" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

Bầm mắt

Filed under: Mẹo Vặt Y Khoa — tonyfan @

Cẩm nang mẹo vặt y khoa thực dụng – Nhiều tác giả

Bầm mắt

Trong một đời người, việc đôi lúc xuất hiện những vết bầm là không thể tránh khỏi.

Nếu chẳng may vết bầm này xuất hiện trên mặt, nhất là chung quanh quầng mắt, nó sẽ rất khó tan đi trong 1-2 tuần. Trong thời gian này, bạn thường phải mang kính đen ra đường và cảm thấy rất khó chịu trước ánh mắt của mọi người. Bạn ước ao có một phương thuốc thần kỳ làm cho vết này tan đi thật nhanh, và sẵn sàng trả một giá rất cao cho phương thuốc đó.

Những phương pháp dưới đây hoàn toàn không đắt tiền, nhưng bạn sẽ thấy chúng hết sức hữu hiệu trong việc làm tan vết bầm trong thời gian ngắn nhất.

Đắp nước đá

Vào những năm đầu thế kỷ 19, người châu Âu thường dùng một miếng thịt bò sống đắp lên con mắt bị bầm; cách này giúp vết bầm mau tan hơn. Sau đó, người ta đặt ra nhiều “truyền thuyết”, nào là dùng thịt bò thăn sẽ mau lành hơn thịt bò đùi, nào là dùng gan bò là tốt nhất… Sau này, khi y học tiến bộ hơn, người ta mới khám phá ra rằng, sở dĩ miếng thịt bò có thể làm vết bầm mau tan hơn vì nó giữ cho tổn thương được mát.

Ông Jeffers J. (bác sĩ chuyên khoa mắt) nhận định rằng hơi lạnh có tác dụng làm các tế bào co lại, giúp cho vết sưng trở nên nhỏ hơn. Đồng thời, nó cũng giảm được sự xuất huyết dưới da – nguồn gốc của các vết bầm xấu xí. Ông này khuyên rằng, cứ 2 tiếng đồng hồ, bệnh nhân nên đắp nước đá lên vết bầm ở mắt trong 10 phút, làm liên tục trong 2 ngày. Bạn có thể dùng một bao nylon đựng nước đá đập nhỏ để đắp; hoặc đến hiệu thuốc mua một mặt nạ chuyên dùng đắp lên mắt. Mặt nạ này làm bằng ni lông dày, trong có một chất lỏng giữ lạnh. Để mặt nạ vào ngăn đá tủ lạnh vài giờ trước khi dùng, khi hết lạnh lại bỏ tiếp vào ngăn đá.

Đừng dùng Aspirin

Aspirin là một trong những thần dược chuyên trị đau nhức. Thuốc này chắc chắn có thể làm dịu cảm giác nhức nhối của vết bầm, nhưng nó cũng sẽ làm cho vết bầm của bạn lan rộng hơn. Đó là do aspirin có tác dụng làm loãng máu, khiến máu lưu thông nhanh hơn, làm tăng tình trạng xuất huyết dưới da.

Vì vậy, khi có vết bầm ở mắt, tuyệt đối không dùng aspirin hoặc ibuprofen. Để giảm đau, hãy dùng tylenol hoặc các thuốc có chất acetaminophen.

Cố gắng đừng hắt hơi

Hắt hơi là một việc khó tránh. Nhưng nếu bạn đang bị bầm mắt, việc hắt hơi nhiều sẽ làm mắt bầm hơn do các bọt khí nhỏ xíu len vào dưới da, khiến mắt sưng thêm. Nhận định này được rút ra từ kinh nghiệm chữa thương nhiều năm của bác sĩ Jeffers.

Chăm sóc khi bé bị bệnh

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 1 -Chăm sóc khi bé bệnh

Bé bị bệnh – Bạn cần phải làm gì ?

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

I.  ÐẦU

II. NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CỔ 

III. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGỰC

IV. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾ PHẦN BỤNG

V. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TAY, CHÂN VÀ XƯƠNG

VI. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN BỘ PHẬN SINH DỤC VÀ BÀI TIẾT

VII. NHỮNG VẤN ĐẾ LIÊN QUAN TỚI DA

VIII. NHỮNG HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHOẺ

IX. TAI NẠN

X. CÁC BỆNH KHÁC Ở TRẺ EM

XI. LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP

LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

XI. LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP

206. Những điều cần biết về trẻ sơ sinh.

Chúng ta nên nhận định rằng, trẻ sơ sinh không phải chỉ là đứa con trai hay con gái được thu nhỏ lại. Trẻ sơ sinh khác với chúng ta KHÔNG CHỈ Ở CỠ NGƯỜI MÀ khác vì các nội tạng, tỷ lệ của các bộ phận và cách phản ứng riêng đối VỚI THẾ GIỚI CHUNG QUANH.

ÐẦU

– Ðầu của trẻ sơ sinh khác với người lớn ở phần tỷ lệ của đầu đối với cơ thể. NÓ TO HƠN GẤP HAI LẦN SO VỚI TỶ LỆ SAU này. Vậy mà như thế là nó đã nhỏ đi nhiều lắm rồi, vì khi được 2 tháng trong bụng mẹ, cái đầu và phần thân thể còn lại bằng nhau. Khi mới sinh ra, phần cơ thể đã lớn hơn nhiều nhưng so sánh với cấu tạo của một người lớn, thì tỷ lệ giữa đầu và người của Bé vẫn gấp đôi tỷ lệ này ở người lớn.

Ngoài ra còn phải kể tới phần da còn nhăn nheo, đỏ, bóng vì mỡ, xương hàm dưới ngắn, cổ nhỏ yếu, vai hẹp, bụng phồng, chân tay ngắn, xương mềm làm cho nó còn giống một cái bào thai hơn là một đứa trẻ.

TÓC

– Một số trẻ sơ sinh ra đời với bộ tóc đen và dày, mọc từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Lớp tóc này sẽ RỤNG HẾT ÐỂ ÐƯỢC THAY THẾ BỞI MỘT LỚP MỚI.

DA

– Da Bé có nhiều nốt đỏ. Những nốt này sẽ mất màu khi ta chạm tới và sẽ chết dần về sau này. Trên má và mũi Bé có những điểm màu trắng. Những điểm này cũng mất dần sau vài tuần tuổi.

MÓNG TAY, CHÂN

– Các móng tay, chân của Bé đều dài. Chớ vội cắt móng cho Bé vì bạn dễ làm bật móng của Bé KHIẾN CHỖ ÐÓ BỊ NHIỄM TRÙNG.


Có điều lạ là hai vú của trẻ sơ sinh đều hơi phồng lên và có thể tiết ra vài giọt sữa. Dù là Bé trai hay Bé gái. Người lớn nên nhớ, không được lấy tay ấn vú Bé cho sữa ra vì như vậy sẽ có hại cho các tuyến vú. Hiện tượng có sữa như vậy do rối loạn hoócmôn, sẽ tự hết trong một THỜI GIAN NGẮN, KHÔNG CẦN ÐIỀU TRỊ .

TRỨNG CÁ VÀ CHẤT LỎNG Ở BỘ PHẬN SINH DỤC

– Ở
bé trai, trên trán và 2 cánh mũi có thể có một vài đốm nhỏ màu vàng. Ðấy là những mụn trứng cá của tuổi sơ sinh. Bộ PHẬN SINH DỤC CỦA BÉ GÁI CÓ THỂ CÓ một ít chất nhầy chảy ra, có khi lần một ít máu. Hiện tượng này là bình thường, cũng do hoócmôn sinh ra không có gì đáng lo ngại.

BÌU

– Khi mới sinh, cái túi da đựng đôi tinh hoàn của Bé trai có chứa một lượng dung dịch không liên quan gì tới các tinh trùng sau này, nhưng cũng làm cho cái bìu ra vẻ căng, to thu hút sự chú ý. Lượng dung dịch này sẽ tiêu diệt hết trong vòng vài tuần.

PHÂN


Trước khi Bé được bú bữa đầu tiên trong đời, Bé đã đi ra phân rồi. Phân này còn gọi là “cứt su”, vào khoảng từ 60 tới 200g, là lượng chất thải có trong ruột Bé từ khi Bé còn nằm trong bụng mẹ. Phân là một chất nhầy, màu xám. Sau 3-4 ngày, “cứt su” sẽ được thay thế dần bằng phân do sự tiêu hóa sữa tạo ra. Phân này màu vàng nhạt hoặc vàng thẫm.

TÍNH MIỄN NHIỄM

– Nếu khi mang thai bà mẹ đã được tiêm phòng các bệnh đậu mùa, bạch hầu, bệnh bại liệt, bệnh uốn ván thì các cháu bé mới bệnh cũng được miễn nhiễm các bệnh đó. Ngoài ra các cháu còn miễn nhiễm tự nhiên với các bệnh sởi và quai bị nếu mẹ cháu đã bị qua. Tuy vậy, tính miễn nhiễm này sẽ mất đi khi cháu bé được từ 13 đến 18 tháng tuổi.

NHAU

– Trong vòng từ ngày thứ 6 tới ngày thứ 10, cuống nhau đính với rốn của Bé sẽ khô và rụng ra, đoạn tuyệt với vết tích cuối cùng của cuộc đời trong bụng mẹ. Từ đó Bé mỗi ngày một nở nang: lớp lông tơ phủ trên người Bé rụng dần, những chấm đỏ trên da cũng hết khiến toàn lớp da có cùng một mầu, mịn màng và sáng sủa. Ðể yên trí là sức khỏe của Bé hoàn toàn tốt, bác sĩ có thể kiểm tra toàn diện cho Bé về nhịp tim, nhịp thở, mầu da và những phản ứng về cảm giác.

Ngoài ra để biết Bé sơ sinh hoàn toàn bình thường không, người ta còn thử một số phản ứng của Bé như phản ứng Moro: đặt Bé nằm ngửa, dang tay chân ra và để đầu hơi ngửa ra đàng sau, tự nhiên Bé sẽ thu tay chân và người lại như những động tác, khi ôm lấy mẹ. Khi sốc Bé Ở TƯ THẾ ÐỨNG, TỰ NHIÊN Bé hơi ngả người ra phía trước trong tư thế người đi, khi sờ vào môi Bé , Bé sẽ quay đầu về phía bị đụng như để tìm bầu vú, sờ nhẹ vào lòng bàn tay hay bàn chân, các ngón tay và ngón chân sẽ gập lại như muốn nắm vật

Những phản ứng Moro sẽ biến đi sau 3 tháng, phản ứng co tay sau 6 tháng, phản ứng co chân sau 10 tháng, phản ứng bú mẹ sau 4 tháng.

