" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

Glenn L. Martin – Gương thành công 2

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Đêm rằm tháng giêng năm 1886, bà Minta Martin ở Macksbung nằm mộng thấy ngồi trên một cái máy, bay trên không trung, lượn trên châu thành bà ở, đưa tay ra vẫy vẫy bạn bè đứng dưới đường và buồn rầu vì họ không thể bay như mình được.

Việc đó xảy ra mười bảy năm trước khi hai anh em Wright bay thử lần đầu.

Gặp lúc khác thì chắc bà không để ý gì tới giấc mộng đó cả, nhưng hồi ấy bà đương có mang và đã được nghe nhiều người đoán điềm giải mộng nên bốn mươi tám giờ sau, khi sanh con trai là Glenn Martin thì bà tin rằng con bà sau này sẽ bay được trong không trung như bà.

Điều lạ lùng nhất trong truyện đó là con bà sau tập bay thật, sau hai anh em Wright một chút và là người thứ ba ở Châu Mỹ lái một máy bay tự mình sáng chế ra.

Bây giờ Martin là người đứng đầu trong kỹ nghệ hàng không mà ông đã làm cho phát triển một cách phi thường. Xưởng chế tạo của ông, tức công ty Glenn L. Martin, ở gần Baltimore xứ Maryland, là một trong ba xưởng chế tạo phi cơ lớn nhất thế giới. Ông đã đóng những chiếc Marauder cho lục quân, Mariner cho hải quân và Baltimore cho nước Anh. Ông là nhà chế tạo phi cơ danh tiếng nhất thế giới. Mà nếu thân mẫu ông không nằm mộng thấy mình bay lên trên không trung thì có lẽ ông đã không lựa nghề đó.

Bạn hỏi tôi:

– Tại sao vậy?

Là vì suốt thời thơ ấu của ông, bà cụ thường kể cho ông nghe giấc mộng ấy, gây cho ông một mục đích cao vời, một quyết tin, một tham vọng: chinh phục được thế giới của bão tố. Mà ở trên những cánh đồng cỏ miền Kansas, nơi tuổi thơ ông trôi qua, luôn luôn có những trận bão tố dữ dội cần phải chế ngự.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông kể cho nghe rằng những trận gió ở Kansas đã đóng một vai trò chủ yếu trong thời thiếu niên của ông. Hồi sáu tuổi, ông lấy một chiếc mền cột vào chiếc xe nhỏ sơn đỏ, rồi cho gió thổi xe chạy trên đường phố như thuyền buồm chạy trên sông.

Sau ông đi giày đạp tuyết, tay cầm một chiếc buồm tự ông cắt lấy rồi để gió đẩy chạy trên băng. Ông cũng dùng cách đó để khỏi phải đạp xe máy. Ông bảo rằng thời đó hễ gặp một khu rộng nào có thể dùng buồm để di chuyển được là ông cũng mê mẩn, như bị thôi miên.

Tôi ngờ rằng cái thời xa xăm ấy, thời bà cụ Martin còn ở Kansas thì cụ chưa hề được nghe chữ tâm lý nhưng cụ đã dùng một phương pháp tâm lý mà các tâm lý gia ngày nay chắc chắn đều công nhận là hiệu quả, để nung lòng can đảm và đức tự tin của con trai. Khi con khôn lớn, làm được một việc gì thì cụ để cho cậu tự lãnh lấy mọi trách nhiệm. Một lần cậu muốn có một đôi giày trượt tuyết mà không có tiền mua, cụ bảo cậu lại tiệm thợ rèn mà mượn đồ, xin sắt, tự rèn lấy một đôi, cậu vâng lời làm liền. Muốn có một chiếc diều, cậu cũng phải làm lấy. Và đọc một tạp chí, cậu đã nảy ra ý chế ra một kiểu diều rất mới có hai tầng cánh. Cậu ráp nó trong nhà bếp và khi thấy nó bay thẳng hơn, cao hơn tất cả những diều khác ở Kansas, cậu thích thú, hăng hái vô cùng.

Cậu hãnh diện về sự thành công đó đến nỗi tự tổ chức cuộc thi diều và cậu thắng. Thế là các trẻ em trong châu thành đều năn nỉ cậu làm cho một chiếc diều như của cậu.

Cậu bé Glenn Luther Martin – mà năm chục năm sau chế tạo được chiếc phi cơ lớn nhất thế giới, chiếc Mars. Hồi đó lập một xưởng làm diều trong nhà bếp của bà cụ. Mỗi đ êm cậu làm được ba chiếc diều và bán hai cắc rưỡi một chiếc: trả mặt một cắc rưỡi cho trả góp làm ba tuần, mỗi tuần năm xu.

Lòng tự tin của cậu còn tăng lên nữa khi cậu thấy mình có khiếu về máy móc và có thể làm được nhiều đồ mà các trẻ khác làm không được.

Ba chục năm sau, khi ông đã chế tạo những phi cơ đánh đắm được nhiều chiến hạm, một ký giả ở Cleveland lại phỏng vấn ông về những bước đầu trong nghề, ông đáp:

– Má tôi đã ảnh hưởng nhiều đến tôi. Người đã khuyến khích tôi làm diều trong nhà bếp. Người đã tập cho tôi đức tự tin.

