" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

BÀI HỌC NGÀN VÀNG – CHƯƠNG 19 : BÀ NĂM CÂY THỊ BỊ TÙ VÌ TỘI GIAN THƯƠNG

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Sáu tháng sau khi “Bài học ngàn vàng” được phổ biến trong dân chúng, một hôm bà Năm đang ngồi bán hàng thì có hai bà nhà quê, khoảng 40 tuổi vào tiệm hỏi mua hàng. Bà Năm vồn vã chào hỏi:

– Các bà muốn mua gì ạ?

Một trong hai bà trả lời:

– Bà bán cho tôi hai tạ gạo thứ thượng hạng và hai tĩn nước mắm thứ thật ngon.

– Vâng, mời hai bà vào trong này ngồi nghĩ cho mát đã. Hai bà ở từ quê lên từ lúc nào mà đến sớm thế?

Bà xoay vào trong gọi con gái:

– Hai ơi, con đem nước chè nóng mời hai bà uống con!

Rồi bà lại xoay lại nói với hai bà khách hàng:

– Các bà ở xa mới đến, không biết, chứ hàng của chúng tôi ở đây đều được mọi người tín nhiệm, muốn mua thứ hàng nào là đúng y thứ hàng ấy, không sợ lầm, không sợ hớ. Các bà mua làm quen một vài lần, lần sau sẽ thấy chúng tôi buôn bán thật thà chất phác lắm. Không tin, bà đi hỏi các nhà lân cận quanh khu phố này thì biết …

Bà nói huyên thuyên bất tận làm hai bà nhà quê đứng đờ người ra đó mà ừ ừ, dạ dạ, không biết đối đáp ra sao. Sau khi đợi cho hai bà khách uống xong hai bát nước chè nóng và trả xong giá cả, bà Năm sai người nhà ra cân gạo và lấy hai tĩn nước mắm thượng hạng ra. Hai bà nhà quê hỏi đi hỏi lại cho thật chắc về giá cả và cân lượng rồi mở ruột tượng ra lấy tiền trả. Tiền nong đã trả xong, một trong hai bà mới cất tiếng nói một cách đanh thép:

– Bà bảo rằng bà chân thật, hàng của bà là thứ thượng hạng, vậy xin để cho chúng tôi thử xem lại có đúng hay không.

Nói xong bà đi ra phía cửa hàng, ngoắc gọi ba người đàn ông lực lưỡng đi vào. Ba người này mang theo một bao tời đựng nhiều quả cân đủ loại. Họ lấy ra một quả móc vào cân và xách hai bao gạo để lên cân. Hai bao gạo đều thiếu mỗi bao là 4 cân. Họ lại mở cả hai bao lấy gạo ra xem thì thấy gạo có trộn nhiều tấm và cám. Họ lại mở hai tĩn nước mắm ra xem thì mỗi tĩn chỉ chứa có nửa nước mắm và nếm xem thì đây cũng không phải là thứ nước mắm thượng hạng, mà là thứ hạng ba, hạng tư. Sau đó họ bảo bà Năm đem các quả cân cho họ xem, thì quả nào cũng không đủ cân lượng. Họ lại khám xét các loại hàng khác thì thấy thứ nào cũng không phải là thứ nguyên chất, mà có pha trộn rất nhiều.

Ba người đàn ông lấy giấy tờ ra làm biên bản, bắt bà Năm và hai bà nhà quê lăn tay vào tờ vi bằng. Làm xong thủ tục đâu vào đấy, họ liền lấy còng ra còng tay bà Năm dẫn đi.

Bà Năm mặt tái mét, cắt không ra máu, van lạy ba người đàn ông, nhưng ba người mặt lạnh như tiền, bảo rằng họ có phận sự do cấp trên truyền phải thi hành chứ không thể châm chước cho ai được. Bấy giờ bà Năm mới vỡ lẽ ra rằng hai người đàn bà nhà quê và ba người đàn ông vạm vỡ là những người do quan Ðề đốc tổ chức để đi kiểm soát dân chúng có làm theo đúng “Bài học ngàn vàng” mà họ đã treo trong nhà hay không.

Bà Năm cây thị bị ghép vào tội gian lận đầu cơ tích trữ, cửa tiệm của bà bị niêm phong và bà bị tống giam vào lao để chờ ngày lãnh án.

Trong những ngày đầu bị giam giữ trong ngục thất, bà Năm vô cùng khổ sở. Bà không ngờ trong giây phút sự nghiệp tiêu tan, hình hài bị đọa đày trong lao lý. Mỗi ngày bà chỉ được cấp cho hai vắt cơm và một chai nước lã. Ðêm đến bà nằm co rút trên một mảnh chiếu rách muỗi mòng vây quanh hút máu. Phần tiếc của, phần nhớ con, bà sụt sùi than thở một mình hết ngày này sang ngày khác.

Nhưng một hôm, sau khi bị giam giữ được 10 ngày, cửa phòng giam của bà hé mở và bà vô cùng ngạc nhiên và mừng rỡ khi nhận thấy Xuân, người con gái thân yêu của bà, xách một giỏ áo quần và vật thực vào thăm bà! Hai mẹ con ôm nhau mừng mừng tủi tủi một hồi, rồi Xuân thuật lại cho bà rõ nguyên do vì sao nàng xin được phép vào thăm bà.

Nguyên là từ khi bà Năm bị giam, ngày nào Xuân cũng đem cơm nước chờ đợi ở trước cổng công đường để hòng xin vào nuôi mẹ. Nhưng ngày nào nàng cũng thất vọng trở về, vì không quen biết ai nên không làm sao xin được giấy phép vào thăm. Một hôm có con bé độ 8, 9 tuổi bới cơm đến cho cha nó, hiện là lính gác tại lao xá, con nhỏ này ở gần nhà bà Năm cây thị, thường đến mua hàng hóa tại tiệm bà. Nó nhận ra Xuân mà nó rất mến vì mỗi lần nó đến mua hàng, bao giờ nàng cũng lén mẹ, cân đủ phân lượng và lựa thứ tốt cho nó, vì thấy nó nghèo và ngoan ngoãn dễ thương. Thấy nàng ngồi sụt sùi khóc trước cửa công đường nó đến hỏi thăm nàng và hứa sẽ xin với cha nó tìm cách để nàng vào thăm mẹ. Cha nó đã chiều ý nó lén mở cửa phòng giam lúc công đường bãi chầu, để cho Xuân vào thăm mẹ.

Từ đó cứ hai ngày, Xuân lại được người lính gác lén mở cửa phòng giam cho vào thăm mẹ và bới xách cơm nước cho bà.

