địch bắn chết trong một đêm ở Hậu Nghĩa… Máu căm thù trong cô lại sôi lục lên. Đợi khi hai tên chó săn quay lại, Thu Trang mạnh dạn đưa tay vào chốt điện, một tiếng nổi long trời, lở đất của loại mìn DH10 vang lên với làn khói ngập đen trời chiều, bóng cô nữ sinh áo dài trắng thoăn thoắt như sóc chuyền cành lao nhanh về phía trường, rồi hòa lẫn trong muôn vàn bạn học tan trường… Sau thất bại cay cú giữa thanh thiên bạch nhật ấy, bọn mật thám, ác ôn liên tục lùng sục những người tình nghi. Theo lời kể lại, có một sỹ quan Mỹ nhìn thấy bóng dáng một chiếc áo dài trắng chạy vụt qua khi có tiếng nổ… Nữ sinh trường Minh Đức bị nghi ngờ tra xét. Một hôm thấy giám thị cho biết có mật vụ đứng trước cổng trường, cùng bọn chiêu hồi nhận dạng. Thu Trang vờ thản nhiên như không biết gì hết. Tan trường cô chạy xe ra cổng, thay vì rẽ trái về nhà như mọi khi, cô rẽ phải… Khi đến dốc, bỗng hai xe 67 chở bọn chó săn vây chặt, bắt cô lại, Trang nghĩ mình chưa sơ hở, chưa bị lộ nên cứ thản nhiên kêu oan, vô tội. Chẳng nói, chẳng rằng bọn chúng chở thẳng cô về bốt cảnh sát ở Hậu Nghĩa. Tên ác ôn khét tiếng hung ác vùng Hậu Nghĩa lúc bấy giờ là Bảy Của, một gã khát máu, gọi người dẫn Trang lên thẩm vấn. Những trận đòn phủ đầu, hằn học giáng xuống cô nữ sinh 17 tuổi như mưa, hòng áp đảo tinh thần và tra khảo cô khai ra tổ chức, thừa nhận đã đặt mìn… Một sỹ quan cảnh sát, đeo lon đại úy, có thể là người của ta cài cắm, nhanh nhẹn lấy cặp sách Thu Trang mang đi kiểm tra, rồi ông ta căn dặn bên tai cô: “Nhớ nói gì thì trước sau phải như thế, không thì chúng đòn đau…” Sau này nghĩ lại cô rất ân hận vì không biết sĩ quan ấy là ai? Số là trong cặp cô, ngoài sách vở ra, còn có cuốn nhật ký cô thường ghi sau ngày mẹ mất. Trong đó Trang ghi những chi tiết như: Mẹ ơi, con căm thù bọn giặc đã giết mẹ… Nếu lọt vào tay giặc thì chúng bắt đi tù đày…

Khoảng hai tháng giam giữ không khai thác được gì hơn, bọn giặc đành phải thả cô bé.

Tổ chức có kế hoạch đưa Trang về Sài Gòn học và hoạt động, vì tại Trảng Bàng coi như cô đã bị tình nghi. Nhờ qua một người quen biết có bà con, Thu Trang được tổ chức bố trí về Sài Gòn vừa học, vừa tiếp tục công việc của mình vào năm 1969. Cũng vào năm này, cha của Thu Trang khi đem xác anh em đi chôn cất, lựu đạn địch cài bên dưới đã nổ tung, ông hy sinh. Cô bé Thu Trang bắt đầu mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cô chiến đấu với lòng căm thù được nhân đôi. Về Sài Gòn, Thu Trang mang cái tên mới Nguyễn Thu Kiều. Ngày hai buổi, nàng Kiều ung dung đi học, cô gái chân quê học làm dân thành thị không mấy khó khăn với nhan sắc của mình. Trận đánh đầu tiên của Thu Kiều tại Sài gòn ngay năm 1969. Hôm đó Thu Kiều cùng tổ trưởng biệt động Thành Nam đóng cặp trai gái đến khu cư xá Kỳ Sơn, nằm trên đường Trần Hưng Đạo, đối diện rạp Trần Hưng Đạo bấy giờ, mìn được cài cẩn thận, súng đạn lên nòng. Khi đến giờ phát hiệu lệnh, những tiếng nổ vang trời cùng với tiếng kêu la thất thanh khiếp đảm của bọn sỹ quan Mỹ, một đòn giáng vào ngay sào huyệt Mỹ ngụy tại Sài Gòn, làm cho bọn CIA, tai mắt chính quyền Sài Gòn bạt vía kinh hồn. Những trận đánh, những tin tức tình báo từ 10K – Nguyễn Thu Kiều – cô cháu họ của bộ trưởng chiêu hồi Nguyễn Ngọc An được thường xuyên cập nhật đến các điểm báo mật của ta, đến kịp thời các cơ sở, và khu R. Từ lời khai và chỉ điểm, mật thám Sài Gòn và cơ quan tình báo Mỹ ráo riết săn tìm cô gái biệt danh 10K, chúng treo giải thưởng 1.000.000 đồng cho ai phát hiện hoặc bắt, giết chết viên tình báo Việt cộng có bí danh 10K. Vào thời điểm bấy giờ, có lẽ đây là lần đầu tiên cái đầu của Thu Kiều được treo giải thưởng cao nhất. Nhưng tất cả chỉ là vô vọng. Đến năm 1972, cơ sở hoạt động bị lộ. Đồng chí chỉ huy Hai Hồng bị địch phục kích bất ngờ hy sinh trên đường đi công tác. Trong cặp tài liệu của anh, còn có cả một danh sách các đồng chí tình báo nội thành đề nghi cấp trên khen thưởng, đặc biệt là Thu Trang – Bí danh 10K có nhiều trận đánh, nhiều thông tin xuất sắc, chính xác. Bọn giặc tưởng như đã sắp nuốt được Thu Trang vào bụng cho hả dạ bấy lâu săn lùng tìm kiếm… Cô bồi hồi nhớ lại lần may mắn thoát chết đầu tiên trong đời: “Không hiểu sao hôm đó, nhận được lệnh cấp trên là không được về Tây Ninh vì bọn chúng đang canh chực tại Trảng Bàng. Do cơ sở bị lộ, một tên chiêu hồi vốn là người của ta, chỉ điểm, nhưng Thu Trang không hề biết việc đó. Cô bồn chồn đứng ngồi không yên, chấp hành mệnh lệnh cấp trên qua mật hiệu. Nhưng tự nhiên cô nhớ nhà một cách không tả được, cũng khá lâu rồi từ khi mang tên Thu Kiều cô không về thăm nhà… Mặc dù tổ chức đã báo động như vậy nhưng Thu Trang vẫn âm thầm về thăm nhà. Chính điều này đã giúp cô một cách ngẫu nhiên thoát khỏi cuộc vây ráp bắt bớ của bọn địch khi đồng chí Hai Hồng hy sinh. Bọn địch vây bắt cả nhà, nơi Thu Kiều đang ở nhờ.