Khi những chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện ở Kansas, Martin chỉ ước ao mỗi một điều là được lái loại xe kỳ dị chạy không cần ngựa đó. Ông xin được vào làm trong một hãng sửa xe. Sau này, khi gia đình ông dời qua Santa Ana ở California, ông mở một hãng sửa xe, xin được làm đại lý các hãng xe Ford và Maxwell. Hồi đó, ông hai chục tuổi, làm nghề bán và sửa xe ấy mà kiếm được từ ba đến bốn ngàn Mỹ kim mỗi năm.

Rồi một việc xảy ra làm cho cuộc đời ông thay đổi hẳn.

Một buổi sáng năm 1905, một tin trong báo làm ông sửng sốt rồi như bị thôi miên: hai anh em Wright ở Kitti Hawk, miền Bắc Caroline, đã bay được trong một trăm giây. Tin đó kích thích ông vô cùng, ông nhận ra rằng thứ máy bay đó đương rầm rộ mở một kỷ nguyên mới.

Vậy ra hai anh em Wright đã bay được trong một trăm giây. Ông lấy đồng hồ ra, đếm một trăm giây, rồi tự nhủ: “Có người bay được một trăm giây thì sau này sẽ có người chế tạo được những máy bay bay được một giờ, có lẽ năm giờ…. biết đâu chừng?”

Vài tháng sau ông lại bị kích thích một lần nữa: ông thấy một tạp chí kỹ thuật in hình phi cơ của hai anh em Wright. Nghiên cứu tỉ mỉ hình đó xong, ông thưa với bà cụ:

– Xét cho kỹ thì chẳng qua máy bay chỉ là một chiếc diều lớn có động cơ. Con làm diều được, thì cũng chế tạo một chiếc máy bay như vậy được, để con làm rồi lắp ráp cho má xem.

Bà cụ nhớ lại giấc mộng hồi xưa, đáp:

– Con có lý, con có lý, con tất làm được.

Hồi đó ông hai mươi tuổi, ham bay tới nỗi muốn bỏ hết thời giờ vào việc chế tạo máy bay. Nhưng không được như sở nguyện vì còn phải kiếm ăn nữa, cho nên ban ngày đ ành trông nom hãng xe hơi, còn ban đ êm, ồ ban đ êm, thì tha hồ muốn làm gì thì làm. Mới đầu ông đóng một kiểu diều lớn chở nổi một người, không có động cơ, rồi ông tập bay thử. Sau nhiều tháng tập bay như vậy, ông nóng lòng muốn chế tạo một phi cơ thực, có động cơ đ àng hoàng. Nhưng phải làm ra sao bây giờ? Ông mù tịt hay gần như mù tịt về khoa khí động học, và chưa được học tập về kỹ thuật bao giờ.

Mặc dầu vậy ông cũng cố đóng một chiếc máy bay, không có bản đồ vẽ trước, mà cũng chẳng được ai giúp đỡ, chỉ bảo. Ông hăng hái lắm, lại một thư viện công cộng, đọc sách về kỹ thuật xây cầu vì ông nghĩ rằng biết cách xây cầu thì sẽ tìm được cách đóng một chiếc phi cơ nhẹ chở được một người và một động cơ.

Năm 1908 ông chế tạo xong chiếc phi cơ thứ nhất trong một nhà thờ bỏ hoang ở Santa Ana, xứ Californie mà ông phải mướn mỗi tháng mười hai Mỹ kim. Thân phụ ông mắc cỡ vì có đứa con điên điên khùng khùng bán xe hơi kiếm được rất nhiều tiền thì không chịu lại bỏ phí thì giờ chế tạo những máy để bay. Thanh niên trong tỉnh thấy ông bỏ ăn, bỏ ngủ, không biết là ngày lễ, ngày nghỉ là gì, cặm cụi hết tháng hết năm, cũng chế giễu ông nữa. Một bà già nọ lại thuyết thân mẫu ông để cụ bảo ông bỏ cái ý của ma quỷ đó đi.

– Nếu thượng đế muốn cho loài người bay được thì đã cho chúng ta cặp cánh rồi, phải không cụ?

Chỉ mỗi có một người khuyến khích ông là thân mẫu ông. Cụ nhớ lại giấc mộng của cụ. Cụ tin chắc con cụ sẽ bay được. Mỗi đ êm cụ cặm cụi với con trong ngôi nhà thờ hoang, cầm chiếc đ èn dầu chiếu sáng cho con làm. Kẻ tò mò ngó qua cửa sổ xem thằng khùng đó làm cái trò gì. Ông bực mình sơn các cửa kính không cho ai nhìn qua được nữa. Rồi ông khóa cửa lại. Nhưng họ vẫn tới để cười, chế ông. Ông lại phải mướn người coi cửa để ngăn họ đừng tới gần.

Luôn mười ba tháng như vậy, hai mẹ con ông làm việc đ êm này qua đ êm khác, cả trong đ êm lễ Giáng Sinh, cả trong đ êm Nguyên Đán. Nhưng xin bạn đừng phàn nàn cho họ. Công việc đó không phải là một công việc thường: nó là một sự đam mê. Không phải là một chuyện đóng một phi cơ mà là chuyện chinh phục thế giới của gió bão, cho một giấc mộng thành sự thật. Chắc chắn hồi ấy ông sống vui thích hơn một ông vua hoặc một nhà triệu phú rất nhều. Có lần ông bảo tôi rằng mười ba tháng đó là quãng đời đẹp nhất của ông.