Nhưng một hôm, trong khi hai mẹ con đang thì thầm trò chuyện thì cánh cửa phòng giam mở toang và một người đàn ông cao lớn trạc độ 30 tuổi đứng ngang giữa cửa. Người này chính là quan đề lao. hai mẹ con run rẩy đứng phắt dậy, nép vào tường, chờ đợi sự thịnh nộ của quan đề lao.

Quả thật, quan đề lao sau khi nhận thấy có kẻ lạ mặt đã lén lút vào phòng giam để thăm tù nhân, liền quát tháo rầm lên. Quan quở trách người lính gác đã để cho Xuân vào thăm mẹ và sai lính căng nọc ra đánh 10 hèo. Sau đó quan truyền tống giam người lính bất tuân kỷ luật ấy vào lao.

Xuân, mặc dù sợ hãi, nhưng thấy vì mình mà anh lính ấy bị vạ lây, liền quỳ xuống trước mặt quan đề lao xin tha cho người ấy. Nàng nói:

– Bẩm lạy quan lớn! Xin quan lớn rộng lòng dung tha cho bác lính ấy. Mọi sự lỗi lầm đều tại tôi mà ra. Tôi vì nóng lòng muốn được vào thăm mẹ tôi nên tôi đã năn nỉ với bác ấy cho được vào thăm. Bác ấy thấy thương cảnh mẹ con tôi côi cút, tứ cố vô thân, nên lén vi phạm lệnh quan lớn cho tôi được toại nguyện. Vậy xin quan lớn hãy bắt tội tôi và tha cho bác ấy!

Quan đề lao không khỏi ngạc ngiên trước một cử chỉ quả cảm như vậy, nhưng quan vẫn làm mặt nghiêm, nói:

– Người bất tất phải xin chịu tội thay cho lão kia. Lão ấy có tội của lão, và ngươi cũng có tội của ngươi. Ngươi đã kén lút vào đây, bất chấp cả luật lệ, ngươi tưởng ngươi không bị tội sao, lại đi nhận tội cho người khác?

– Dạ bẩm tôi xin nhận tất cả tội lỗi của tôi và của bác ấy.

Quan đề lao cười mỉa:

– Ngươi can đảm thật! Ngươi có biết hai tội ghép lại sẽ nặng như thế nào không?

Bẩm quan lớn, dù nặng thế nào đi nữa thì tôi cũng được một sự an ủi và may mắn là được giam giữ ở đây cùng mẹ tôi, để sớm hôm săn sóc cho mẹ tôi.

– À ra thế! Ngươi muốn bị giam giữ để được gần gũi với mẹ ngươi, săn sóc cho mẹ ngươi! Con có hiếu dữ! Nhưng ngươi sẽ thất vọng!

Nói xong quan xoay lui truyền lịnh cho mấy người lính gác:

– Các ngươi hãy đem con nhỏ này giam vào phòng riêng cho ta, và nhất thiết không được cho hai mẹ con liên lạc với nhau.

BÀI HỌC NGÀN VÀNG – CHƯƠNG 18 : BÀ NĂM CÂY THỊ TRỞ THÀNH MỘT ÐẠI THƯƠNG GIA

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Tại phố chợ Kinh đô nước Nhục chi, không ai là không biết gian hàng tạp hóa to lớn của bà Năm cây thị. Không rõ bà tên thật là gì, nhưng người ta thường gọi bà là bà Năm cây thị vì trước nhà bà có cây thị sum suê đồ sộ. Bà goá chồng từ khi mới 30 tuổi, nhưng bà không tái giá, ở vậy nuôi đứa con gái độc nhất cho đến bây giờ được ngoài năm mươi. Bà đến lập nghiệp ở cái phố này chưa đầy mười năm, mà bà đã giàu lớn. Khi mới đến bà chỉ là một cô hàng xén, làm chủ một gian hàng nhỏ tại hiên chợ. Không ai hiểu bà đã làm cách nào mà chỉ trong khoảng mười năm, từ hai bàn tay trắng, bà đã trở thành một đại thương gia như vậy. Có người bảo rằng bà hưởng được gia tài của một người qua đường nàm ngủ trọ trong quán bà và chết ở đấy. Có người bảo rằng bà được một viên ngọc rít và nhờ viên ngọc ấy mà bà phát tài lớn. Có người bảo rằng nhà bà có thờ vị thổ công rất linh thiêng, thường mách bảo cho bà món hàng nào nên nên mua trữ và món hàng nào không nên mua.

Thực ra đó là những lời đồn đãi để giải thích sự bộc phát của bà. Lý do chính sự giàu có của bà là những mánh khóe gian lận mà bà đã dùng trong sự mua bán. Phải công nhận là bà có tài ngoại giao ăn nói mềm mỏng dịu dàng, tiếp đón vồn vã khách hàng, nên ai cũng thích đến hàng bà. Nhưng sự khôn khéo miệng lưỡi ấy chưa đủ để tạo cho bà một sự nghiệp đồ sộ trong khoảng chưa đầy mười năm, nếu bà không áp dụng những mánh khóe gian lận như dùng trái cân già khi mua và trái cân non khi bán, trao đổi hàng hóa, phải tính phẩm vật, đầu cơ tích trữ, tóm lại không có một phương cách gì có lợi cho bà mà bà từ chối. Bà tự bảo làm nghề buôn bán mà thật thà, chất phác thì có nước bán nhà đi ở đợ. Cho nên bà đinh ninh rằng đã đi buôn thì phải biết dối trá và có nhiều mánh khóe. Và càng thu lợi nhiều, bà lại càng vững tâm tin rằng quan niệm trên của bà là đúng. Lúc mới đầu, mỗi lần giở thủ đoạn gian dối, bà còn e dè, sợ hãi, nhưng càng lâu, bà càng chai sạn, không thấy ăn năn hối hận nữa. Bà thản nhiên nấu lá chuối khô pha thêm vào nước mắm, đổ nước lạnh vào dấm, trộn mạt cưa vào cám, trận cám vào gạo, trộn gạo xấu vào gạo tốt, dán nhãn hiệu thượng hạng vào phẩm vật hạng trung, nhãn hiệu hạng trung vào phẩm vật xấu …

Nhưng không phải với ai bà cũng áp dụng những mánh khóe như vậy. Bà xem mặt mà bắt hình dung: đối với người sành sỏi thì bà tỏ ra rất chân thật, nhưng với người khờ khạo thì bà bóc lột không tiếc thương. Bà thường bảo cô con gái: ” Ở đời, khôn sống, bống chết”, đứa nào dại thì đứa ấy thiệt … 

Sỡ dĩ bà thường dạy khôn dạy khéo cho cô con gái của bà vì trong sự mua bán, cô này chưa được thành thạo như bà, nghĩa là còn nhiều sơ hở đối với khách hàng, chưa áp dụng đúng nguyên tắc ” khôn sống, bống chết” mà bà đề ra.