Tháng 7-1973, cô được cử đi dự Đại hội Thanh niên toàn miền tổ chức tại Sa Mát – Thiên Ngôn, Tây Ninh, tại đây cô đã gặp và quen với Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Phùng, người mà bây giờ là chồng cô. Cuối năm 1973, Thu Trang được cử đi dự Đại hội chiến sỹ thi đua toàn miền. Sau đó cô về công tác tại Quân khu Sài Gòn – Gia Định. Đầu năm 1974, Thu Trang là một nữ duy nhất trong đoàn cán bộ chiến sỹ thi đua, anh hùng được Trung ương cục miền Nam cử ra thăm miền Bắc. Tháng 4/1975, Thu Trang cùng chị Võ Thị Thắng được cử sang Cu Ba anh em. Tại đây, hai chị được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhân dân, đặc biệt là thanh niên Cu Ba hoan nghênh nồng nhiệt. Những buổi gặp gỡ trò chuyện với đồng chí Chủ tịch Phiden Catrô là những ấn tượng không bao giờ quên đối với hai cô gái anh hùng của đất nước Việt Nam anh hùng. Hôm kỷ niệm lễ Quốc tế lao động 1-5, Chủ tịch Phiden kết tay cùng mọi người đi diễu hành. Chị Thắng và Thu Trang là hai cô gái Việt Nam đi bên cạnh Chủ tịch với nụ cười rạng rỡ. Cô kể lại với tôi: “Đó là những ngày tháng đẹp nhất trong đời, khi nghe tin Sài Gòn giải phóng, nhân dân Cu Ba như vỡ òa ra đường hò reo, vui mừng không tả xiết. Bạn bố trí cho xe cắm cờ Việt Nam diễu hành khắp nơi. Đoàn xe diễu hành qua lễ đài, chị Võ Thị Thắng và tôi đứng trên xe vẫy tay chào đón mọi người, tiếng reo hò vang dậy như sấm…”.

Năm 1976, Thu Trang được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, và là đại biểu trẻ nhất dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Năm 1983, thượng tá tình báo – Anh hùng LLVTND Nguyễn Thu Trang xin chuyển ra khỏi quân đội. Cô tâm sự: “Muốn làm một cái gì đó, cũng cống hiến cho nhân dân, Tổ quốc, miễn sao giữ gìn được đức tính quý báu của chiến sĩ cách mạng…”. Năm 1995, Thu Trang trở thành Phó giám đốc Công ty liên doanh Mê Linh Point (Công ty TNHH Trung tâm Mê Linh). Ngoài những kỳ tích về chiến công, cô còn là một tấm gương về tinh thần vượt khó đi lên, hiếu học và về nghị lực của một phụ nữ phi thường. Năm 1990, cô tốt nghiệp Đại học Kinh tế, năm 1994 lấy thêm bằng đại học nâng cao chương trình do nước ngoài tổ chức tại Việt Nam… Hiện nay cô đang sống cùng gia đình tại cư xá Bắc Hải, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh . Hai cô con gái: Kiều Loan sinh năm 1978, hiện đang là sinh viên năm thứ 4 – Trường Đại học Kinh tế, cô út là Kiều Lê sinh năm 1981, là học sinh cấp III trường Bùi Thị Xuân.

Trở lại câu chuyện với nghề tình báo, cô cười hỏi tôi: “Do đâu mà nhà báo biết tôi?”.

Hẳn mọi người còn nhớ, những năm gần đây, cuốn tiểu thuyết tình báo có tên: “Biệt thự có giàn hoa tím”… Nhân vật Thu Trang trong bài viết này là cô gái trong căn biệt thự có giàn hoa tím. Là chính căn nhà trong cư xá Bắc Hải bây giờ…(1)

==================

(1) Trần Hiếu – Tiền phong số cuối tháng 6/99.

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.