Ông lắp một động cơ hai mã lực vào phi cơ của ông. Muốn cho nhẹ, ông thay cái vỏ gang bằng một cái vỏ đồng. Ông phải đẽo sáu chiếc chong chóng mới được một cái vừa ý.

Sau cùng phi cơ đóng xong. Phải phá một vài mảng tường của nhà thờ rồi ngày cuối tháng bảy năm 1909, vào nửa đ êm, Glenn Martin và hai người phụ tá, đẩy máy bay ra ngoài, cho ngựa kéo nó lên đường cái hơn năm cây số nữa, tới một cánh đồng để sáng sớm hôm sau bay thử. Sở dĩ phải kéo ban đ êm như vậy là để cho ngựa không thấy hình thù kỳ dị của nó mà hoảng hốt.

Tinh sương ngày mùng một tháng tám năm 1909, Glenn Martin leo lên phi cơ, mở máy, động cơ nổ vang trời. Ông lên số, máy ông rung chuyển mạnh, đâm xiên đâm xẹo, rồi thì, ôi phép mầu! Nó cất cánh được. Em nhỏ Glenn Martin xưa làm diều trong nhà bếp ở Kansas nay đã bay được. Phút đó là phút quan trọng nhất đời ông.

Sau ông đóng những chiếc China Clipper, tức những phi cơ đầu tiên đã vượt Thái Bình Dương và đóng rất nhiều phi cơ chiến đấu.

Đời ông là một tấm gương sáng cho ta thấy năng lực phi thường của một ý chí chuyên chú vào một mục đích độc nhất. Mới rồi ông nói với tôi:

– Nếu ông lựa một con đường và không khi nào quên mục đích của ông thì dù con đường khó khăn, lởm chởm đến đâu, rốt cuộc thế nào ông cũng tới được một nơi nào đó.

Somerset Maugham – Gương thành công 1

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Theo bạn, kịch nào có giá trị nhất từ trước? Có lần, các nhà phê bình nổi danh về kịch đã bầu kín ở Nữu Ước để lựa lấy mười kịch có giá trị nhất thì kịch Hamlet đứng đầu sổ. Kịch đó viết cách đây trên ba trăm năm. Rồi kịch thứ nhì không phải là kịch Macbeth, hoặc kịch Vua Lear, kịch Nhà buôn ở Venice, mà là kịch Mưa. Vâng, kịch Mưa, một kịch diễn sự chiến đấu dông tố giữa Tình dục và Tôn giáo, một kịch soạn theo một chuyện ngắn của Somerset Maugham.

Kịch Mưa đã đem lại cho Maugham bốn chục ngàn Anh Kim, mà ông không mất chút công nào để soạn nó.

Việc xảy ra như vầy: Ông viết môt truyện ngắn nhan đề là Sadie Thomson. Viết xong, ông chẳng nhớ gì tới nó nữa. Nhưng một đêm John Colton lại chơi nhà ông, và Colton muốn có cái gì đọc để vỗ giấc ngủ, Maugham bèn đưa cho Colton ấn cảo truyện đó.

Colton say mê đọc, kích thích lạ lùng. Ông nhẩy xuống sàn đi đi lại lại, tưởng tượng ra như thấy truyện đã diễn thành kịch, một kịch sau này sẽ bất hủ.

Sáng hôm sau, ông chạy tìm Somerset Maugham, bảo:”Truyện này viết thành một kịch hay được. Tôi đã nghĩ về nó suốt đêm hôm qua. Báo đời! Biểu cho người ta đọc cái gì để dễ ngủ, mà làm cho người ta không chợp mắt lấy được một phút!”.

Nhưng Maugham vẫn thản nhiên đáp:

– Viết thành kịch ư? Một kịch bệnh hoạn thì được. Rồi đem diễn được trong sáu tuần lễ. Không đáng để ý tới. Thôi đi.

Và chính kịch mà ông không thèm để ý tới đó đã đem lại cho ông bốn chục ngàn Anh Kim.

Kịch viết xong, nhiều gánh hát từ chối. Họ tin chắc rằng sẽ thất bại. Chỉ có Sam Harris chịu nhận. Ông sở dĩ nhận là có ý cho một đào trẻ tên là Jeanne Eagels đóng. Nhưng người quản lý gánh hát không chịu, muốn lựa một đ ào có danh hơn.

Rốt cuộc, Jeanne Eagels cũng được đóng và nàng thành công. Kịch diễn bốn năm rưỡi một lần, lần nào cũng có nàng và lần nào rạp cũng đông nghẹt.

Somerset Maugham đã viết nhiều tiểu thuyết có danh như Of Human Bondage, The Moon and Six-pence và The Painted Veil, khoảng hai chục kịch hay. Nhưng chính kịch trứ danh nhất của ông thì, ông lại không viết.