Thí dụ, thấy một đứa nhỏ đến mua hàng, theo nguyên tắc của bà thì cô phải lợi dụng sự khờ khạo của nó để bán thứ hàng đã “pha trộn” nhưng đôi khi cô lại bán thứ “nguyên chất” vì thấy đứa  bé mặt mũi sáng sủa dễ thương.

Hay khi gặp một khách hàng nhà nghèo năn nỉ bán cho thứ hàng tốt, cô động lòng thương, lấy “thứ thiệt” đưa ra. Trong những trường hợp này, nếu bà Năm biết được thì thế nào cô cũng bị một trận mắng chửi vì bà cho là cô đã “vi phạm luật lệ mua bán” của bà. Bà bảo rằng làm như vậy là “gây xáo trộn” là “tạo khó khăn” về sau, vì lần này họ mua được thứ tốt với giá tiền phải chăng, thì lần sau họ lại đòi cho được thứ hàng ấy và “tuyên truyền” ra cho người khác biết. Thế là bà sẽ bị “chất vấn” và phải “giải thích” rất mệt, mà đôi khi còn “mất tín nhiệm” với khách hàng nữa.

Công việc buôn bán của bà đang thịnh vượng như vậy thì một việc xảy ra, đem lại cho bà nhiều khó khăn suy nghĩ.

Số là vua Ðột Quyết nước Nhục chi sau khi đem “Bài học ngàn vàng” áp dụng trong cung điện và trong triều đình thấy có được nhiều kết quả tốt, nên truyền lệnh đem bài học ấy phổ biến ra ngoài dân chúng.

Từ Kinh dô cho đến tỉnh quận, các quan sở tại có bổn phận phải làm thế nào cho dân chúng hiểu và áp dụng được bài học nói trên.

Sáng sớm hôm ấy, tại phố chợ Kinh dô, người hai bên phố rần rần đổ xô ra đứng hai bên đường xem một đám rước đi qua. Ðám rước gồm độ một trăm người lính phòng thành mặc áo dấu xanh, đỏ, mang trống, thanh la, ống loa và rất nhiều biểu ngữ có viết bài học ngàn vàng: “Phàm làm việc gì, trước phải nghĩ đến hậu quả của nó“.

Ði một dặm, đám rước lại dừng lại, phóng loa nói cho mọi người biết tôn ý của vua, giải thích nguyên do và ý nghĩa của “Bài học ngàn vàng”, và trước khi đi, họ lại phát cho mỗi người đứng xem một mảnh giấy hồng điều có chép bài học và bảo dân chúng đem về chép hay khắc lại để treo ở trong nhà. Ai không tuân, sẽ bị phạt vạ, và tái phạm sẽ bị phạt tù.

Cô con gái của bà Năm cũng nhận được một mảnh giấy có bài học đem về nhà. Như mọi nhà khác, bà Năm thuê người chạm bài học vào gỗ sơn son thếp vàng rồi treo lên trần nhà, như là một bức hoành phi.

Từ ngày “Bài học ngàn vàng” được treo trước mắt, bà Năm cảm thấy lúng túng khó chịu trong sự buôn bán của mình. Bà cảm thấy như có ai nhìn ngó cử chỉ, hành động của mình, mỗi khi mình bỏ quả cân già, lấy quả cân non, hay mỗi khi pha nước lá chuối vào nước mắm , trộn tấm vào gạo …

Nhưng vốn tính gian tham bướng bỉnh, bà chắc lưỡi, tự bảo: “Hơi đâu bà thắc mắc cho mệt xác, hậu quả mình muốn là trở thành đại phú gia, thì mình phải trù nghĩ, tính toán làm sao thu lợi vào cho nhiều, cho nhanh. Muốn mau giàu to mà lại làm việc lương thiện thì thật là phi lý! Vả lại “có tiền mua tiên cũng được”, miễn sao cho thật giàu có rồi mọi sự đều êm xuôi cả …

Nghĩ vậy, bà thấy vững tâm đi theo con đường cũ. Nhưng để được bảo đảm hơn, bà đi thỉnh một tượng Phật Quan Âm về thờ ở trên gác. Mỗi đêm, sau khi cửa tiệm đã đóng, bà tắm rửa sạch sẽ lên gác thắp hương khấn vái với Phật Bà phù hộ cho bà được mua may bán đắt. Theo lệ thường ngày rằm, mồng một nào bà cũng làm một con gà để cúng Thổ công. Từ ngày có thờ thêm Phật bà, bà bảo con gái nấu thêm xôi chè để cúng Phật. Bà đứng trước pho tượng Phật Bà, khấn vái:

– Lạy Phật Bà! Xin Ngài phù hộ con mua may bán đắt một vốn mười lời, không có việc gì trắc trở xảy ra, thì ngày rằm, mồng một nào con cũng xin nguyện dâng cúng hương hoa quả phẩm và xôi chè.

Lạy xong, bà thiết tha niệm Phật lia lịa tỏ vẻ thành kính lắm rồi lê dép xuống nhà dưới, đánh một giấc ngon lành cho đến sáng.

BÀI HỌC NGÀN VÀNG – CHƯƠNG 17 : BÀ ÁN NHỚ LẠI BÀI HỌC NGÀN VÀNG

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Sáng hôm sau, quan Án dậy sớm khăn áo chỉnh tề rồi đi sang tòa hình làm việc. Quan cho đòi tên nông phu bị đánh hôm qua ra lấy khẩu cung. Quan giận lắm, cả đêm không ngủ được, quyết tìm cho ra manh mối để trị bọn chánh Hàm. Nhưng tên nông phu chỉ khai mình bị đánh, chứ không nhận ra được mặt mày bọn hành hung. Do đó, vụ án vẫn bế tắc ngang đấy.