207. Trẻ em sinh thiếu tháng.

TRƯỚC KIA Ở MỘT số nước, tất cả các cháu Bé khi mới sinh ra cân nặng dưới 2.500 g đều bị COI LÀ SINH THIẾU THÁNG HAY ÐẺ NON. Đó là một sai lầm vì nhiều cháu, tuy nặng dưới 2500g, nhưng đã được hình thành đủ ngày, tháng trong bụng mẹ. Trẻ sinh thiếu tháng là những đứa trẻ hình thành trong bụng mẹ không tới 37 tuần kể từ ngày đầu của lần kinh nguyệt cuối cùng của bà mẹ. Các cháu sinh thiếu tháng có các bịểu hiện da nhăn, thấy rõ ở tai, vú, gan bàn chân.

Càng thiếu tháng, số cân càng nhỏ. Các hệ thống hô hấp, tiêu hóa, điều chỉnh thân nhiệt… đều chưa hoạt động tốt. Do đó sinh mạng của cháu Bé rất mong manh. Hơn nữa, cơ thể của cháu rất dễ bị nhiễm khuẩn và nhiễm trùng. Cháu lại không đủ sức để bú tí.

Về hình dáng, cháu bé sinh thiếu tháng có chiều dài dưới tiêu chuẩn, đầu to không cân đối với thân, ngực nhỏ, bụng phình, da đỏ, mỏng, nhăn nheo, còn phủ một lớp lông tơ. Tiếng khóc của Bé yếu ớt và nhịp thở không đều.

Nếu sức khỏe của Bé không đến nỗi nào, thì có thể nuôi BÉ VỚI CHẾ ÐỘ ÐẶC BỊỆT Ở gần mẹ. Trong trường hợp Bé yếu quá, cần phải nuôi dưỡng ở MỘT TRUNG TÂM CÓ CHUYÊN KHOA VỀ CÁC trẻ thiếu tháng.

Nếu bạn phải nuôi một cháu bé thiếu tháng tại nhà, cần phải theo đúng những lời chỉ dẫn của cơ quan nuôi dưỡng trẻ. Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất đối với Bé. Nếu không có sữa mẹ, phải nuôi Bé bằng sữa bột thì sữa này cũng phải là sữa đặc bịệt, có lượng chất dinh dưỡng cao.

Ngay từ những ngày đầu, phải chú ý sao cho Bé được cung CẤP ÐỦ LƯỢNG VITAMIN A, C, D

ÐỂ tránh bị suy dinh dưỡng. Bé cũng cần được cung cấp thêm chất sắt vào các bữa sữa: thoạt đầu 8 bữa mỗi ngày (quan sát coi Bé bú đã đủ chưa), rồi dần dần giảm xuống 7, 6 bữa/ngày.

Bé cần được các chuyên viên săn sóc, theo dõi liên tục trong những tuần lễ đầu về số cân nặng, chiều dài, đo vòng sọ. Quan sát các động tác người, tay, chân; khả năng hoặc phản ứng về các cảm giác nhìn, nghe… Nói chung, các cảm giác về cơ thể và về tinh thần của Bé đều cần được chú ý đặc bịệt.

Nếu được săn sóc đúng mức, một trẻ thiếu tháng có thể phát triển như đứa trẻ bình thường sau 2, 3 năm.

208. Trẻ sinh đôi.

Các trẻ sinh đôi, sinh ra thường nhẹ hơn các trẻ sinh bình thường, hoặc trong hai cháu thì có một cháu nhỏ hơn.

Việc săn sóc các cháu cũng cần thiết như đối với các cháu sinh thiếu tháng vậy.

CÓ MỘT điều chắc chắn là cơ thể các cháu bị thiếu chất sắt vì các cháu phải chia nhau lượng hợp chất sắt lẽ ra chỉ để dành cho một người.

Bởi vậy, ngay từ những tuần lễ đầu tiên, phải chú ý cho thêm các thuốc bổ có hợp chất sắt vào sữa để các cháu bú .

209. Kháng thể của người.

Gammaglobulines là những kháng thể có nguồn gốc từ cơ thể người, có tác dụng chống được vi khuẩn và virút trong vòng vài tuần lễ, được dùng làm thuốc tiêm vào bắp thịt để phòng hoặc làm giảm một số bệnh. Có những loại gam ma globuhnes chuyên dùng chống các bệnh như: sởi, gan, ho gà, uốn ván vv… và một loại chung được dùng để tăng cường khả năng đề kháng của cơ thể. Cũng có một loại Gam ma globuline được dùng làm thuốc chống dị ứng.

210. Hemophilus là gì?

Hemophilus influenzae là tên một loại vi trùng thường gây ra một số các bệnh trẻ em như: bệnh viêm mũi-họng, viêm phổi, đau mắt, viêm TAI GIỮA VÀ NHẤT LÀ BỆNH VIÊM MÀNG ÓC. CÓ NHIỀU CHỦNG LOẠI, NHƯNG LOẠI HEMOPHILUS B là loại gây ra những bệnh nặng nhất.

Người ta đã điều chế được vắc xin chống Hemophilus và các bà mẹ nên cho con chích loại vắc xin này để phòng bệnh; nhất là các cháu nhỏ đã vô tình tiếp xúc với những người đang bị bệnh đau màng óc (coi bảng các vắc xin nên chích ngừa để phòng bệnh).

211. Kiểm tra sức khỏe của Bé vừa lọt lòng.

Là phương pháp kiểm tra sức khoe của trẻ mới sinh mang tên giáo sư bác sĩ người Mỹ Virginia Apgar. Nội dung kiểm tra gồm 5 việc: kiểm tra nhịp tim, nhịp thở, màu da, phản ứng với sự kích thích bên ngoài, tiếng khóc. Mỗi loại kiểm tra cho điểm từ 1 tới 2 điểm. Bé nào đạt từ 8-10 điểm là có sức khỏe tốt khi mời chào đời.

212. Phục hồi sức khỏe sau khi khỏi bệnh.

NGÀY NAY, NHỜ SỰ TIẾN BỘ CỦA NGÀNH Y DƯỢC mà việc chữa khỏi bệnh phần lớn không đòi hỏi những thời gian dài như ngày xưa nữa. Những chứng bệnh thông thường khỏi trong vài ngày. Trẻ lại trở lại với các sinh hoạt bình thường, lâu lắm là một tuần sau khi khỏi bệnh.

Nói chung, các cháu thường bị bệnh trong vòng 4~5 ngày. Trước đây, mỗi lần bệnh thường là 2 tới 3 tuần lễ.

Do thời gian bệnh ngắn, nên việc săn sóc sau khi khỏi cũng nhẹ nhàng. Tuy vậy, cũng nên chú ý tới sự thay đổi về tâm lý trong một số cháu như:

– Sau khi bệnh, lại mút tay và có xu hướng làm nũng, đòi hỏi được chiều chuộng hơn.

– Ðối với anh chị em, cảm thấy mình được bố mẹ chú ý săn sóc và chiều hơn, nên dễ tạo ra sự ghen tị.

Nói chung, sau thời gian nằm viện, xa cách gia đình, xa cách với các sinh hoạt bình thường, cháu nhỏ bây giờ cũng cần có một thời gian để thích ứng với nhịp sống chung như trước.

Cũng có một nhận xét: sau mỗi lần bệnh, các cháu lại lớn LÊN MỘT CHÚT. ĐÓ LÀ SỰ “bệnh vỡ da”.

213. Phương pháp cho trẻ em vận động để tập thở.

Bằng phương pháp làm cử động tay, chân, các khớp xương và cột sống, người ta đã làm cho các bệnh ho tái phát, bệnh hen ở TRẺ EM, CÁC BỆNH HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH, ÐỠ HẲN.

Phương pháp hỗ trợ sự hô hấp này còn làm cho các ống dẫn KHÍ ÐƯỢC THÔNG, SẠCH.

Ở bệnh viện, phương pháp này được dùng hàng ngày hoặc nhiều lần trong ngày do các chuyên viên thực hiện cho các cháu rất nhỏ, tới các cháu lớn. Các bậc cha mẹ cũng có thể học được kỹ thuật của phương pháp NÀY ÐỂ ÁP DỤNG CHO CÁC CHÁU Ở nhà.

Khi gặp các trường hợp trẻ em gặp tai nạn, bị ngạt hoặc ngưng thở, phải nhờ người gọi ngay tới nơi cấp cứu. Trong khi chờ đợi, không được để phí thời gian, mà chính bạn phải là người thực hành hô hấp nhân tạo cho các cháu ngay.

Phương pháp hữu hiệu nhất là miệng hút miệng còn gọi là “hà hơi thổi ngạt” (xem hình vẽ), áp dụng cho mọi trường hợp như ngã xuống nước, bị điện giật, bị ngạt hơi ga hoặc mắc vật cứng ở CỔ, XE ÐỤNG V.V… ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT LÀ PHẢI LÀM NGAY , không được chậm trễ: mọi người chỉ cần bị ngưng thở vài phút cũng đủ gây ra những tổn thương ở não không thể phục hồi được nữa.

KHI NẠN NHÂN Ở trạng thái sau đây, cần phải thực hiện hô hấp nhân tạo ngay:

1. Mặt, môi xanh tím chứng tỏ cơ thể thiếu ôxy.

2. Ngất rất nhanh.

3. Ngưng hô hấp.

Việc bạn cần làm cho nạn nhân:

1. MỞ KHUY áo cổ và ngực của nạn nhân, không để cổ và ngực bị bó chặt.

2. Ðể ngửa đầu nạn nhân ra phía sau để đường hô hấpađược mở rộng và để lưỡi không bị tụt ra sau, chặn đường đi của không khí vào phổi.

3. Hít một hơi thật dài, rồi há miệng to đủ để ngậm được kín miệng nạn nhân (hình B); nếu nạn nhân là một cháu bé mới sinh thì ngậm kín cả miệng và 2 lỗ mũi của cháu (hình C).