Bây giờ nhiều người coi ông là một thiên tài, nhưng hồi mới bắt đầu viết, ông thất bại luôn mười một năm. Nhà văn đã kiếm được hai trăm ngàn Anh kim đó, trong mười một năm ấy chỉ kiếm được mỗi một Anh kim.

Nhiều lúc đói, ông muốn xin một chân trong tòa soạn một nhà báo nào đó để có một số tiền nhất định mỗi tháng, nhưng không ai nhận ông cả. Ông bảo: “Kiếm không được việc tôi đành phải tiếp tục viết như vậy”. Lúc đó ông đã đậu bằng cấp y khoa bác sĩ, họ thôi thúc ông bỏ truyện ngắn, truyện dài đi mà làm thuốc ra toa cho tấm thân đỡ cơ cực. Nhưng không có gì làm ông thay đổi quyết định sắt đá của ông là lưu danh lại trên những trang Văn học sử Anh.

Bod Ripley, nổi danh về cuốn Believe it or not, có lần bảo tôi:”Một người có thể làm việc như mọi không ai biết đến, trong mười năm rồi nổi danh trong mười phút”. Lời đúng với Ripley và cả với Maugham.

Lần đầu tiên Somerset Maugham được nổi danh là do một ngẫu nhiên. Một kịch nào đó thất bại và ông bầu một gánh hát kiếm một kịch bản khác để thay. Chủ ý ông chưa muốn kiếm một kịch được hoan nghênh, chỉ muốn kiếm một kịch cũ cũ nào đó diễn đỡ, đợi ngày gặp được một kịch có chân giá trị. Vậy ông tìm bậy trong tủ của ông, xem ra may được một kịch nào chăng, và rút ra một kịch của Somerset Maugham, nhan đề là Lady Frederick. Kịch đó ông nhét vào tủ đã mấy năm rồi, nhớ đã đọc qua, và biết là chẳng hay ho gì, nhưng diễn tạm được ít tuần. Ông bèn cho diễn. Và phép mầu đã hiện ra. Kịch Lady Frederick thành công rực rỡ. Khắp thành phố London, ai cũng nói tới. Từ hồi Oscar Wilde tới nay, chưa có kịch gia nào làm cho người Anh vui thích như vậy.

Tức thì hết thẩy các ông bầu hát ở Luân Đôn tranh nhau xin kịch của Somerset Maugham. Ông lục lọi các vở kịch cũ trong tủ ra, và chỉ trong vài tuần, ba kịch của ông được đem diễn trong những rạp lớn.

Tiền tác giả chảy vô như suối. Các nhà xuất bản lăn xả vô xin ký giao kèo với vị thiên tài mới xuất hiện đó. Giấy mời của các hội bay tới như mưa, và sau mười năm sống trong bóng tối, Somerset Maugham bỗng được hoan nghênh trong các phòng khách sang trọng nhất.

Ông nói với tôi rằng không khi nào ông làm việc quá một giờ trưa, vì buổi chiều, óc ông như đặc lại. Ông viết dưới một mái hiên trên từng thượng biệt thự của ông ở Nice. Luôn luôn ông hút ống điếu và đọc sách triết lý khoảng một giờ rồi mới bắt đầu viết. Khi quân Đức chiếm nước Pháp, ông qua Nam Caroline viết trong một đồn điền./.

Đạođức kinh – Lão Tử

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Truyện chia sẻ ở Blog là sản phẩm trí tuệ của nhiều tác giả. Vì nhiều lý do, Blog chưa liên lạc được với các tác giả để xin phép đăng tải. Xin vui lòng lượng thứ. Truyện chia sẻ để giúp mọi người review, tham khảo. Bạn đọc có điều kiện hãy tìm mua và đọc sách xuất bản vừa đẹp vừa bảo vệ mắt vừa để ủng hộ và tri ân đến các tác giả viết sách. Trân trọng cảm ơn !

Có một vật hỗnđộn mà thành trước cả trờiđất. Nó yênlặng, vôhình, đứng một mình mà không thayđổi vĩnhcửu, vânhành khắp vũtrụ không ngừng, cóthể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiênhạ. Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là đạo. Đạo mà diễntả được thì đó không còn là đạo bất biến nữa, tên mà gọira được thì đó không còn là tên bất biến nữa.

(Ta gọi tiếng “trâu” để chỉ con trâu là do quyước từ xưa đến nay, tiếng “trâu” không phải là tên bất biến. Nếu từ xưa ta quyước gọi tiếng “bò” để chỉ con trâu thì ta sẽ gọi con trâu là “bò”. Đạo thì không như vậy. Đạo bất biến nên ta khôngthể diễntả rõràng được, chỉ cóthể dùng trựcgiác để hiểu).

Đạo trời không tranh mà khéo thắng, không nói mà khéo đáp, không gọi mà vạn vật tự chuyểnđộng, bìnhthản vôtâm mà khéo sắpđặt mọi việc. Đạo trời không thiênvị ai, luôn giúpđỡ cho người lươngthiện. Lưới trời lồnglộng, tuy thưa nhưng khó lọt (Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất).