Trong khi ấy, ở tư dinh, bà Án vẫn còn nằm nghỉ trong phòng chưa dậy. Sau một đêm mất ngủ, mộng mị và lo sợ, bà Án nghe trong mình mệt nhọc lạ thường. Nhưng điều bà phân vân nhất là không biết mình đã nằm mộng hay thấy cô gái thật trong đêm qua. Nhưng dù mộng hay thực, câu chuyện hôm qua đã làm cho bà lo phiền nhiều. Bà không ngờ vụ án tưởng đã êm xuôi, lại trở thành phức tạp. Bốn thoi vàng của bà huyện Minh không dễ nuốt như bà tưởng. Nếu câu chuyện hồi hôm mà thật có như vậy, thì bà cần phải suy xét lại dự mưu của mình. Nhưng bà nghĩ: có lẽ vì mình suy nghĩ nhiều đến vụ án và nhất là vụ tên nông phu bị đánh hồi hôm đến kêu cứu làm cho mình mộng mị như vậy, chứ không chắc có thật. Nhưng dù sao đi nữa, thì bà cũng cần xét lại việc làm của mình. Nhất là khuya hôm qua, khi bà thắp đèn nhìn ra ngoài, bà đã giựt mình khi nhìn lên bức hoành phi ghi khắc “bài học ngàn vàng”.

Mặc dù chưa biết thực hư ra sao, ba vẫn đoán biết là chắc chắn có sự mờ ám trong vụ án. Không mờ ám thì ai dại gì đem hối lộ đến bốn thoi vàng? Mà đã bỏ ra một số vàng nhiều như vậy, chắc chắn là tội ác của lão chánh Hàm không phải nhỏ. Chừng ấy mà suy ra, vụ án chắc còn nhiều điều ám muội khác. Nếu không kịp khám phá, thì chắc chắn tên chánh Hàm sẽ còn làm tới để che giấu tội ác. Nó bắt đầu mưu sát tên nông phu, chồng chưa cưới của thị Nguyệt rồi đây nó sẽ tiếp tục mưu sát cha mẹ Thị Nguyệt để không còn ai dám tố cáo nó nữa. Án mạng sẽ chồng chất thêm án mạng, oan báo sẽ chồng chất thêm oan báo. Tên chánh Hàm mà không sớm bị trừng tri, thì làng nước sẽ không thể sống yên ổn với hắn được.

Về phần gia đình ông bà Án, nếu nhận bốn thoi vàng hối lộ thì từ đây thanh danh gia đình bà hơn hai mươi năm được tiếng tốt sẽ bị mai một. Và nếu vụ án vỡ lỡ ra, triều đình biết được thì sự nghiệp của quan Án sẽ tiêu tan, chưa chắc còn bị tù tội nữa. Mà dù vụ án có ém nhẹm được, thì oan hồn Thị Nguyệt cũng không thể cho ông bà sống yên ổn. Bà thường nghe âm báo, làm cho cả dòng họ bị điêu đứng, cất đầu lên không nổi, con cái bị tàn mạt, chắc là do những vụ án như thế này. Bà lo sợ nhất là cứ mỗi đêm những cảnh tượng oan hồn trở về khuấy rầy bà như hồi hôm, thì chắc là bà không thể sống lâu được, và nếu có sống thì cũng trở thành khùng điên mất.

Trong khi bà đang suy tính như vậy thì bà huyện Minh đến thăm, đang đợi ở nhà ngoài. Lần này bà huyện đem theo một khay trà 6 lon, có lẽ mỗi lon đều có một thoi vàng.

Sỡ dĩ bà huyện gấp rút đến thăm bà Án và đem 6 hộp trà nữa là vì được tin đoàn giám sát đang đi điều tra ở huyện bà. Và có lẽ vì vụ tên nông phu, chồng chưa cưới của Thị Nguyệt bị ám hại hồi hôm.

Bà Án bối rối không biết phải xử trí như thế nào. Bà muốn trả lại 4 lon trà thì không có đủ 4 thoi vàng để trả; mà nín luôn thì phải làm thỏa mãn lời yêu cầu của bà huyện, nhưng lời yêu cầu ấy, bây giờ bà chắc chắn không làm thỏa mãn được. Thực là tấn thối lưỡng nan. Cuối cùng bà tìm kế hoãn binh bằng cách cho người ra nói với bà huyện là bà đi vắng.

Bà huyện buồn bã ra về, có chiều thất vọng. Bà đoán biết là bà Án có ở trong phòng, nhưng không muốn tiếp mình. Sự kiện ấy làm bà huyện càng lo sợ công việc không thành. Bà huyện sang thăm bà Tổng trấn để cầu cứu bà này giúp sức.

Khoảng một giờ sau, bà Tổng trấn sang thăm bà Án. Bà Án không thể lẫn tránh được, buộc lòng phải ra tiếp. Sau một hồi hàn huyên, bà Tổng trấn đột ngột khen:

– Trà ngon quá! Trà này bà mua ở đâu chứ ở đây làm gì có bán? Chắc là bà mua ở Kinh về.

Bà Án bình tĩnh trả lời:

– Dạ trà này ở đây vẫn có bán. Ông tôi chỉ quen uống thứ trà này đã mấy năm.

Bà Tổng trấn châm chọc:

– Thế mà tôi cứ tưởng là của bà huyện mua ở Kinh về biếu.

Bà Án không phải tay vừa, trả lời ngay:

– Dạ, trà của bà huyện cho; ông tôi uống không quen, nên tôi vẫn còn để đó, đợi bà huyện đến sẽ trả lại.

Bà Tổng trrấn thấy bà Án có vẻ găng, sợ lỡ việc, nên đấu dịu:

– Quan Án không quen dùng thì để đó, bà dùng, chứ trả đi trả lại làm gì cho mất lòng.

– Dạ thưa, trước tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng suy đi tính lại thấy trà quý quá, uống sợ lỡ quen, sau này thành nghiện không có đủ tiền mua.

Bà tổng trấn giả lả:

– Bà Án mà không đủ tiền mua trà thì hãng trà bán cho ai?

– Dạ thưa quả thật như vậy đó.

Bà Tổng trấn nửa đùa nửa thật:

– Thật không? Nếu thật, thì để tôi biếu cho.

– Dạ không dám!

– Có gì mà không dám! Chị em mình giúp nhau chút đỉnh, chứ ai vào đó mà ngại?

Bà Án nói bóng gió:

– Dạ tôi không dám phụ lòng tốt cụ bà, nhưng chỉ sợ chúng ta uống trà ngon quá, thì dân nghèo thêm khổ.

Bà Tổng trấn giận đỏ mặt, rũ áo đứng dậy ra về. Ra đến cửa, bà đãi giọng mỉa mai bà Án:

– Thôi xin kiếu về. Bà Án đức hạnh, trong trắng quá, chúng tôi không theo kịp.

– Cụ lớn khen tặng quá lời, làm tôi xấu hổ quá.