Khi hà hơi vào cháu bé, cháu càng ít tuổi, càng phải hà từ từ. Với Bé sơ sinh, hà cả vào đường miệng và đường mũi.

4. Mỗi lần hà hơi xong, lại ngồi thẳng lên để hít thở cho được nhiều.

5. Hà hơi thổi ngạt như vậy cho tới khi nào thấy ngực cháu bé phập phồng, chứng tỏ cháu đã tự thở được mới thôi.

6. Trong thời gian thực hiện thở nhân tạo giừ đầu nạn nhân NGẢ RA ÐẰNG SAU. CỐ THỰC HIỆN NHỊP THỞ TỪ 20 – 40 LẦN MỖI PHÚT.

KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN THỞ NHÂN TẠO

– Việc thực hiện hô hấp nhân tạo sẽ gặp khó khăn khi đường dẫn khí qua cổ nạn nhân bị vướng. Nếu vì lưỡi nạn nhân co vào, che cổ họng thì ngửa thêm đầu nạn nhân ra phía sau.

Nếu có vật ngáng mắc trong cổ nạn nhân, phải cố lấy ra (coi lại phương pháp Heimlich) rồi nhanh chóng “hà hơi thổi ngạt”.

NHỮNG DẤU HIỆU CHỨNG TỎ CHÁU BÉ ÐÃ TỰ THỞ ÐƯỢC:

1. Sắc mặt cháu hồng lên, không tái nữa.

2. NGỰC PHẬP PHỒNG.

XOA BÓP TIM

– Nếu cháu bé đã ngưng thở mấy phút thì tim cũng ngưng đập. Cần phải thực hiện phương pháp xoa bóp tim ngoài lồng ngực. Vì phương pháp này cũng có tác hại cho nạn nhân, nên chỉ thực hành khi chắc chắn tim nạn nhân đã ngưng đập.

Nếu không có người giúp đỡ, một người vẫn có thể vừa hà hơi cứu ngạt, vừa xoa bóp tim, hà hơi, xoa bóp tim, rồi lại hà hơi cứ THAY ÐỔI NHƯ THẾ.

PHƯƠNG PHÁP XOA BÓP TIM

– Nạn nhân nằm ngửa. Người cứu nạn dùng gan bàn tay ấn thẳng góc mạnh lên ngực của nạn nhân, ở phần ba dưới cửa xương ức về phía trái. Mỗi phút ấn 60 lần. Tránh không ấn quá về phía xương sườn của trẻ em vì xương còn yếu, có thể bị gãy. (Xem hình vẽ).

Phương pháp này cũng áp dụng cả với người lớn nhưng phải hà hơi và ấn tay mạnh hơn.

15. Thuốc an thần

NÓI CHUNG THÌ KHÔNG NÊN dùng các loại thuốc an thần, thuốc gây ngủ, nhất là cho các cháu bé. Thường các cháu bé không ngủ được là do các tiếng động chung quanh hoặc vì nguyên nhân tâm lý khác mà người lớn phải tìm hiểu để tạo điều kiện cho các cháu ngủ tốt.

Việc sử dụng các thứ thuốc này chỉ có tính chất tạm thời, thật cần thiết trong một hoàn cảnh bắt buộc. Không được lạm dụng thuốc và sử dụng trong thời gian dài.

Những loại thuốc an thần đều không lợi cho sự hô hấp, làm các động tác cơ bắp khi thở ra hít vào bị yếu đi. Do đó, không được dùng cho các cháu mới sinh được vài tuần, vì thời gian này nhịp thở của các cháu chưa được đều. Ðối với các cháu lớn bị bệnh đường hô hấp cũng vậy. Ngay cả thuốc làm dịu cơn ho cũng phải dùng có chừng mực đúng theo sự chỉ định của bác sĩ.

216. Liệu pháp vi lượng đồng cân.

Phương pháp trị liệu này càng ngày càng được áp dụng nhiều cho các trẻ em, dựa vào nhận xét: có những loại thuốc gây ra những triệu chứng bệnh lại làm khỏi chính những triệu chứng đó ở MỘT NGƯỜI BỊ BỆNH. NGƯỜI TA CHƯA giải thích được cơ chế làm khỏi bệnh của các thuốc này, nhưng đã áp dụng có kết quả trong việc chữa trị. Các chất này được dùng với liều lượng rất nhỏ, rất loãng để khỏi độc, thường có nguồn gốc thảo mộc như acomt, belladone, arnica…, là loại nguồn gốc động vật như apis, cantharis; hoặc là những hóa chất như bạc, thủy ngân, ăng-ti-moan, phốt-pho, đồng v.v…).Thường người ta điều chế thành các viên thuốc dễ tan trong miệng, để các cháu bé ngậm.

Phương pháp này thường áp dụng để chữa trị một số bệnh mà các loại thuốc thông thường ít hoặc không có hiệu quả như bệnh xoang hay bệnh hen.

Các bác sĩ nhi khoa có kinh nghiệm có thể chỉ áp dụng các chất thuốc này để chữa trị hoặc phối hợp với cả các thứ thuốc khác.

217. Nước tiểu.

Các bà mẹ nên tới hỏi ý kiến bác sĩ nếu cháu bé có những bịểu hiện sau :

– Bé đã hơn 3 tuổi mà vẫn hay đái dầm, kể cả ban ngày.

– Bé đi tiểu luôn luôn, đi tiểu thấy đau, nước tiểu đục hoặc mầu đỏ.

Những hiện tượng đó có thể là triệu chứng của các bệnh về niệu đạo (ống tiểu). Tuy vậy, chúng ta cũng nên nhớ rằng một số thực phẩm có tác dụng nhuộm mầu nước tiểu như củ cải đỏ một số kẹo có phẩm mầu, một số dược phẩm như chất xanh-méthylène, quinine. Hiện tượng sốt CŨNG KHIẾN CHO NƯỚC TIỂU CÓ MẦU THẪM HƠN MỌI NGÀY.

Lấy mẫu nước tiểu như thế nào?

1. Ðể tìm albumin trước khi chích vắc xin, mẫu nước tiểu không cần phải thật tinh khiết, chỉ cần sạch (không lẫn phân). Với các cháu mới sinh, có thể quấn băng thấm để cháu tiểu vào băng. Với các cháu lớn HƠN, CÓ THỂ LẤY Ở BÔ.

2. Nếu cần xét nghiệm tìm vi khuẩn như trường hợp muốn bịết có phải là viêm niệu đạo không, mẫu nước tiểu cần phải lấy thật cẩn thận. Trước tiên, phải lau sạch bộ phận đi tiểu của cháu bé. Sau đó phải lấy mẫu nước tiểu khi cháu đang tiểu (lấy mẫu ngay ở TIA NƯỚC TIỂU). ĐỐI VỚI CÁC CHÁU nhỏ, buộc vào bộ phận đi tiểu của cháu một bao nylon sạch hoặc túi đặc bịệt có bán tại cửa hàng thuốc. Sau 1 giờ, nếu cháu bé chưa tiểu, phải thay túi khác.

218. Cấy phân – xét nghiệm phân.

Khi cháu bé bị đi tướt, bác sĩ có thề yêu cầu lấy mẫu phân của cháu mang đi xét nghiệm để tìm ra vi trùng gây bệnh cùng loại thuốc thích hợp để diệt loại vi trùng này.

Việc tìm vi rút trong phân là một việc làm khó và phải thực hiện trong vài ngày.

219. Phẫu thuật cho Bé.

Nếu con bạn cần phải qua một cuộc phẫu thuật, bạn KHÔNG NÊN HAY NÊN LÀM NHỮNG ÐIỀU GÌ?

KHÔNG NÊN giấu cháu bé tới phút CUỐI MỚI CHO CHÁU BỊẾT TỐI NAY CHÁU KHÔNG NGỦ Ở nhà. Hoặc nói dối cháu rằng đưa cháu đi chơi, đi coi chiếu bóng v.v…, và mô tả bệnh viện như là một nơi giải trí mà cháu sẽ được hưởng nhiều điều thật thú vị!

NGƯỢC LẠI, CŨNG KHÔNG NÊN tỏ vẻ lo ngại về một tai nạn có thể xảy ra và để cháu bị đưa tới bệnh viện một mình, không có bố mẹ đi kèm, rồi tin tưởng vào những liều thuốc mê, thuốc giảm đau trong bệnh viện mà không tới thăm nom để động viên, an ủi cháu. Cũng không nên cho cháu bịết trước lâu quá, HÀNG MẤY TUẦN TRƯỚC NGÀY GIẢI PHẪU.

NÊN

– Bạn hãy giữ bình tĩnh, có thái độ bình thường cho tới trước ngày phẫu thuật độ 2 ngày mới tìm cách nói cho cháu bịết, cháu cần phải tới bệnh viện để “khỏi đau bụng”, để trị cái cục nào đó thường làm cho cháu đau v.v…Cháu bé càng nhỏ, thì càng báo chậm, nhưng nên nói tới việc này để cháu có thời gian chuẩn bị sẵn sàng về tư tưởng.

Bạn có thể nói cho Bé bịết, trong một vài ngày Bé ở BỆNH VIỆN, NGƯỜI TA SẼ SĂN SÓC CHÁU tại giường như thế nào, giải thích cho Bé tại sao các bác sĩ và y tá lại mặc đồ trắng, che mũi, miệng, đeo găng tay. Hãy nói với Bé về cái giường đẩy, về tác dụng của thuốc mê và cho Bé biết, khi Bé tỉnh dậy sẽ THẤY NGAY BỐ MẸ Ở BÊN CẠNH. Hãy kể cho cháu biết, trong số người thân trong gia đình: bác A, chú B, cậu X, v.v… ngày xưa cũng phẫu thuật như cháu nên bây giờ rất khỏe v.v…

Hãy mang tới bệnh viện cho cháu những đồ chơi quen thuộc của cháu: con búp bê, ống nghe bệnh cho búp bê, bút vẽ v.v…

Trong những bệnh viện tư và một số bệnh viện đặc bịệt, người ta thường cho phép người nhà ngủ với các cháu trong những đêm đầu TIÊN Ở BỆNH VIỆN. HÃY CỐ Ở LẠI VỚI CÁC CHÁU CÀNG nhiều càng tốt. Nếu các cháu khóc khi bạn về, hãy hứa với các cháu bạn sẽ sớm trở lại và đưa cho cháu giữ chiếc khăn quàng hoặc đôi găng tay của BẠN ÐỂ LÀM TIN.