Không tên là gốc trời đất, có tên là mẹ vạn vật. Đạo trời ví như cánhcửa khépmở, vạn vật từ đó đi ra rồi lại trởvề đó. Đạo có tínhchất trừutượng, nó không có hìnhthù cụthể, không thể nắm rõ, không sáng ở nơi rựcrỡ, không mờ ở nơi tốităm và cũng không có tiếngđộng. Đạo vĩnhviễn không có tên gọi. Vạn vật chuyểnđộng theo một vòngtròn khépkín. Tấtcả bắtđầu từ “có”, có lại bắtđầu từ “không”. Lờinói hợp đạo nghe như ngượcđời.

Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhânnghĩa, mưutrí xuấthiện rồi mới có trángụy, giađình bấthòa rồi mới sinhra hiếuthảo, nướcnhà rốiloạn rồi mới có tôitrung. Đạo ứcchế vật cao, nângđỡ vật thấp. Đạo trời lấy chỗ thừa mà đắpvào chỗ thiếuhụt. Đạo người thì lấy của người nghèo mà thêm cho người giàu, đây chính là nguồngốc của sựhỗnloạn. Người khônngoan chỉ muốn một điều là không muốn gì cả.

Trời có đạo mà xanh, đất có đạo mà yên, thần có đạo mà linh, biển nhờ có đạo mà đầy, vạn vật có đạo mà thành, đếvương có đạo mà được thiênhạ.

Lời nói chânthật thì không hoamỹ, lời nói hoamĩ thì không chânthật. Người thiện thì không mắc lỗi nên không cần phải biệnbạch, người nào phải biệnbạch cho mình là người “không thiện”. Người biết thì không nói, người nói là người không biết [tri bất ngôn, ngôn bất tri].

Người ta sinhra thì mềmyếu mà khi chết thì cứnglại. Thảomộc sinhra thì mềmdịu mà khi chết đi thì lại khôcứng. Cho nên cứngrắn, cáugiận là biểuhiện của chết, mềmyếu, khiêmnhường là dấu hiệu của sống. Binh mạnh thì không thắng, cây cứng thì lại bị chặt. Cứng mạnh thì phải ở dưới, mềmyếu lại được ở trên.

Răng cứng thì chóng gãy, lưỡi mềm thì bềnlâu

Mạnh về dám làm [canđảm, cươngcường] thì chết, mạnh về không dám làm [thậntrọng, nhunhược] thì sống. Hai cái đó cùng là mạnhmẽ, mà một cái thì được lợi, một cái lại bị hại; ai mà biết được tạisao trời lại ghét cái quảcảm, cươngcường ? Danhdự với sinhmệnh, cái nào mới thậtsự quý ? Người khônngoan không baogiờ vì trọng cái danhhão mà xem nhẹ tínhmạng mình.

Lờihứa dễdàng thì khó tin, người nào cho việc gì cũng dễ làm thì sẽ gặp nhiều cái khó. Cho nên người hiểu đạo coi việc gì cũng khó mà rốtcuộc không gặp cáigì khó. “Không” có nghĩa là “không có gì” nhưng phải “có cáigì” thì mới có cái “không có”. Trong tựnhiên, ngaycả những việc khókhăn nhất cũng cóthể thựchiện theo cách dễdàng, việc lớn thànhtựu từ những hànhđộng nhỏ hơn. Người khônngoan đạt những thànhtựu vĩđại là nhờ biết chia nhỏ hànhđộng của mình.

Cái gì ở yên thì dễ nắm, giòn thì dễ vỡ, nhỏ thì dễ phântán. Ngănngừa sựtình từ khi chưa manhnha, trịloạn từ khi chưa thành hình. Cây lớn sinhra từ một cái mầmnhỏ; tháp cao chín tầng khởiđầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm bắtđầu từ một bước chân. Thường gần tới lúc thànhcông thì lại dễ thấtbại, vì không cẩnthận như lúc banđầu, dè sau như trước thì không hỏng việc.

Người hiểu đạo trị thiênhạ theo chínhsách “vôvi” (taking no action), luôn giữ tháiđộ điềmđạm. Xem cái nhỏ cũng như cái lớn, cái ít như nhiều, lấy đức báo oán. Giảiquyết việc khó từ khi còn dễ, thựchành việc lớn từ khi còn nhỏ [vì việc khó trong thiênhạ khởi từ chỗ dễ, việc lớn khởi từ nhỏ]. Cho nên người đắcđạo trướcsau không làm việc gì lớn mà thựchiện được việc lớn. Người đắc đạo làm việc mà không tưlợi.

Trờiđất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánhthần bất nhân, coi trămhọ như chó rơm [Luật thiênnhiên không có tìnhthương của conngười, cứ thảnnhiên, vôtâm với vạn vật, mùaxuân tươi tốt, mùađông điêutàn…].

Khoảng giữa trờiđất như cái ốngbễ lòrèn; hưkhông mà không kiệt, càng chuyểnđộng hơi lại càng ra. Càng nói nhiều lại càng khốncùng, không bằng giữ sựyêntĩnh.

Người giảndị nhất thì không phải là người giảndị

Người khiêmtốn nhất thì không phải là người khiêmtốn – Lão Tử

Muốn cho vật gì thurút lại thì tất hãy mởrộng nó ra đã. Muốn cho ai yếu đi thì tất hãy làm cho họ mạnh lên đã. Muốn phếbỏ ai thì tất hãy đềcử họ lên đã. Muốn cướp lấy vật gì thì tất hãy cho đã. Hiểu như vậy là sâukín mà sángsuốt. Vì nhunhược thắng cươngcường.