Hai người chia tay ở đó. Bà Tổng trấn ra về, có vẻ hậm hực. Bà Án trở vào lòng dạ rối bời. Bà thấy câu chuyện này không nên kéo dài thêm nữa. Từ khi bà nhận 4 lon trà hối lộ, hết bà huyện đến bà Tổng trấn đâm ra khinh dể mình, chứ không còn kính nể như trước. Và cũng từ khi bà nhận 4 lon trà, tâm trí bà không phút nào được yên tĩnh. Nếu không kịp dừng lại thì bà sẽ rơi xuống dốc mất, và lôi cuốn theo cả ông Án, cả gia đình, thanh danh nhà bà xuống bùn đen. Bà phải gấp rút cho ông Án biết giấc mộng hồi hôm, giúp chồng một tray, khám phá vụ án, đưa nó ra ánh sáng sự thật. Còn thoi vàng bà đã tiêu lỡ, thì bà sẽ đi vay mượn thế nào cho đủ số 4 thoi, đem trả cho bà huyện. Bà Án vào phòng, mặc áo chỉnh tề, tất tả đi vào sang Tòa hình nơi quan Án đang làm việc. Quan Án đang bận hỏi cung anh chàng nông phu, chồng Thị Nguyệt. Quan Án không khỏi ngạc nhiên khi thấy bà đến. Bà thấy anh nông phu đang còn ngồi đó, vội vã hỏi một câu mà không ai ngờ đến.

– Anh thường vô ra làm công tại nhà Tổng Hàm, có biết sau hè ông ta có một cây dừa không?

– Dạ thưa có!

Bà Án vô cùng mừng rỡ! Bà xây lại phía quan Án nói:

– Như vậy là có đủ bằng chứng để buộc tội bọn chánh Hàm rồi. Ông cứ cho người về nhà lão ta đào đám đất ở gốc cây dừa sau hè, tất sẽ ra manh mối.

Quan Án ngạc nhiên hỏi lại:

– Tìm ra cái gì? Sao bà biết?

Bà trả lời, vẻ bí mật:

– Ông cứ cho lính về đào đi, sẽ rõ, câu chuyện còn dài, chưa tiện nói ra. Nếu chậm trễ, bọn chúng sẽ phi tang.

Ông Án chưa rõ là chuyện gì, nhưng nhìn thấy vẻ cả quyết của vợ, ông đoán biết có điều quan trọng nên truyền lính đi theo mình, đến nhà chánh Hàm. Khi đào đám đất cạnh gốc dừa, quả nhiên tìm được thây Thị Nguyệt. Vụ án nhờ đó, đã ra ánh sáng. Tên Tổng Hàm và đồng lõa đều bị bắt giam để chờ ngày đền tội.

Quan Án Qúy được triều đình tưởng thưởng một số vàng bạc lớn và thăng chức. Bà Án có đủ số vàng để bỏ vào 4 lon trà, trả lại cho bà huyện Minh.

Từ đấy, gia đình ông bà Án sống trong giàu sang và được mọi người càng thêm kính mến.

BÀI HỌC NGÀN VÀNG – CHƯƠNG 16 : HỒN MA THỊ NGUYỆT VỀ KÊU OAN

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Mấy hôm sau, bà Án để ý thấy vẻ mặt chồng thường đăm chiêu suy nghĩ, ít ăn ít nói. Bà đoán rằng có lẽ lời nói của mình hôm trước bắt đầu có tác dụng trong tâm trạng chồng. Bà hy vọng thời gian sẽ làm cho ông biến đổi dần, và sẽ nghe theo lời đề nghị của bà. Bà đợi khi ông đã xiêu lòng, sẽ tấn công mạnh một lần nữa, thì thế nào cũng thành công. Bà bắt đầu lạc quan, tin chắc rằng thế nào bốn thoi vàng cũng không còn phải trao trả lại cho bà huyện Minh nữa. Có mấy thoi vàng làm vốn, bà cảm thấy vững dạ, tự tin hơn.

Ðêm nay trước khi đi nghỉ, bà thắp mấy cây hương ra đứng giữa sân khấn vái tứ phương, cầu trời khấn Phật cho công việc dự tính của bà được trôi tròn. Bà khấn vái trời Phật nếu linh thiêng thì sẽ phò hộ cho gia đình bà thoát khỏi cơn túng thiếu bằng cách xui khiến cho bà thuyết phục được chồng bà thay đổi tánh thanh liêm vô bổ, lòng cương trực gàn dở của ông.

Bà khấn vái xong, định quay lưng bước vào nhà, thì nghe tiếng rên nho nhỏ ở ngoài ngõ. Bà vùa sợ hãi vừa ngạc nhiên đứng dừng lại lắng tai nghe: rõ ràng có tiếng rên và kêu cửa của một người đàn ông. Bà gọi lính lệ ra xem.

Hồi lâu, người lính đi vào dẫn theo một người đàn ông máu me đầy mình, chống gậy, lê một chân vào sân nhà. Bà Án chưa hịp hỏi thì quan Án ở trong nhà đã bước ra sân. Người đàn ông sụp quỳ xuống lạy quan Án và sụt sùi khóc. Quan Án hỏi tự sự và được biết: Anh chàng này chính là chồng chưa cưới của Thị Nguyệt. Anh ta sau khi bị đánh đuổi ra khỏi nhà chánh Hàm đã tìm đến nhà cha mẹ Thị Nguyệt, xin bỏ tiền chuộc Thị Nguyệt về làm vợ. Cha mẹ Thị Nguyệt bằng lòng nhận tiền đến nhà chánh Hàm chuộc con gái về, nhưng chánh Hàm làm khó dễ không cho chuộc và sau đó ít hôm phao tin là Thị Nguyệt đã bỏ nhà lão lẫn trốn. Cha mẹ Thị Nguyệt đầu đơn kiện chánh Hàm với quan huyện Minh, nhưng bị quan huyện tuyên bố vô bàng cớ và miễn tố chánh Hàm. Vụ án được đưa lên tỉnh, và trong khi cha mẹ Thị Nguyệt ngày đêm vẫn đi lùng kiếm tung tích của con gái. Nhưng sự tìm kiếm này luôn luôn bị tay chân của chánh Hàm tìm cách cản trở và hăm dọa.