Khi cô y tá tới để đưa cháu vào phòng phẫu thuật, nên giữ bình tĩnh, động viên và an ủi cháu. Hãy để cháu giữ lại trong trí hình ảnh thân thương của bạn trước khi đi và tin rằng, KHI CHÁU TRỞ LẠI SẼ LẠI GẶP BẠN BÊN GIƯỜNG.

KHI TRỞ VỀ NHÀ sau một thời gian ở BỆNH VIỆN, HÃY GÂY LẠI TÌNH CẢM ÊM ấm, yêu thương lẫn nhau giữa cháu và các anh chị em của cháu.

220. VACCIN (VẮC-XIN).

Chú ý: Việc chích ngừa chỉ có hiệu quả nếu chích đủ liều lượng và đúng kỳ hạn. Bởi vậy, khi đưa cháu đi chích ngừa, bạn hãy nhớ hỏi ngày chích ngừa lần sau và ghi ngày đó vào cuốn sổ sức khỏe của cháu để khỏi quên. Nếu tới kỳ hạn lần sau mà bạn không đưa cháu tới hoặc tới chậm quá, không đúng ngày thì có thể lại CHÍCH LẠI TỪ ÐẦU.

THỜI GIAN CHÍCH NGỪA (tiêm phòng bệnh)

Tháng thứ 3 – 4 – 5 hoặc 4 – 5 – 6 : Chích ngừa bạch hầu uốn ván – ho gà, bại liệt.

Tháng thứ 6, 7 : B.C.G.

Lúc 1 tuổi : Sởi, quai bị, thủy đậu.

Lúc 5 – 6 tuổi : Chích phòng lần thứ 2 : bạch hầu – uốn ván – ho gà.

Lúc 10 – 11 tuổi : Chích lần 2 phòng bệnh bại liệt.

Chích lần 2 phòng thủy đậu cho các cháu gái.

Lúc 16 tuổi : Chích lần 3 phòng bại liệt.

CHÍCH PHÒNG VÀO ÐÂU ? Thường, NGƯỜI TA CHÍCH Ở LƯNG, GIỮA CỔ VÀ VAI, HOẶC Ở HẦN TRÊN CÁNH TAY, HOẶC Ở ĐÙI

Những trẻ em nào không chích được vắc-xin phòng bệnh?

Bác sĩ sẽ quyết định điều này, có thể là những trường hợp các cháu bị bệnh về thận, bệnh thần kinh v.v… Hoặc hoãn chích tạm thời cho các cháu đang bị dị ứng. Những cháu có ít albumin trong nước tiểu, có không liên tục, nếu không có dấu hiệu của bệnh thận cũng cần hoãn.

BẢO QUẢN VẮC-XIN

Vắc-xin phải bảo QUẢN Ở NHIỆT ÐỘ GẦN 00C. Ở 5-600C, không lưu giữ được lâu. Tuy vậy, không được để vắc-xin đông lại, cho NÊN NẾU ÐỂ Ở TỦ LẠNH, CHỈ để gần ngăn nước đá chứ không cho vào ngăn nước đá.

CÁC BỆNH KHÁC Ở TRẺ EM

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

X. CÁC BỆNH KHÁC Ở TRẺ EM

183. Cúm, trạng thái cúm

Mỗi khi cháu bé mệt hoặc sốt, chúng ta không nên nghĩ ngay là cháu bị cúm. Bệnh gì thì phải nhờ bác sĩ xác định vì có nhiều bệnh khác nhau cùng có những triệu chứng ban đầu giống như cúm: ớn lạnh, run, thân nhiệt tăng, mặt đỏ, họng khô, đau lưng và chân tay. Hiện tượng ho càng ngày càng nhiều không phải là triệu chứng của cúm. Ða số trẻ em hễ bệnh là ỉa chảy và nôn, cứ 24 giờ hay 48 giờ là lại sốt cao một lần.

Khi đã xác định là cháu bé bị cúm, bác sĩ sẽ yêu cầu phải để cháu nằm nghỉ tại giường trong thời gian một vài ngày. Nên cho cháu uống nhiều nước trái cây, nước chanh.

Trong thời gian có dịch bệnh, tránh để các cháu bị lạnh, mệt và tập trung nơi đông người.

Nếu bà mẹ bị cúm, nên để người khác săn sóc con mình. Khi cần cho con bú, nên đeo khấu trang.

Ðối với các trẻ thơ, bệnh cúm có thể gây ra nhiều biến chứng từ viêm tai, mũi, họng tới viêm phế quản, viêm phổi, ho, hen tới độ khó thở.

Việc tiêm chủng chống bệnh cúm cho các cháu hiện nay chưa thực hiện được rộng khắp nhưng rất cần đối với các cháu có thể trạng yếu và hay có bệnh tai-mũi-họng.

184. Bệnh ban đào

Bệnh ban đào do vi rút gây ra là bệnh hay lây, có thể thành những dịch nhỏ về mùa thu và mùa đông. Bệnh thường gặp ở TRẺ EM DƯỚI 3 TUỔI, BỖNG NHIÊN BỊ SỐT cao trong nhiều ngày. Tới ngày thứ 4, thứ 5, Bé có thể khỏi sốt, đồng thời khắp người Bé nổi ban đỏ trong vài giờ hoặc một, hai ngày.

Tuy những lúc sốt cao, cháu bé có thể bị co giật, nhưng bệnh này chỉ là một bệnh nhẹ.

185. Chứng ban xuất huyết.

Chứng ban xuất huyết có đặc điểm: các vết đỏ đủ cỡ nổi cách nhau trên da, đôi khi thành từng mảng rộng do máu thoát ra từ các mạch li ti (mao mạch) dưới da tạo thành. Cháu bé bị ban xuất huyết đôi khi số, chảy máu cam, đau người v.v…

Chứng ban xuất huyết có thể liên quan đến sự giảm số lượng những tiểu cầu trong máu, làm rối loạn sự đông máu – hoặc do sự hư hại của chính những mao mạch dưới da làm máu thoát ra được.

Nguyên nhân của chứng ban xuất huyết có thể do nhiễm trùng (vi trùng màng não cầu), hoặc virút (bệnh sởi, bệnh tăng đơn bào…) hoặc do chất độc trong thuốc mà cơ thể cháu phản ứng lại. Chứng này còn là biểu hiện của một số bệnh nghiêm trọng về máu do tổn thương của tủy xương gây RA Ở TRẺ SƠ SINH

– Các cháu sơ sinh ra đời sau một cuộc đẻ khó của bà mẹ, có thể có các nốt đỏ trên mặt: đó là những mạch máu nhỏ bị vỡ. Hiện tượng này sẽ qua đi không có gì đáng lo ngại. Kể cả hiện tượng xuất huyết nhỏ trong lòng trắng mắt cũng vậy.

Nếu chứng này đi đôi với hiện tượng giảm đáng kể số lượng tiểu cầu trong máu thì phải chú ý xem cháu có bị chứng nhiễm trùng SƠ SINH KHÔNG.

PHÁT BAN VÌ BỆNH ÐAU MÀNG ÓC

– Nếu cùng với hiện tượng phát ban, cháu lại sốt thì phải nghĩ ngay tới một tổn THƯƠNG Ở MÀNG ÓC… VÀ PHẢI ÐƯA CHÁU TỚI BÁC SĨ HOẶC VÀO BỆNH VIỆN NGAY.

PHÁT BAN DO DẠNG BỆNH THẤP

– Thường thấy ở các chi dưới. Nếu phát ban kèm theo hiện tượng đau vùng bụng thì phải nghĩ tới trẻ bị lồng ruột hoặc có liên quan tới thận, nhất là khi nước tiểu có máu và anbumin. Cũng có những trường hợp phát ban có giảm số lượng tiểu cầu mà chẳng có nguyên nhân gì cả.

Chứng phát ban nói chung thường khỏi sau vài tuần chữa trị. Nhưng cũng có những trường hợp kéo dài tới 5-6 tháng: đó là chứng phát ban mãn tính. Việc chữa trị mất nhiều công sức hơn.

186. Bệnh tinh hồng nhiệt.

Bệnh tinh hồng nhiệt do một loại liên cầu trùng tán huyết gây ra. Hiện nay bệnh này hiếm thấy và cũng không còn nguy hiểm như xưa. Thời gian ủ bệnh từ 4 tới 5 ngày. Các cháu bị bệnh đột ngột sốt cao, đau HỌNG VÀ CÓ HẠCH Ở CỔ, chóng mặt và nôn ói.

Người mẩn đỏ rất nhanh, những nốt mầu đỏ nối nhau thành từng mảng rộng, có những đường viền không đều, bắt đầu từ cổ nách, khuỷu tay rồi lan ra toàn thân kể cả mặt, trừ vùng miệng và mắt. Ðặc biệt chỉ sau vài ngày lưỡi của cháu bị bệnh có màu đỏ tươi như mầu trái dâu.

Nếu không có biến chứng, bệnh thuyên giảm trong vòng vài ngày: thân nhiệt xuống, các mảng đỏ lặn mất. Khoảng 2, 3 tuần sau, da bắt ÐẦU BONG, NHẤT LÀ Ở BÀN TAY và bàn chân có thể bóc thành mảng vảy.

Những biến chứng của bệnh này, ngày xưa rất nguy hiểm nhưng nay hầu như không còn nữa nhờ tác dụng hữu hiệu của thuốc penicilline đối với các trùng streptocoque.

Những biến chứng, nếu có, thường tác động tới thận và khớp. Khi bị bệnh, người ta thường xét nghiệm nước tiểu để xem có anbumin trong thành phần không.

Hiện nay ít gặp những trường hợp bệnh này ở TRẠNG THÁI NẶNG. MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP nhẹ xảy ra trong thời gian ngắn với các triệu chứng đã biết như: bệnh dễ lây lan, đau họng, xét nghiệm thấy có vi trùng streptocoque trong mẫu tế bào lấy ở họng ra; bong da chân, tay.

187. Bệnh bại liệt.

Trước đây, bệnh bại liệt là một bệnh thật đáng sợ vì bệnh có thể gây biến chứng tức thì làm cho không thở được, hoặc sau này làm trẻ em bị teo cơ và bại liệt. Ngày nay, bệnh này gần như không còn ở CÁC NƯỚC MÀ TRẺ EM ÐƯỢC UỐNG THUỐC ngừa hay tiêm phòng bệnh này cùng với một số bệnh khác nữa.