Người đánh xe giỏi không xôngbừa tới trước. Người chiếnđấu giỏi không giậndữ, khéo thắng địch là không tranh với địch, khéo dùng người là hạ mình ở dưới người. Đó là cái đức của sự không tranh, đó là cái khéo của sự dùng người, đó là hợp với chỗ cùngcực của Đạo Trời.

Ngũ sắc làm ngườita mờmắt; ngũ âm làm ngườita ùtai; ngũ vị làm ngườita têlưỡi, hưởngthụ làm cho ngườita mêmuội, vàngbạc làm cho hànhvi ngườita xấuxa. Cho nên bậc đắcđạo cầu nobụng mà không cầu vuimắt, bỏ cái xaxỉ, đadục mà chọn cái chấtphác, vô dục. Bậc đắcđạo bận áo vảithô mà ôm ngọcquý trong lòng.

Trời đất vĩnhcửu. Trờiđất vĩnhcửu được là vì không sống riêng cho mình, nên mới trườngsinh được.

Người đắcđạo đặt thân mình ở sau mà thân lại được ở trước, đặt thân mình ra ngoài mà thân mới còn được. Như vậy chẳngphải vì họ không tưlợi mà thành được việc riêng của mình ư?

Người cực khéo thì dường như vụng. Người nói giỏi thì dường như ấpúng. Cửđộng thì thắng được lạnh. Nhưng yêntĩnh thì thắng được nóng. Vậy cứ thanhtĩnh thì mọi vật sẽ đâu vào đấy.

Người quântử gặp thời thì mặc áogấm mà ngồi xengựa, không gặp thời thì mặc áo vảithô mà đi chân đất. Người tốt thậtsự không ýthức được tính thiện trong việclàm của mình, tráilại kẻ dạidột (the foolish) luôn cốgắng tỏra là mình tốt.

Không trọng ngườihiền để dân không tranh, không quý củahiếm để dân không trộmcắp, không phôbày cái gợi hammuốn để lòng dân không loạn.

Chínhtrị của thánhnhân là làm cho dân lòng thì hưtĩnh, bụng thì no, không hammuốn, không tranhgiành, xương thì mạnh.

Khiến cho dân không biết, không muốn, bọn thôngminh, mưutrí thì không dám hànhđộng. Theo chínhsách “vô vi” thì mọiviệc đều yênổn.

Không học thì không phải lo. Đem cái hữuhạn xét cái vôhạn, há chẳng phải là ngốc lắm sao? Càng theo học thì mỗi ngày dụcvọng, lòng “hữu vi” càng tăng, theo đạo thì mỗi ngày dụcvọng càng giảm, lòng “vô vi” càng tăng.

Conngười có ba vậtbáu mà tôi ômgiữ cẩnthận, một là lòng nhânái, hai là tính tiếtkiệm, ba là không dám đứng trước thiênhạ. Vì nhânái mà sinhra dũngcảm, vì tiếtkiệm mà sinhra sungtúc, rộngrãi, vì không dám đứng trước thiênhạ mà làm chủ được thiênhạ.

Nếu không nhânái mà mong được dũngcảm, không tiếtkiệm mà mong được rộngrãi, không chịu đứng sau mà tranh đứng trước người thì tất hỏngviệc. Trời muốn giúp ai thì cho người đó lòng nhânái để tự bảovệ, lấy lòng nhânái mà giúp người đó.

Người sángsuốt nghe đạo thì cốgắng mà thihành, người thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tốităm nghe đạo thì cườirộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa ?!

Vật cực mềm mà lại thắng được vật cực cứng [nước chảy đá mòn]. Nước là vật cực mềm, nó luôn tìm chỗ thấp mà tới [khiêmnhường], ngày đêm chảy không ngừng, bốclên thì thành mưa, chảy xuống thì thành sôngrạch, thấmvào lòngđất để nuôi vạn vật. Nó không ngừng biếnđổi, lại sinhra mọiloài. Nó không tranh với ai, lựa chỗ thấp mà tới, gặp cái gì cản thì nó uốnkhúc mà tránhđi, cho nên đâu nó cũng tới được. Đạo cũng ví như nước vậy.

Yếu thắng được mạnh, mềm thắng được cứng, ai cũng biết như vậy nhưng không ai thựchành được.

Vật bénnhọn thì dễ gẫy. Giữ cho chậu đầy hoài, chẳng bằng thôi đi; con dao cố mài cho bén thì lại không bén lâu. Nghèohèn chính là gốc của giàusang. Vàng ngọc đầy nhà [kim ngọc mãn đường], sao mà giữ nổi ? Nên biết khi nào là đủ [tri túc]. Giàu mà kiêucăng, khoekhoang là tự rướchọa vào thân.