Nhân gần đây, nghe tin triều đình có cử một phái đoàn giám sát về các miền quê hẻo lánh dể điều tra dân tình và thâu nhận những điều thỉnh nguyện cùng những khiếu nại của dân chúng, anh chàng lực điền, hôn phu của Thị Nguyệt này, đã ngầm đệ đơn tố cáo vụ án trên với phái đoàn giám sát. Nhưng sau khi trở về nhà, anh ta bị một nhóm người thừa cơ đêm tối núp ở trong bụi, nhảy ra chận đánh đập anh đến bất tỉnh. Bọn chúng tưởng anh đã chết, bỏ đi. Khi anh tỉnh dậy, biết chắc là bọn tay chân chánh Hàm đã âm mưu sát hại anh, anh không dám trở về nhà mà lê lết đến đây để nhờ quan Án rũ lòng thương xót bảo vệ cho anh thoát khỏi tay chân bọn chánh Hàm sát hại.

Quan Án nghe xong, tỏ ra phẫn nộ bọn chánh Hàm ỷ mạnh hiếp cô đã coi thường luật pháp. Ngài dạy viên lính lệ đem anh lực điền xuống nhà dưới rửa ráy băng bó các vết thương và cho anh ta ngủ trọ lại một đêm, đợi sáng mai sẽ liệu.

Bà Án không khỏi bực mình vì sự việc mới xảy ra. Bà đinh ninh mọi sự sắp trôi tròn, thì bất ngờ vụ án lại thêm rắc rối. Bà đi vào phòng, đặt mình lên giưòng, cố ngủ nhưng không sao nhắm mắt được. Bà trằn trọc đến canh ba mới thiu thiu nhắm mắt.

Bốn bề im lặng, thỉnh thoảng một làn gió nhẹ thoảng qua. Vài ngọn lá vàng rơi rụng ở sau hè nhà. Những tàn lá chuối xào xạc chạm vào nhau như thì thầm tâm sự. Có tiếng chó sủa ở đàng xa, rồi nghe mỗi lúc mỗi gần. Hình như có tiếng chân bước rất khẽ trên những chiếc lá khô ở ngoài vườn, rồi có tiếng thở dài não nuột. Bà Án choàng thức dậy, lo lắng nghe ngóng, rồi lại nằm xuống, mỏi mệt trăn qua trở lại, ngủ thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn …

Tiếng thở dài não nuột lại bắt đầu. Hình như có cả tiếng gõ rất khẽ vào cửa sổ, hay đó chỉ là tiếng cành cây chạm vào cửa? Mọi bề lại im lặng, một thứ im lặng chờ đợi một biến cố sắp xảy ra trong phút chốc …

Bỗng một luồng gió lạnh thổi tạt vào phòng. Chiếc màn treo ở cửa ra vào bay cao lên như có người vén lên để bước vào. Một cô gái xõa tóc, che hết cả mặt mày, áo quần trắng, nhuộm đầy máu khô, đứng sừng sững ở một góc phòng. Cô gái rụt rè nhìn quanh phòng, rồi bước từng bước một rất nhẹ, khẽ như không đụng đất, đi lần về phía dưới chân giường bà Án. Cô gái từ từ quỳ xuống bên chân giường, nhẹ nhàng như một cái bóng, rụt rè, từ từ đưa tay nắm chéo áo bà Án, như để lay gọi bà thức dậy. Bà Án sợ quá, cố sức thét lên, nhưng không thành tiếng. Cô gái cũng có vẻ sợ bà kêu cứu, nên giơ tay lên khoát qua khoát lại trước mặt bà Án như có ý bảo bà đừng sợ. Rồi cô gái sụp xuống lạy bà hai lạy, mỗi lần cô ta cúi rạp xuống, bà thấy thấp thoáng ở cổ cô  ta có một sợi dây buộc quanh dính đầy máu. Lạy xong cô gái ngồi xếp bằng phía dưới chân bà, đưa tay lên vén những sợi tóc phủ trước trán. Bà thoáng thấy nét mặt cô gái trắng trẻo hiền từ nhưng đầy vẻ khổ đau. Một bên mép, một tia máu ứa ra, chảy từ từ xuống cổ áo. Cô gái nói lí nhí ở trong miệng những gì bà Án không nghe rõ. hồi lâu, bà cố gắng đánh bạo, cất tiếng dõng dạc hỏi:

– Ngươi muốn gì? Tại sao đương đêm lẻn vào nhà người ta làm gì?

– Bẩm lạy bà lớn, bà lớn tha lỗi cho con. Con bị oan ức quá, nên tìm đến đây để nhờ quan lớn, rũ lòng thương xót, xét xử công minh cho con nhờ. Con định tìm đến đến phòng quan lớn nghỉ, nhưng không biết chỗ, nên đi lạc vào phòng bà lớn, xin bà lớn tha tội cho.

– Ngươi ở đâu, tên họ là gì, oan ức ra làm sao?

Cô gái nghe hỏi, sụt sùi vừa khóc vừa kể:

– Bẩm bà lớn, con tên là Thị Nguyệt ở thôn Xuân Ðài, cha tên Sơn, mẹ tên là Tí. Gia đình con nghèo khó, làm ruộng mất mùa luôn mấy năm, vay nợ chánh Hàm, vốn lời chồng chất không có tiền trả, nên phải cho con đến ở đợ tại nhà chánh Hàm để trừ nợ. Con ở được hai năm, thì được một trai tráng trong làng tên là Thiệp để ý, muốn cưới con về làm vợ. Con đã ưng thuận nhưng chánh Hàm biết được, tìm cách ngăn cản. Nó sai tôi tới trong nhà tìm các gây sự với anh Thiệp, đánh anh có thương tích rồi bảo anh phải bỏ làng đi nơi khác làm ăn, nếu không sẽ bị giết. Anh Thiệp sức yếu thế cô, đành phải bỏ làng ra đi làm ăn xa. Nhưng vì đã nặng lời thề ước với con, anh dành dụm được một số tiền đến xin cha mẹ con cưới con và đem tiền trả nợ chánh Hàm, chuộc con về. Chánh Hàm làm khó dễ, không chịu cho con về, một mặt nó cấm tuyệt cha mẹ con đến nhà nó, một mặt nó đem giam con lại trong phòng riêng của nó. Ban đầu nó dùng lời ngon ngọt ép con phải làm vợ lẽ nó, con từ chối; nó trở mặt, dọa nạt đánh đập con, con cũng một mực đòi trở về với cha mẹ.

Khuya hôm sau, trong khi mọi người trong nhà ngủ hết, nó lại trở vào phòng, đem theo một hộp gỗ đựng đầy vòng vàng chuỗi ngọc và một con dao. Nó bảo con phải chọn lựa một trong hai thứ ấy. Con nhất quyết im lặng, không lựa chọn thứ nào hết. Nó bảo nếu lấy nó thì sẽ có nhà cao cửa đẹp; nếu từ chối nó, thì nó sẽ cho đi đầu thai kiếp khác. Con chỉ một mực đòi về nhà.