Vậy, nên làm gì đối với các cháu nhỏ nơi còn dịch bệnh? CÓ NHIỀU TRƯỜNG HỢP:

– Trẻ em đã được tiêm phòng bệnh trong vòng 2-3 năm trở lại đây: không phải lo ngại gì.

– Trẻ em mới tiêm một lần: cần tiêm ngay lần nữa hoặc uống thuốc cho đủ liều.

– Trẻ em chưa tiêm hoặc uống thuốc phòng bệnh: đi tiêm và uống thuốc ngay.

Sau ngày tiêm hay uống thuốc 8 ngày, thuốc sẽ có tác dụng. Nhưng cần phải tiêm hoặc uống thuốc tiếp, đúng kỳ hạn, đủ liều lượng.

Các cháu mắc bệnh sẽ có các triệu chứng: nôn ói hoặc các biểu hiện khác của sự rối loạn tiêu hóa, sốt, đau trong chân, trong tay, đau đầu, họng đỏ.

Hãy cho cháu nằm nghỉ và điện thoại ngay cho bác sĩ, hoặc đưa cháu vào bệnh viện.

188. Bệnh đậu mùa.

Theo tổ chức sức khỏe thế giới (OMS) thì bệnh đậu mùa ngày NAY GẦN NHƯ KHÔNG CÒN NỮA. ĐÓ là vì việc tiêm phòng bệnh đã được tiến hành trên khắp thế giới và mỗi khi phát hiện bệnh, người ta đã biết cách ly người bệnh, nơi có dịch bệnh với mọi người.

Tuy vậy, ở một số nước có điều kiện vệ sinh kém, chứng bệnh này vẫn có thể xảy ra và chỉ cần một người ở nơi bệnh di chuyển tới nơi khác sẽ làm cho nơi đó có dịch bệnh. Nhưng nhờ có sự kiểm soát ngặt NGHÈO Ở BIÊN GIỚI VỀ Y TẾ nên hiện tượng này cũng ít khi xảy ra. Trên thế giới mỗi lần ở ÐÂU CÓ BỆNH NÀY LÀ NGƯỜI TA LẠI thông báo rộng đi khắp các nơi, và mọi người lại tiêm chủng để phòng BỆNH.

Ở Pháp, người ta không còn chủng ngừa bệnh này nữa, nhưng những người di du lịch sang các nước khác vẫn ÐƯỢC KHUYẾN CÁO NÊN TIÊM CHỦNG ÐỂ PHÒNG NGỪA.

Chú ý

– Những trẻ em đang bị ngứa dị ứng (eczema) không những không được tiêm phòng bệnh mà cũng không được tiếp xúc với các trẻ em nào vừa tiêm phòng bệnh.

Không tiêm chủng phòng bệnh cho các cháu đang có bệnh ngoài da hoặc bệnh thận, bệnh thần kinh, bệnh đau màng óc, viêm não.

Vắc xin ngừa bệnh đậu mùa đôi khi có thể gây những biến CHỨNG Ở DA VÀ NÃO. Đấy cũng là một lý do để người ta không tiêm chủng thường xuyên nữa, khi thấy có thể bỏ qua được.

189. Thủy đậu.

Thủy đậu là bệnh nổi mụn hay gặp nhất ở trẻ em. Bệnh này rất dễ lây nên hầu như không cháu nào tránh khỏi bệnh. Bệnh này do tiếp xúc trực tiếp, do nước bọt và những vảy mụn. Sau khi tiếp xúc với nguồn lây bệnh từ 14-15 ngày, sẽ có các triệu chứng: chóng mặt và sốt nhẹ. Ðặc biệt là người nổi mụn, bắt đầu ở thân, rồi đến mặt, quanh miệng và da đầu. Những mụn nhỏ độ vài milimét, có chứa một chất lỏng bên trong, sẽ khô lại sau 48 giờ và hình thành một cái vẩy. Chừng 5-6 ngày sau, vẩy sẽ bong ra để lại trên da một cái sẹo lâu độ vài tuần. Những mụn nhỏ có chứa virrút bên trong nên dễ lây sang các cháu khác.

Hiện tượng mụn nổi lên kéo dài 2-3 ngày, gây ngứa khiến các cháu muốn gãi làm xước da, gây nhiễm trùng và các mụn lâu đóng vẩy. Thông thường, sau 15 ngày phát bệnh thì các cháu khỏi.

Thủy đậu là bệnh nhẹ. Trường hợp mụn nổi nhiều, các cháu có thể bị sốt cao nhưng rồi cơn sốt sẽ qua đi. Cũng đôi khi có trường hợp bệnh ảnh hưởng tới vùng tiểu não và hệ thần kinh làm cháu bé đi lảo đảo trong thời gian bệnh đang phát triển. Bệnh có thể kéo dài thêm một ít nhưng cũng khỏi sau vài tuần.

Trong thời gian cháu bé bị thủy đậu, việc chính là giữ gìn vệ sinh cho cháu: cắt móng tay và giữ sạch, không để cháu gãi để tránh nhiễm trùng da và lây lan sang cháu khác, mặc quần áo rộng và nhẹ. Không cần xoa phấn và chỉ tắm sau khi đã hết mụn. Nếu cần, chỉ bôi thuốc sát trùng lên những vẩy hoặc mụn to nhất. Bác sĩ có thể cho các cháu uống một ít thuốc an thần để cháu dễ ngủ, khỏi quấy và gãi vì ngứa.

Khi khỏi hẳn, cháu mới được tới trường hoặc nhà trẻ.

190. Bệnh thiếu máu (còn gọi là bần huyết).

Nếu bạn thấy mặt con mình bị tái nhợt, xin chớ vội kết luận cháu bị thiếu máu. Bởi vì nhiều khi mầu da tự nhiên của cháu là như vậy. Tốt nhất là cho cháu tới một bác sĩ.

Màu da chỉ là một phần, cần phải nhìn màu của môi, lợi, lật mí mắt coi bên trong mí: nếu màu sắc các phần này nhợt nhạt thì chắc cháu bé bị thiếu máu rồi. Chứng này còn kèm theo các triệu chứng: mệt mỏi, người có vẻ lờ đờ, uể oải, kém hoạt động, không chịu ăn.

Máu của các cháu kém đỏ hơn bình thường vì thiếu huyết sắc tố, một thành phần quan trọng nhất của hồng cầu có chứa gần như toàn bộ chất sắt trong cơ thể. Huyết sắc tố có nhiệm vụ mang ôxy từ phổi tới các tế bào của các mô.

Các cháu bé từ 4 tháng tuổi trở đi dễ bị mắc bệnh này do việc nuôi dưỡng không đủ chất sắt. Tại sao ? Vì sữa không cung cấp đủ chất sắt cho các cháu.

Vậy tất cả các cháu bé chỉ nuôi bằng sữa đều bị chứng thiếu sắt chăng? Không phải. Khi được sinh ra, các cháu đã mang sẵn trong người một lượng chất sắt cần thiết của mẹ truyền cho rồi. Nhưng, có những trường hợp đặc biệt như các cháu sinh đôi, sinh ba phải cũng chia nhau một lượng chất sắt của mẹ chẳng hạn. Ngoài ra, khi các cháu bị ốm, bị tiêu chảy, bị bệnh thiếu huyết sắc tố do di truyền hoặc uống thuốc làm một số hồng huyết cầu bị tiêu diệt, chán ăn nên lượng sắt được tiếp tế không đủ cho cơ thể.

Ðối với các cháu bé mới sinh, các bà mẹ nên chú ý tới màu phân của Bé. Nếu màu nhợt nhạt là có vấn đề!

191. Chứng cao huyết áp.

Trẻ em kể cả các cháu sơ sinh cũng có thể bị chứng cao huyết áp, dù trường hợp này hiếm. Nguyên nhân bệnh có thể do thận có vấn đề, hoặc không xác định được.

Ðo huyết áp cho các cháu bé rất khó vì các cháu hay cựa quậy. Tuy vậy, càng ngày các bác sĩ càng chú ý tới việc này và thường PHẢI LẤY SỐ ÐO CỦA CÁC CHÁU Ở trạng thái nghỉ ngơi, thoải mái, không sợ hãi, để so với các số đo mẫu của từng lứa tuổi, chiều cao của Bé trai hay Bé gái.

192. Bệnh ưa chảy máu (bệnh huyết hữu)

Nguyên nhân bệnh ưa chảy máu là do cơ thể thiếu một số yếu tố cần thiết cho sự đông máu (có nhiều thể bệnh; trong số đó thể bệnh ưa CHẢY MÁU A LÀ THƯỜNG THẤY nhất). Chỉ có các Bé trai bị bệnh này mặc dù bệnh được truyền cho Bé từ các bà mẹ không bị bệnh.

Những triệu chứng của bệnh bắt đầu từ độ tuổi cháu bé biết đi: một vết thương nhỏ như bị đứt tay cũng gây chảy máu mãi. Hiện tượng chảy máu còn có thể xảy ra bên trong cơ thể, đặc biệt ở CÁC KHỚP NHƯ ÐẦU GỐI. NẾU KHÔNG được biết từ trước, những hiện tượng chảy máu ngoài và trong cơ thể có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm.

Ðể chữa trị bệnh, cần truyền nhiều lần cho bệnh nhân các loại máu tươi, huyết tương hoặc máu có các yếu tố đông máu. Thường cần phải có các nhóm bác sĩ chuyên ngành để theo dõi, chữa trị và đối phó với các biến chứng của bệnh.

Cháu bé bị bệnh cần phải được luôn luôn bảo vệ và tuyệt đối không tiêm chích bắp thịt.

193. Bệnh nhiễm ký sinh trùng Toxoplasme.

Bệnh này gây ra bởi một loại ký sinh ở thịt chưa chín. Trẻ em có thể bị bệnh do ăn thịt chưa nấu kỹ hoặc do mẹ đã bị bệnh này khi mang thai rồi truyền lại cho con. Bệnh có các triệu chứng như: sốt, nổi hạch, mệt mỏi, đau bắp thịt, đôi khi da bị mẩn đỏ. Trẻ em đã bị bệnh một lần thì sẽ được miễn nhiễm. Bởi vậy, nếu các Bé gái đã bị bệnh lúc nhỏ thì sau này, khi các cháu tới tuổi sinh nở, cơ thể cháu đã được miễn nhiễm nên không lây sang con cái nữa.