Ba mươi nanhoa cùng quivào một cái bánhxe, nhưng chính nhờ khoảng trốngkhông trong cái bánh mà xe mới dùng được. Nhồi đấtsét để làm chén bát, nhưng chính nhờ cái khoảng trốngkhông ở trong mà chénbát mới dùng được. Đục cửa, cửa sổ để làm nhà, chính nhờ cái trống không đó mà cửa nhà mới dùng để ravào được, nhờ có cửasổ mà nhà không tối. Vậy ta tưởng cái “hữu” [bánh, chén bát, nhà] có lợi cho ta mà thựcra cái “vô” mới làm cho cái “hữu” có ích.

Vinh hay nhục thì lòng cũng sinhra rốiloạn, sợ vạ lớn thì sinhra rốiloạn. Là vì vinh thì được tôn, nhục thì bị hèn; được thì lòng rốiloạn [mừngrỡ mà!]; mất thì lòng rốiloạn [rầurĩ mà!]; cho nên mới bảo là vinh, nhục sinhra rốiloạn. Vậy phải làmsao ? Chúngta sỡdĩ sợ vạ lớn là vì chúngta có cái thân. Nếu chúngta quên cái thân mình đi, thì còn sợ gì lòng rốiloạn nữa ?!

Chonên người nào coitrọng sự hysinh thân mình cho thiênhạ, thì cóthể tincậy vào kẻ đó được.

Người nào giữ được đạo thì không tựmãn, không cốchấp, cũng không tựái. Vìvậy nên mới cóthể bỏ cái qua cái cũ mà chấpnhận cái mới được. Khi xemxét sựvật, không được quên mặt đốilập của nó. Nghĩ đến cái hữuhạn thì đừng quên cái vôhạn.

Đứng một chân thì khôngthể đứng được lâu, giang chân ra thì khôngthể đi được, tự biểuhiện thì không baogiờ chóilọi, tự kểcông thì không có công, tựphụ thì chẳng khuyênbảo được ai, kẻ vẽ rắn thêm chân thì không trườngtồn. Tháiđộ đó được vínhư thức ăn thừa, ungnhọt, ngườingười đều ghét. Thiên bất dung gian.

Cho cáiđẹp là đẹp dođó mới có cái xấu; cho cái thiện là thiện do đó mới có cái ác. Là vì “có” và “không” sinhra lẫnnhau, “dễ” và “khó” tạonên lẫnnhau, cao thấp dựavào nhau mà tồntại.

Biết người là khôn, tự biết mình là người sángsuốt. Thắng được người là có sức mạnh, thắng được mình là kiêncường. Biết thếnào là đủ là người giàu; biết gắng sức là người có chí. Kẻ nào không rời bỏ những điều trên thì sẽ được lâudài, chết mà không mất là trườngthọ. Người hiểu đạo làm việc tuântheo quyluật tựnhiên, chỉ làm những việc cầnthiết cho bảnthân.

Hồnnhiên vôtư, vôdục như đứatrẻ mới sanh là có đứcdày, ai cũng yêuquý. Đứatrẻ mới sinh độctrùng không chích, mãnhthú không ăn thịt, ácđiểu không vồ. Xương yếu gân mềm mà tay nắm rất chặt, suốt ngày gàohét mà giọng không khản, như vậy là khí cực hòa.

Tuyệt thánh, bỏ mưutrí dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân trở nên hiếuhòa; dứt tríkhôn, bỏ lợilộc, không còn trộmgiặc

Ba cái đó (mưutrí, nhânnghĩa, xảolợi) vì chỉ là cái vẻ bênngoài không đủ để trị dân nên phải bỏ; khiến cho dân quy về điều này: ngoài thì mộcmạc, trong thì giữ sự đơngiản, giảm tưtâm bớt dụcvọng mới là tíchcực.

Đạo trời không thiênvị ai, luôn banơn cho người có đức – Lão Tử

Giọng kínhtrọng khác với giọng xemthường bao nhiêu ? Thiện với ác khácnhau như thếnào ? Cái mọi người sợ ta không thể không không sợ. Vũtrụ thật rộnglớn, khôngthểnào hiểu hết được.

Mọingười hớnhở như dự bữatiệc lớn, như mùaxuân dạochơi; bậc đắcđạo điềmtĩnh, không lộ chút tìnhý gì như đứa trẻ chưa biết gì, thảnnhiên mà đi như không có nơi để về. Mọi người có thừa, riêng bậc đắc đạo như thiếuthốn, trong lòng thì trốngrỗng! Mọi người đều có chỗ để dùng, riêng bậc đắc đạo luôn bảothủ. Người hiểu đạo khác người mà quý mẹ của muôn loài (tức đạo).

Vạn vật tuầnhoàn, trong dương có âm, âm cực dương sinh, có sinh ắt có tử, trăng tròn trăng khuyết. Vạn vật biếnđổi rồi trởvề với đạo. Từ xưa đến nay, đạo tồntại hoài, nó sángtạo ra vạn vật. Chúngta do đâu biết được vạn vật ? Là nhờ đạo.

Có câu: “Khiêmtốn là gốc của caoquý”. Người khônngoan giữ lấy đạo làm phéptắc cho thiênhạ. Không tự biểuhiện cho nên mới sángtỏ, không tự cho là phải nên mới chóilọi, không tự kểcông nên mới là có công, không tựphụ cho nên mới hơn người. Vì không tranh với ai nên không ai tranh với mình được.