Thấy không lay chuyển được lòng con, nó liền giở trò cưỡng hiếp con. Sau đó, vì xấu hổ và uất ức, con đã treo cổ tự tử trong phòng hắn.

Bà Án nghe đến đây giựt mình kinh hãi, hỏi lại:

– Vậy ra ngươi đã chết rồi sao?

Cô gái gật đầu, và khóc nức nở. Một hồi nàng kể tiếp:

– Con bây giờ là một oan hồn vất vưởng trên dương thế. Nếu vụ án này mà không được xử công minh thì con không làm sao rửa hận mà về âm cảnh được. Con biết chồng chưa cưới của con hôm nay có ở đây, vì con luôn luôn ở bên chàng, để phò hộ cho chàng. Con sợ nếu vụ án này mà chưa ra manh mối, tên chánh Hàm chưa đền tội, thì rồi đây chồng con, cha mẹ con thế nào cũng bị nó hãm hại. Con đến đây van lạy quan lớn, bà lớn, vì lòng nhân đạo, đem vụ án này ra ánh sáng để rửa oan con và cứu cha mẹ và chồng con ra khỏi sự hãm hại của bọn chánh Hàm.

– Quan Án đang điều tra, nhưng chưa ra manh mối, chưa tìm ra được bằng có rõ ràng nên chưa thể xét xử được.

– Bởi vậy cho nên hôm nay con hiện về đây, mách cho bà lớn biết đầu đuôi câu chuyện và nếu muốn có bằng cớ thì xin quan lớn cho người về đào bên cây gốc dừa ở sau nhà tên tổng Hàm thì sẽ thấy xác con.

Cô gái nói xong, cúi xuống lạy bà Án hai lạy, rồi đứng dậy, đi ra phía cửa phòng, biến mất.

Bà Án hốt hoảng giựt mình thức dậy. thì ra bà vừa nằm mộng. Nhưng giấc mộng đầy đủ chi tiết, rõ ràng như thật, làm bà hoang mang không hiểu là chuyện thật hay mơ. Bà ngồi dậy, lắng nghe động tịnh. Trong nhà vẫn vắng vẻ im lặng; ngoài vườn lá cây xào xạc như thì thầm, và xa xa có tiếng chó sủa. Bà đứng dậy thắp đèn lên, đi ra phòng ngoài. Phòng ngoài vẫn yên lặng. Bà nhìn lên trần nhà, bức hoành phi sơn son thếp vàng phản chiếu vào mắt bà bài học ngàn vàng: “Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó“.

BÀI HỌC NGÀN VÀNG – CHƯƠNG 15 : BÀ ÁN THUYẾT PHỤC ÔNG ÁN LẦN THỨ HAI

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Mấy hôm nay bà Án có vẻ lo lắng không yên. Bà đã hứa với bà huyện là sẽ nói với chồng bỏ qua vụ án chánh Hàm, nhưng bà chưa tìm được dịp thuận tiện để nói. Trong khi ấy thì quan Án có vẻ gấp rút xúc tiến việc điều tra tìm bằng chứng cho vụ án nói trên. Bà sợ, nếu không kịp cản trở, quan Án sẽ đi quá trớn và mọi việc sẽ vỡ lỡ thì bà sẽ không biết xử trí làm sao đối với bà huyện và bốn thoi vàng của bà. Lúc đầu mới nhận được số vàng ấy, bà còn phân vân lưỡng lự, nửa muốn lấy nửa muốn trả lại, chưa nhứt quyết. Nhưng số vàng càng ở lâu thêm trong nhà bà, bà lại thấy thân cận, quý mến nó và muốn giữ lấy luôn. Bây giờ, bà không nghĩ đến chuyện trả lại chủ nó, mà chỉ suy nghĩ làm cách nào để giữ được nó một cách êm thắm, không bị phiền hà lôi thôi về sau.

Bà nhứt quyết chiều nay, trong bữa cơm, bà sẽ gợi câu chuyện ấy với chồng, Bà biết tánh ông rất thanh  liêm, nhưng cũng rất nể vợ, thương con. Nếu bà khéo nói thì chắc quan Án cũng không nỡ để ngoài tai. Nhưng điều bà suy nghĩ là không biết có nên nói thật với ông về vụ bốn thoi vàng hay không? Sau một hồi suy nghĩ, bà tự bảo là chưa nên nói ra, vì lỡ nếu ông không bằng lòng, thì chắc chắn là mọi sự sẽ đổ vỡ hết.

Trong khi chờ quan Án bãi chầu trở về, bà đi lui đi tới ở trước hiên nhà, sắp đặt trong trí những điều cần nói. Bỗng bà nhìn lên, và mấy chữ sơn son thếp vàng trong bức hoành phi treo trên trần nhà đập vào mắt bà: “Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ đến hậu quả của nó“. Ðây là “Bài học ngàn vàng” mà vua Ðột Quyết đã truyền lịnh cho bá quan văn võ trong nước phải treo lên ở trước mắt.

Bà Án đã thuộc làu câu ấy, chỉ nhìn lên là bà nhớ chứ không cần phải đọc. Nhưng chỉ cái nhìn thoáng qua ấy cũng đủ làm cho bà suy nghĩ và mất hết sự tự tin lúc đầu. Bà có mặc cảm là mình sắp làm một điều bất chính. Nhưng rồi bà tự bảo rằng cũng chưa hẳn là như vậy. Bà biện bạch: Thứ nhất vụ án ấy chỉ mới là nghi vấn. lão chánh Hàm ấy có thể làm bậy, nhưng cũng có thể bị vu oan. Nếu lão ta bị oan, mình cứu được lão ta, thì đó là một điều đáng làm. Thứ hai, số vàng ấy đối với gia đình bà là cả một gia tài nhưng đối với lão chánh Hàm, thì đâu có giá trị gì? Thứ ba, nếu mình không giúp đỡ lão ta, thì rồi cũng có người khác giúp đỡ lão, cuối cùng chỉ thiệt cho mình mà thôi. Vả lại, đã có quan Tổng Trấn bảo bọc rồi, thì còn sợ gì nữa. Thứ tư số vàng mình lấy được, đâu phải để phụng dưỡng riêng cho mình, mà là để lo cho chồng cho con, phụng dưỡng cha mẹ, giúp đỡ bà con, làm vẻ vang cho làng cho họ … và cuối cùng, bà kết luận: Nếu xét về hậu quả của việc làm này, thì thấy lợi nhiều mà hại không đáng kể.