Nhiều người mắc bệnh mà không biết, nên có tới 85% phụ nữ có máu miễn nhiễm về bệnh này.

194. Phân không bình thường

Trừ trường hợp cháu bé đi táo hoặc đi tướt, còn những NGÀY BÌNH THƯỜNG, PHÂN CHÁU CÓ THỂ NHƯ THẾ NÀO?

PHÂN MỀM, ÍT

– Chứng tỏ sự tiêu hóa BÌNH THƯỜNG.

PHÂN CÓ CHẤT NHẦY TRẮNG HAY XANH

– Rối loạn tiêu hóa hoặc Bé bị sổ mũi. Nếu sự hô hấp cháu vẫn bình thường mà lại đi phân nhầy thì cần phải nói cho bác sĩ biết vì cháu có thể bị RỐI LOẠN NGAY Ở MÀNG NHẦY CỦA RUỘT.

PHÂN CÓ MỦ

– Nếu trong chất nhầy lẫn TRONG PHÂN, CÓ CẢ MỦ THÌ CHÁU ÐÃ BỊ VIÊM Ở một bộ phận nào đó của cơ quan tiêu hóa. Mủ là các bạch huyết cầu, các vi trùng đã chết lẫn với các mảnh niêm mạc bị bong ra.

PHÂN CÓ MÁU

– Nếu bạn thấy tã hay trong “bô” của cháu bé có máu, hoặc rõ hơn là có máu chảy ở HẬU MÔN CỦA CHÁU BÉ RA, CẦN PHẢI ÐƯA cháu tới bác sĩ ngay. Nên giữ tã lại và lấy một ít phân trong bô vào một lọ nhỏ đã rửa sạch, mang tới bệnh viện để làm xét nghiệm.

Nếu cháu bé vẫn khỏe bình thường, không sốt thì trong đoạn trực tràng có thể có một cục thịt thừa (pô líp). Bác sĩ sẽ giải quyết bằng một cuộc phẫu thuật nhỏ.

Việc lấy nhiệt độ cho cháu bé bằng đường hậu môn cũng có khi làm trực tràng bị thương nhẹ (dù nhiệt kế không bị vỡ). Vết thương như vậy cũng mau lành.

Ngoài ra còn có các nguyện nhân khác như: cháu bé đi táo, đi tướt, làm ruột bị tổn thương nhẹ. Trường hợp này, phải chữa bệnh táo hay đi tướt.

Một khả năng nữa cũng có thể xảy ra là cháu bị lồng ruột.

PHÂN XANH

– Phân xanh không hẳn là điều đáng lo ngại vì chỉ thể hiện việc di chuyển quá nhanh của chất thải qua ruột, làm cho phân không đủ thời gian có được mầu bình thường. Hơn nữa, nên chú ý rằng việc ôxy-hóa của phân trong không khí ngoài trời, cũng có thể làm phân của cháu bé có màu xanh.

PHÂN XÁM

– Cháu bé ăn sữa bò cô ÐẶC CÓ THỂ LÀM CHO PHÂN CÓ MÀU XÁM.

PHÂN MẦU NhẠT HOẶC MẦU TRẮNG

– Phân mầu trắng có thể là biểu hiện của gan hoạt động yếu, có bệnh gan hoặc tắc ỐNG MẬT Ở CÁC TRẺ SƠ SINH.

PHÂN CÓ MẦU SẮC

– Rau, củ cải đường, cà rốt đều làm cho phân có mầu sẩc của chúng. Chất sắt làm phân có màu đen.

Nếu bạn thấy phân của cháu bé khác thường, nên lấy mẫu, và mang tới bác sĩ để nếu cần thì làm xét nghiệm.

195. Nhiễm độc chì.

Trong các phòng ở lâu không sang sửa, sơn bằng loại sơn có chất chì trong thành phần, các cháu nhỏ có thể cho những mảnh sơn bị bong vào miệng và bị nhiễm độc chì. Triệu chứng của hiện tượng nhiễm độc chì là: đau bụng, đi táo hoặc đi tiêu chảy, rối loạn thần kinh, thấy người hốt hoảng, bị co giật, bị thương tổn về thận và máu.

Việc chữa trị có mục đích loại chì ra khỏi cơ thể qua nước tiểu.

196. Bệnh sốt nổi hạch, hay bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng.

Các trẻ sơ sinh ít khi mắc bệnh sốt nổi hạch, các cháu lớn hay mắc bệnh này hơn.

Các cháu mắc bệnh bị sốt và nổi hạch ở cổ , ở nách, ở háng.

Muốn xác định đúng là cháu đã bị bệnh này, phải làm xét NGHIỆM Ở PHÒNG THÍ NGHIỆM (thử nghiệm phản ứng Paul-bunel). Bệnh thuyên giảm mau nhưng người bệnh còn thấy mệt mỏi trong nhiều tuần.

197. Sốt thương hàn.

Nước uống, sữa, kem, nước đá, hải sản (cua, sò, ốc…) đều có thể là nguyên nhân gây bệnh sốt thương hàn, nhất là về mùa hè.

Bệnh thương hàn có các triệu chứng như sau: mới đầu sốt như nhiều bệnh khác; rồi không muốn ăn, nôn, đau bụng, tiêu chảy (ở trẻ em, hiện tượng tiêu chảy có thể không xảy ra). Thân nhiệt có thể lên cao tới 40oC và không thuyên giảm mặc dù đã chữa trị như những lần sốt khác, đi phân lỏng, sức khỏe suy sụp nhanh.

Khi thấy cháu bé sốt cao, chắc các bạn phải mời bác sĩ tới ngay. Nếu nghi là sốt thương hàn, bác sĩ sẽ yêu cầu cho cháu nằm bệnh viện. Hiện nay, đã có nhiều loại thuốc kháng sinh rất hiệu nghiệm đối với bệnh thương hàn. Tuy vậy, sau khi khỏi bệnh, thời gian phục hồi được hoàn toàn sức khỏe rất lâu. Bệnh thương hàn thường làm cho người bệnh mất nhiều sức khỏe, khỏi rồi nhưng vẫn yếu và gầy.

Nếu bạn sợ cháu bé hoặc chính bạn có thể bị nhiễm bệnh, vì bạn sắp đi du lịch tới một nơi mà điều kiện vệ sinh không được đảm bảo lắm, hãy chích cho mình và cho cháu bé liều thuốc phòng bệnh thương hàn. Liều thuốc sẽ phải chích làm 4 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày, lượng thuốc lần sau nhiều hơn lần trước. Chích một lần rồi năm sau mới chích lại. Lần thứ 3 cách lần thứ hai 5 năm. Chích thuốc đau và có thể bị sốt.

Hiện nay, việc chích thuốc ngừa bệnh thương hàn không được chú ý lắm, nhưng các bác sĩ vẫn khuyên mọi người nên chích ngừa mỗi khi có dịch bệnh hoặc cần phải đi ra nước ngoài.

Trẻ em chỉ nên tiếp tục tới trường sau khi khỏi bệnh được 20 ngày trở đi. Nếu muốn tới sớm hơn, cần có chung kết quả hết trùng bệnh Ở PHÂN, SAU KHI THỬ PHÂN 2 lần, mỗi lần cách nhau 8 ngày.

Các cháu chung sống trong cùng gia đình với cháu bị bệnh, không cần thiết phải nghỉ học.

198. Hội chứng Ðao (Down).

Hội chứng do hiện tượng dị dạng nhiễm sắc thể ở CẶP NHIỄM SẮC THỂ 21, ÐÁNG LẼ CÓ 2 nhiễm sắc thể thôi thì lại có tới 3. Sự dị dạng này dẫn tới hậu quả cháu bé bị chậm phát triển về trí khôn, có một số dị tật bẩm sinh nhất là ở TIM, VÀ MỘT VẺ MẶT ÐẶC BỊỆT, HAI lông mày xếch, ngớ ngẩn vì chậm hiểu.

Người bị hội chứng này cũng như người bị tật nguyền. Các bậc bố mẹ nên liên lạc với những tổ chức nhân đạo, những trường, lớp dành riêng cho các cháu để được săn sóc đặc bịệt.

Nguyên nhân hội chứng này chưa được rõ, nhưng hay thấy ở CÁC TRẺ EM SINH RA KHI MẸ ÐÃ VƯỢT QUÁ tuổi 40.

199. Bệnh sởi.

Bệnh sởi do vi rút gáy ra, thường gặp ở các cháu bé trên 1 tuổi, có thể có dịch vào mùa xuân. Sau khi bị lây nhiễm từ 10 tới 15 ngày, các cháu bé có các triệu chứng như: ho, sốt. Hiện tượng ho của bệnh sởi có đặc điểm làm giọng cháu bé khàn khàn và làm ràn rụa nước mắt.

Sau mấy ngày bị sởi, tai, mặt, chân, tay và toàn thân cháu bé có những nốt đỏ nổi lên, rồi lại mất đi khoảng 4, 5 ngày sau. Cháu bé khỏi bệnh nhanh. Ngày nay, bệnh sởi ít khi có bịến chứng. Tuy vậy, ở NHỮNG CHÁU BÉ SỨC KHỎE KÉM VÀ NHỮNG bé da đen, bệnh sởi vẫn có thể gây ra viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi.

Cháu bé bị sởi có thể lây sang cháu khác ở THỜI KỲ TRƯỚC KHI NỔI BAN. NGƯỜI TA thường chủng ngừa cho các cháu từ tháng 12 trở đi, vì trước đó Bé còn giữ được các yếu tố miễn nhiễm trong người do mẹ truyền lại. Thuốc ngừa sởi thường pha thêm thuốc ngừa bệnh quai bị, có thể làm cháu bé sốt nhẹ, thuốc chặn được bệnh kể cả trường hợp cháu bé đã tiếp xúc với một cháu khác bị bệnh, trong vòng 5 hôm vì thuốc tác dụng nhanh hơn vi rút các cháu bé dễ bị bệnh phổi càng nên tiêm phòng bệnh sởi hoặc dùng chất gammaglobuline để tăng cường tính miễn nhiễm của cơ thể.