Có câu: “Cong (chịu khuấtphục) thì sẽ được bảotoàn”, há phải hưngôn! Nên chânthành giữ lấy đạo mà về với nó. Trong trờiđất có bốn cái vĩđại là Đạo, tựnhiên, trờiđất và conngười. Luật conngười nên bắtchước tựnhiên, luật tựnhiên bắtchước luật của trờiđất, luật trờiđất bắtchước Đạo.

Ít nói thì hợp với tựnhiên. Cơn gió lớn không thể thổi suốt buổisáng, cơn mưa lớn không kéo dài suốt ngày. Ai làmra những cái ấy? Chính là do trờiđất. Trờiđất còn khôngthể lâu được, huốngchi là conngười ? Người hiểu đạo biết rằng không ai cóthể đoán trước những gì tươnglai nắmgiữ.

Vũkhí là vật gây losợ, ai cũng ghét cho nên người hiểu đạo không dùng binhkhí. Chỉ dùng đến nó khi bất đắc dĩ, khi bảovệ hòabình, mà dùng đến thì điềmđạm là hơn cả. Chiếnthắng mà vuimừng tức là thích giết người. Thích giết người thì không trị được thiênhạ. Chỗ nào đóng quân thì gaigóc mọc đầy. Sau cuộc chinhchiến tất có mấtmùa.

Việc lành thì trọng bên trái, việc dữ thì trọng bên phải. Giếthại nhiều người thì nên lấy lòng thươngtiếc mà khóc, chiếnthắng thì nên lấy tanglễ mà xử. Thắng mà không bức người, vì vật mạnh thì có lúc suy. Nếu không như vậy thì là trái Đạo. Trái Đạo thì sớm bị tiêudiệt. Trị nước phải được tiếnhành cẩnthận, giống như việc nấu cá nhỏ. Người khônngoan làmviệc mà không baogiờ xảotrá, tưlợi.

LÃO TỬ

Lão Tử tức Thái Thượng Lão Quân là một nhà tưtưởng vĩđại của TrungHoa cổđại, là người sánglập trườngphái Đạogia (đạo Lão). Ông tên thật là LýNhĩ, tên thường gọi là lão Đam, người làng Khúc Nhân, hương Lệ, nước Sở. Ông làm chứcquan giữ sách nhà Chu, học rộng biết nhiều, sau về quê ở ẩn. Tươngtruyền, trướckhi về ở ẩn đến cửaquan, viênquan coi cửa là Doãn Hỉ bảo:”Ông sắp đi ở ẩn, ráng vì tôi mà viết sách để lại”. Thế là Lão Tử viết một cuốnsách chỉ gồm khoảng năm ngàn chữ bàn về “Đạo” và “Đức” (tức ĐạoĐức Kinh). Viết xong rồi bỏ đi, về sau không ai còn nghe đến, không biết sống chết ra sao.

Tươngtruyền, KhổngTử qua Chu thăm Lão Tử. Lão Tử cởi trâu ra tận đầu làng đón Khổng Tử. Hai người đàmđạo vớinhau trong ba ngày về Đạo. Đến khi chiatay, Lão Tử bảo với Khổng Tử rằng: “Những người ông nói đó, thịt xương đều nát cả rồi, chỉ cònlại lời của họ mà thôi. Tôi nghe nói người giàusang tiễnnhau bằng vàngbạc, người nhân tiễnnhau bằng lờinói. Tôi không phải là người giàusang, tạm coi mình là người nhân mà tiễn ông bằng lời này: Người buôn giỏi thì giấu kĩ vật quý, xem ngoài như không có gì; người đức cao thì tướngmạo như nguđộn. Ông nên bỏ cái khí kiêucăng, cái lòng đadục, cái vẻ hămhở cùng cái chí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu. Tôi chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi”

Khổng Tử về đến nhà suốt ba ngày không ra khỏi cửa, bảo với mônsinh rằng:

“Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết nó bơi được; loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, bơi thì dùng câu để bắt, bay thì dùng tên để bắn. Còn loài rồng cưỡi gió cưỡi mây mà bay lên trời thì ta không sao biết được. Nay ta gặp ông Lão Tử; ông là con rồng chăng ?”

Thực là ngượcđời, cái triếthọc “ngượcngạo” của Lão tử lại sảnsinh ra cái lýtưởng caothượng nhất về hòabình, khoandung, giảnphác và tritúc. Giáohuấn của ông gồm bốn điểm: trítuệ nên như nguđộn, đờisống nên ẩndật, xửthế nên nhunhược và tánhtình nên giảnphác. Ngay đến nghệthuật TrungHoa, từ ý thơ, ảotưởng đến những lời tántụng đờisống bìnhdị của tiềuphu, ngưphủ cũng khôngthể thoátly triếthọc đó mà tồntại. Nguồngốc của chủnghĩa hòabình của TrungHoa là do cái quanniệm chịu nhận sựthấtbại tạmthời để chờ cơhội thuậntiện, và do lòngtin rằng vạnvật trong vũtrụ đều tuântheo cái luật vậnhành phảnphục; dođó không một kẻ nào vĩnhviễn “umê” baogiờ.

Tôi camchịu mọi sựnhục trong thiênhạ – Lão Tử

« Về Lại Trang Trước

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.