Bà nghĩ đến đó thì quan Án cũng vừa về đến nhà. Bà đon đã chào hỏi chồng rồi lanh lẹ xuống nhà dưới bảo người nhà soạn đồ nhấm bưng lên.

Rửa ráy xong, quan Án ngồi vào mâm cơm. Nhưng hôm nay quan Án có vẻ không vui vẻ như mọi ngày. Bà Án nhìn chồng lo ngại, nếu ông không vui, thì bà chưa tiện nói ra câu chuyện chánh Hàm. Nhưng bà cần biết vì sao chồng mình có vẻ bực tức. Bà hỏi:

– Hình như hôm nay ông có điều gì không vui thì phải?

Quan Án thở ra rồi nói:

– Bọn thư lại mỗi ngày mỗi bê bối, chỉ có một việc sai đi điều tra vụ án chánh Hàm, mà gần tháng nay, bây giờ trở về trình rằng chẳng tìm được bằng cớ gì về vụ mất tích con ở gái hết! Tôi chắc là chúng được chánh Hàm hối lộ, nên ém nhẹm vụ này.

Bà Án nghe chồng nói, chột dạ, nhưng thấy cần phải binh vực bọn nha lại:

– Ông cũng nên nghĩ lại cho họ. Họ đã đi điều tra mà không có gì khả nghi thì bảo làm sao họ có bằng cớ để buộc tội cho lão chánh Hàm ấy được? Có thì họ nói có, không thì họ bảo không, chứ không lẽ, không mà dựng đứng là có. Biết đâu nguyên cáo không vu cáo cho lão chánh Hàm vì tư oán tư thù?

Quan Án càng bực tức, cắt ngang:

– Bà là đàn bà chỉ giỏi việc bếp nước; bà đâu biết được những bí ẩn trong các vụ án tiết mà cũng xăm lo vào? Tôi coi việc xử kiện đã gần ba mươi năm nay, tôi đã có nhiều kinh nghiệm, nên khó mà ai qua mắt tôi được. Bà thử suy nghĩ xem, một đứa con gái yếu đuối, nghèo khổ, không có ai che chở mà trốn đi đâu được trong khi chung quanh nó, bọn tay chân của chánh Hàm ngày đêm bủa vây canh gác? Tôi chắc dù nó có cánh cũng không thể thoát khỏi nhà chánh Hàm được, mà dù có thoát được, thì vài ngày hôm sau cũng bị bắt lại. thế mà đã hơn một tháng nay, không ai tìm ra được manh mối của nó là tại sao?

– Thế theo ông thì sao?

– Thì vì chánh Hàm đã giam giữ nó một nơi kín đáo, hay đã thủ tiêu nó rồi, chứ còn tại sao nữa?

– Nếu chánh Hàm làm như vậy, làm sao giấu được thiên hạ, tai mắt chung quanh?

– Thì vì nó giàu, nhà to cửa lớn tay chân đông đảo, nó bỏ tiền của ra bịt mắt bịt miệng thiên hạ, nên có mắt cũng như mù, có miệng cũng như câm.

Quan Án chậm rãi hớp một ly rượu rồi tiếp:

– Tôi chắc trong vụ này, lão huyện Minh cũng được chánh Hàm nhét vào túi một số tiền to.

– Mình không biết chắc, đừng nghi oan cho người ta mà nang tội. Tôi thấy vợ chồng ông huyện Minh cũng chất phác, phúc hậu.

– Bà cứ tin bề ngoài, mà chết! Họ ăn hối lộ, không lẽ họ nói với bà sao? Không ăn hối lộ thì làm sao có cửa cao nhà lớn như vậy? Mà trong vụ này tôi chắc cụ Tổng Trấn cũng không khỏi chấm mút …

Bà Án có vẻ lo ngại:

– Ông đừng nói bậy, lỡ đến tai cụ Tổng Trấn thì nguy to.

Quan Án cãi:

– Mình thanh liêm trong sạch thì ai làm gì mình được? Chính họ không sợ mình thì thôi, chứ sao mình lại sợ họ? Tôi biết chắc cụ Tổng có nhúng tay vào, nên đã hai ba lần giục tôi làm gấp vụ án, trình lên ngài xem. Cụ còn bảo nếu thấy không có gì nghi ngại thì xếp, chứ đừng kéo dài mất thì giờ. Cái cách nói như vậy là đủ rõ cụ thiếu vô tư.

Bà Án như mở cờ trong bụng nói ngay:

– Nếu cụ Tổng đã dạy như vậy thì ông cứ làm theo, trách nhiệm gì đâu mà ông ngại. Dẹp được thì dẹp cho yên, chứ moi ra làm gì cho mệt xác, mà sanh thù sanh oán với kẻ dưới người trên?

Quan Án ngồi trầm ngâm, không muốn trả lời vợ, để khỏi mất hòa khí trong gia đình. Nhưng ông không khỏi buồn khi nhận thấy vợ mình đến nay vẫn không hiểu mình. Nhưng bà Án thấy chồng không trả lời, lại tưởng ông đã xiêu lòng nghe theo mình. Bà tấn công thêm:

– Ông thấy không, Suốt đời mình liêm khiết mà có đi đến đâu đâu? Lương tháng không đủ ăn. Con cái đã lớn mà chưa thành gia thất, mẹ cha đã già mà chưa chút đền đáp ơn sanh thành dưỡng dục. Mỗi khi tôi nghĩ đến tình cảnh của gia đình mình mà ứa nước mắt. Mình thủ phận không dám đua đòi với ai, nhưng người ta đâu có để cho mình yên, mà còn khinh rẻ mỉa mai! Không những kẻ đồng liêu với mình cao ngạo với mình, mà người dưới, ỷ có tiền của cũng lên mặt với mình. Thật chán! Thời buổi này ai cũng chạy theo danh theo lợi, chẳng ai thèm đếm xỉa đến cái cần kiệm liêm khiết của mình. Một đời làm quan, cuối cùng khi về hưu, tay trắng lại hoàn tay trắng!

Bà Án vừa nói vừa lấy khăn chậm nước mắt. Quan Án không nói gì, nhưng vẻ buồn bã hiện rõ trên nét mặt; không phải quan buồn vì hoàn cảnh đen tối mà bà Án vừa phác họa, nhưng buồn vì vợ mình vẫn không hiểu mình, không nâng đỡ mình trong nhiệm vụ nặng nề của một nhà xử kiện thanh liêm giữa một xã hội lấy tiền bạc để mua chuộc chân lý, công bình.

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.