200. AIDS

AIDS là một bệnh nguy hiểm, chưa có phương pháp chữa trị HIỆU QUẢ, DO VI RÚT HIV

GÂY ra. Vi rút này tấn công vào hệ thống miễn nhiễm của cơ thể làm cho khả năng tự bảo vệ của cơ thể bị suy yếu trầm trọng. Một người bị bệnh sẽ mang trong máu những kháng thể đặc bịệt nên khi xét nghiệm máu của người ấy sẽ cho kết quả dương tính.

Một phụ nữ thử máu thấy dương tính có 20% khả năng truyền vi rút bệnh cho con trong lúc còn mang thai hay khi sinh nở. Sữa mẹ có thể là nguồn lây bệnh. Bởi vậy, các phụ nữ máu đã dương tính không nên có mang và càng không nên đẻ.

Trẻ sơ sinh có bệnh thường thể hiện rõ từ tháng thứ 6: sức khỏe suy giảm, ngưng phát triển, bị đi bị lại các loại bệnh nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng hay virút liên quan tới các bệnh đường hô hấp như ho; đường tiêu hóa như tiêu chảy; hệ thần kinh như đau màng óc, bại liệt v.v… Bệnh thường tiến triển rất nhanh tới mức trầm trọng.

Các cháu nhỏ còn có thể mắc bệnh này do việc truyền máu tươi hoặc các chế phẩm của máu có nhiễm virút HIV.

Người phụ nữ mắc bệnh này, cần theo những lời khuyên sau đây, dù cho lời khuyên có phần khắc nghiệt :

– Nếu là con gái, không nên lấy chồng.

– Nếu lấy chồng, không nên có mang.

– Nếu có mang, phải sớm cho ra thai.

– Nếu muốn giữ thai, không được cho con bú sữa mẹ .

Vì, nếu bị nhiễm bệnh, đứa trẻ chỉ sống được vài tháng, làm bố mẹ thêm đau buồn. Nếu không lây bệnh, thì cháu cũng sẽ sớm bị mồ côi và trở thành một gánh nặng cho xã hội.

201. Quai bị.

Thông thường, các trẻ em ngoài 1 tuổi mới bị bệnh quai bị, và hay bị vào mùa đông hay mùa xuân. Nếu trước khi sinh cháu, bà mẹ đã từng bị bệnh này thì các em chắc chắn được miễn nhiễm từ 6 tới 7 tháng đầu.

Bệnh quai bị là một bệnh lây. Thời gian nung bệnh từ khi mắc bệnh tới khi có các triệu chứng vào khoảng 3 tuần, nhưng bệnh có thể lây sang cháu khác trước khi có triệu chứng bệnh mấy ngày.

Triệu chứng chính của bệnh là sự phồng lên của tuyến nước bọt dưới tai, một bên hoặc cả 2 bên. Cháu bé nuốt khó, đôi khi há miệng cũng khó. Tuyến phồng lớn nhất trong vòng 3 ngày, sờ vào sẽ làm cháu đau. Tới ngày thứ 5, chỗ phồng sẽ nhỏ dần và hết, nhưng thời gian cháu bé bị sốt có thể lâu hơn, từ 5 – 6 ngày kèm theo hiện tượng đau đầu, nôn ói và đau vùng bụng.

Bệnh có thể có các biến chứng nhẹ, đặc biệt có thể làm VIÊM CÁC TINH NOÃN Ở CÁC cháu trai đã tới tuổi trưởng thành, gây đau đớn. Bởi vậy, cháu bé có bệnh cần phải được cách ly cẩn thận với các anh trai và cả bố nữa. Hiện tượng viêm tinh hoàn ít khi ảnh hưởng tới khả năng sinh sản, không như nhiều người vẫn nghĩ trước đây.

Trong thời gian bệnh, khi còn sốt thì cháu bé còn cần phải nằm nghỉ tại giường. Nhiều khi cháu hết đau ở một bên tai, cháu đã hết sốt, tưởng đã khỏi nhưng bệnh lại bắt đầu nổi lên ở BÊN TAI KIA.

Săn sóc các cháu bị quai bị, nên cho ăn thức ăn lỏng, tránh phải nhai nhiều. Ðể đỡ đau bác sĩ có thể cho các cháu dùng aspirin theo hướng dẫn và chườm khăn nóng lên trên chỗ phồng.

Các cháu có thể tiêm phòng bệnh quai bị kết hợp với việc phòng bệnh sởi và đậu mùa. Các cháu khỏi bệnh chỉ nên trở lại trường khi đã hỏi ý kiến của bác sĩ.

202. Bệnh thấp.

Nhiều người nghĩ rằng chỉ có người già mới bị bệnh thấp. Không đúng. Trẻ em cũng bị bệnh này.

Thường thấy nhất là bệnh thấp khớp cấp, bệnh này thường ÍT GẶP Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI. Ở CÁC CHÁU CÓ bệnh thấp, các khớp bị tấy đỏ, đau, sờ vào chỗ đau thấy nóng. Mỗi lần bị bệnh, lâu vài ngày có biến chứng đáng ngại nhất là biến chứng vào tim.

Bệnh này do vi trùng liên cầu trùng (streptocoque) gây ra, có thể là sau một lần viêm họng.

Thuốc kháng sinh péniciline rất có tác dụng với bệnh này.

Bệnh thấp khớp mạn tính thường có các triệu chứng như: sốt cao, có nốt đỏ dưới da vì các mạch máu vỡ, có hiện tượng tràn dịch ở MÀNG TIM. BÁC SĨ TRỊ BỆNH NÀY BẰNG thuốc có cortisone.

Còn một dạng khác của bệnh thấp trẻ em gần giống với bệnh THẤP KHỚP Ở NGƯỜI LỚN: CÁC khớp bị tổn thương một cách dần dần và từng đợt một dần tới sự cứng khớp và thành tật.

203. Bệnh uốn ván.

Chứng bệnh nguy hiểm chết người này may thay đã có thuốc PHÒNG CÓ HIỆU QUẢ 100%.

Ở Việt Nam 90% trẻ em đã được tiêm phòng bệnh uốn ván.

NHỮNG VI KHUẨN GÂY BỆNH UỐN VÁN Ở khắp mọi nơi: trong đất, bụi, phân người và súc vật… Bởi vậy, khả năng nhiễm bệnh đối với mọi người đều rất lớn, nhất là ở THÔN QUÊ. VẾT THƯƠNG KHÔNG CẦN SÂU hay rộng, cũng vẫn có thể nhiễm trùng uốn ván.

Phần lớn trường hợp chỉ vì giẫm phải một cái đinh rỉ, mắc chân vào một sợi dây kẽm gai, bị một cái dằm đâm vào dưới móng tay, bị xước tay vì một đồ chơi cũ đã mấy ngày không đụng đến…

Vết đốt của côn trùng, vết răng của chó, mèo, đều có thể là nơi xâm nhập của loại vi khuẩn uốn ván.

Bởi vậy, mọi vết thương dù to hay nhỏ cũng cần phải rửa sạch và sát trùng. Khi cháu nhỏ bị thương, bác sĩ sẽ quyết định có phải tiêm phòng thêm cho cháu nữa không, dù cháu đã vừa qua một đợt tiêm phòng rồi. Ðối với các cháu chưa tiêm phòng, phải tiêm phòng và theo dõi. Nếu CẦN, PHẢI TIÊM CHO ÐỦ LIỀU.

TRIỆU CHỨNG BỆNH UỐN VÁN

– Từ 5 tới 14 ngày sau khi bị nhiễm bệnh (sau khi giẫm phải đinh), đứa trẻ bị cứng bắp THỊT, ÐẶC BỊỆT LÀ Ở CỔ và hàm. Nạn nhân toát mồ hôi, càng ngày càng khó mở miệng, khó nuốt, đau đầu, đau chân tay, người run rảy, hơi sốt vật vã rồi bị co giật hoặc uốn cong người. Hiện tượng các bắp thịt bị co cứng lan ra toàn thân, cần phải chuyển ngay cháu bé tới trung tâm cấp cứu chuẩn về uốn ván.

204. Bệnh cơ.

Bệnh cơ có tính di truyền thường hay gặp ở CÁC CHÁU TRAI TỪ 4 TỚI 5 TUỔI. DẤU hiệu làm cho phải chú ý đến bệnh là: khi cháu ngồi xổm thì rất khó đứng lên.

Nguyên nhân bệnh chưa được xác định. Hiện nay, người ta đã đề ra được các phương pháp để ngăn bệnh tiến triển và bịết trước căn bệnh của Bé bằng cách xét nghiệm mẫu máu từ lúc mới sinh.

205. Chứng đột tử hay cái chết bất ngờ chưa giải thích được của trẻ sơ sinh.

Những trường hợp trẻ em bị chết bất ngờ thường xảy ra trong thời gian dưới một năm tuổi. Nguyên nhân của hiện tượng này vẫn chưa xác định được rõ ràng, nhưng hậu quả chắc chắn là một nỗi buồn vô hạn cho bố mẹ của Bé và cũng là niềm day dứt khôn nguôi cho nhiều thầy thuốc.

Chết bất ngờ được định nghĩa là cái chết tới với một cháu bé đang mạnh khỏe, mà không tìm được nguyên nhân xác đáng. Nhiều bố mẹ bỗng thấy con mình mất sắc, người mềm nhũn, đã tắt thở từ bao giờ không ai hay biết ngay trong nôi của Bé. Một số ít trường hợp, Bé lại hồi tỉnh lại khi được cấp cứu bằng các phương pháp phục hồi sự hoạt động của tim và sự hô hấp.

Hiện nay, ngành y học mới tạm dự đoán như sau: Khi ngủ, nhịp thở của các cháu không đều, có những khoảng thời gian ngưng thở quá lâu giữa 2 lần hít vào (lâu quá 20 giây) làm suy yếu cả hoạt động của tim. Hoặc trong bộ máy tiêu hóa, có thể xảy ra sự lưu thông ngược chiều của các chất từ dạ dày về ống thực quản, gây ra nghẹn thở.

Những dược phẩm có tính chất an thần, gây ngủ cũng có thể là nguyên nhân, vì ảnh hưởng tới sự hô hấp.

Từ những dự đoán trên, người ta đã chế ra những máy canh chừng các cháu bé khi ngủ. Máy được đặt tại giường của cháu bé; khi thấy thời gian ngưng thở của cháu bé lúc ngủ lâu quá mức cho phép, máy tự động phát hiệu báo động cho người lớn biết.

Hiện tượng chết đột ngột của các cháu bé hiện nay vẫn còn là một đề tài để các bác sĩ tại nhiều nước quan tâm, nghiên cứu.

TAI NẠN

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

IX. TAI NẠN

166. Tai nạn.

Bạn có thể là người chứng kiến, hoặc chính bạn có một người thân là nạn nhân của một tai nạn giao thông. Sau đây là những việc cần phải làm:

Ðặt nạn nhân nằm ngửa, đầu nghiêng sang một bên (trường hợp bị nôn mửa). Yêu cầu mọi người giãn ra, báo cho các cơ quan có chức năng như cảnh sát, bác sĩ và cho họ biết rõ ràng nạn nhãn bị thương như thế nào, nhẹ hay nặng; nói rõ nơi xảy ra tai nạn (quận phường, số nhà v.v.. để xe cấp cứu biết đường tới cho nhanh). Nếu bạn muốn biết nạn nhân còn THỞ HAY KHÔNG, HÃY ÐỂ MỘT CHIẾC GƯƠNG SOI NHỎ Ở trước miệng và mũi nạn nhân. Nếu nạn nhân còn thở, mặt gương sẽ bị hơi nước làm mờ. Nếu nạn nhân không còn thở, phải thực hiện ngay phương pháp cấp cứu thở nhân tạo (coi lại phần cấp cứu thở nhân tạo và phần bị thương chảy máu). Phải cởi các khuy áo, quần, và nới lỏng thất lưng.

Bản thân mình phải giữ hết sức bình tĩnh, nhất là nếu nạn nhân là một đứa bé. Thái độ hoảng hốt, thiếu bình tĩnh của bạn có thể ảnh hưởng rất nhiều tới tinh thần và trạng thái của cháu bé.

ÐIỀU KHÔNG NÊN LÀM

– Không nên di chuyển nạn nhân trừ trường hợp bắt buộc. Việc gửi nạn nhân vào bất kỳ một cái xe nào dù xe chật, hẹp, buộc nạn nhân phải ngồi, nằm ở TƯ THẾ KHÔNG THÍCH HỢP, ÐỂ ÐƯA NHANH TỚI NƠI CẤP CỨU CÓ THỂ LÀ VIỆC LÀM KÉM KHÔN NGOAN NHấT !

Nên đặt nạn nhân nằm dài bên lề đường để đợi xe cứu thương tới (nếu đã liên lạc được).

Nếu bệnh nhân bị ngất, không được cho bệnh nhân uống bất kỳ loại nước gì.

167. Va chạm, ngất, các trường hợp ngã.

Nếu cháu ngã rồi bất tỉnh, nôn ói, có máu chảy ra ở miệng HOẶC Ở MŨI, Ở TAI, TAY CHÂN CO GIẬT KHÁC THƯỜNG PHẢI đưa ngay tới phòng cấp cứu. Trong khi di chuyển cháu, hoặc chờ đợi bác sĩ tới, NHỚ :

– Tránh không di động cháu.

– Ðặt nằm thẳng người đầu hơi thấp hơn chân, nghiêng mặt về một bên để nếu cháu nôn, ói hay bị chảy máu mũi, miệng chất lỏng không vào được trong họng để xuống phổi;

– Không được cho cháu uống hay ăn bất cứ thứ gì.

* GẪY XƯƠNG – Nếu đứa trẻ ngã thấy không điều khiển được những cử động tay, hoặc chân nữa thì cháu có thể đã bị trẹo khớp hoặc gãy xương. Nắn nhẹ cánh tay, khớp tay, khuỷu tay, đùi, chân bác sĩ có thể xác định được chỗ gãy ở điểm cháu kêu đau nhiều. Nhưng, muốn xác định rõ ràng, chính xác phải đưa cháu đi chụp X-quang.

Hiện tượng gãy xương khi ngã nhẹ chứng tỏ xương cháu không chắc (có thể vì cơ thể thiếu chất Canxi).

* NGÃ ĐẬP ĐẦU XUỐNG TRƯỚC – Nếu sau khi ngã bị va mạnh vào đầu, cháu bị ngất dù trong thời gian ngắn cũng phải đưa tới bệnh viện cấp cứu ngay. Dù nhìn bên ngoài, chỗ va chạm không có dấu hiệu gì là vết thương nặng, nhưng bác sĩ vẫn có thể yêu cầu phải đi chụp X-quang phần sọ não nếu thấy cần thiết.

Trong thời gian tiếp theo, người săn sóc các cháu phải chú ý theo dõi xem có các hiện tượng như: nôn ói, sốt, co giật, sắc mặt tái dần, giấc ngủ không yên hoặc ngủ mê mệt không?

Trong suốt 24 giờ của ngày đầu, cần phải theo dõi liên tục, thỉnh thoảng lại gọi xem cháu có tỉnh lại không vì nếu có hiện tượng chảy máu trong não, cháu có thể ngủ thiếp đi rồi chuyển qua trạng thái hôn mê mà người săn sóc không hay biết.

Một số triệu chứng đáng lo ngại khác là:

– Sự thay đổi thái độ đột ngột: Hoặc cháu tự nhiên tỏ ra bàng quan với tất cả chung quanh, hoặc trái lại, tự nhiên vật vã, kích động, mắt nhìn bỗng bị rối loạn, có khi nhìn như người lác mắt.

Cần phải mời bác sĩ tới bên giường bệnh ngay để nhận ÐỊNH SÁT HƠN NỮA TÌNH TRẠNG BỆNH CỦA CHÁU.

CHÁU NGÃ VÀO VẬT NHỌN

Nếu vật nhọn đâm vào chân, tay thì chỉ là vết thương chảy máu cần phải cầm máu và sát trùng vết thương.

Nếu vật đâm vào đầu, bụng, lưng : cần phải có bác sĩ chuyên môn.

Nếu vật đâm vào bụng, trong khi bác sĩ chưa đến, hãy cho cháu bé tiểu tiện và nhận xét xem nước tiểu của cháu có đỏ không để báo cáo cho bác sĩ biết. Hiện tượng cháu không tiểu tiện được cũng cần phải nói rõ.

Vật nhọn có thể làm thương tổn thận, lá lách, ruột xuyên qua thành bụng. Do đó, cần phải xác định các trường hợp trên bằng phương PHÁP SIÊU ÂM VÙNG BỤNG.

CHÁU BỊ THƯƠNG Ở CẰM, Ở MẶT

– Rửa vết thương bằng nước sạch để làm trôi các chất bẩn như đất, cát. Sau đó, rửa bằng thuốc sát trùng.

Nếu vết thương lớn, vết sẹo hình thành sau này ở MẶT CHÁU SẼ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ THẨM mỹ của nét mặt. Bởi vậy, phải đưa cháu vào bệnh viện để khâu ghép da, LÀM CHO VẾT SẸO SAU NÀY ÐỠ XẤU HƠN.

CHÁU BỊ THÂM TÍM HOẶC NỔI U

– Những vết tím và cục u sẽ tự khỏi sau vài ngày. Tuy vậy, có thể chườm nước lạnh vào chỗ u để giảm đau và băng nhẹ chỗ da bị xước để tránh va chạm.

168. Vết thương.

Từ tuổi biết đi trẻ em thường bị những vết thương sây sát do đụng chạm mạnh và té ngã. Cần phải chú ý xem những vết thương đó to HAY NHỎ, NÔNG HAY SÂU, CHẢY MÁU NHIỀU HAY ÍT VÀ Ở chỗ nào, có dính đất cát hoặc vật gì trong vết thương không? Không nên coi thường bất kỳ vết sây sát nào của trẻ em, dù là một vết chích nhỏ. Vết thương cần được rửa sạch ngay bằng xà phòng rồi bôi thuốc sát trùng như thuốc đỏ Mercurochrome chẳng hạn. Sau cùng, phải băng lại. Vết thương nào cũng có thể dẫn tới bệnh uốn ván. Bởi vậy, cần cho các cháu tiêm phòng bệnh uốn ván.

Vết thương sâu hoặc nông nhưng rộng (vài cm), cần phải đưa cháu tới bác sĩ để rửa sát trùng và khâu lại nhất là những vết thương ở MẶT, NẾU KHÔNG KHÁU, KHI LIỀN TỰ NHIÊN sẽ để lại những vết sẹo kém thẩm mỹ sau này.

Nếu vết thương chảy máu, dù chảy máu hơi nhiều cũng chỉ nên ấn xuống để cầm máu, rồi băng lại.

Ngày nay, người ta hết sức tránh việc làm ga rô (buộc chặt để cầm máu).

169. Chảy máu vì vết thương

VẾT THƯƠNG NHẸ

– Cháu bé bị đứt tay, bị ngã sây sát, bị cào xước v.v… có vết thương chảy máu. Bạn hãy rửa cho cháu bằng xà phòng, nếu có đất, cát dính vào vết thương. Sau đó, bôi thuốc đỏ (Mercurochrome), rồi băng lại bằng loại băng dính có sẵn cả gạc, có bán ở hiệu thuốc.

Phải băng nhẹ tay, hơi lỏng – không chặt quá – vì vết thương cần được “thở” và máu dưới vết thương cần được lưu thông trong mạch.

Khi cháu nhỏ đứt tay chảy máu, bạn có thể bóp hay ấn lên vết thương một lát, máu sẽ ngưng chảy rồi bôi thuốc đỏ và băng lại.

VẾT THƯƠNG NẶNG

– Cháu bé bị thương sâu vì vết dao hay kính vỡ và bị chảy máu nhiều. Bạn hãy làm cho vết thương lộ ra bằng cách cởi bỏ hoặc cắt chỗ quần áo đụng vào vết thương. Nếu có những mảnh kim loại, mảnh kính, sỏi cát chung quanh vết thương, hãy lau sạch hoặc gắp bỏ. Không cần đụng tới vết thương vội, cũng chưa cần rửa vết thương.

Buộc vết thương lại bằng một lớp băng dày hoặc đặt lên vết thương một cái khăn tay sạch rồi ấn tay lên vết thương trong vòng 5 phút. Lúc này, việc trước tiên là ngăn sự chảy máu. Việc rửa sạch hoặc sát trùng vết thương sẽ lo sau.

Xác định được một động mạch hay một tĩnh mạch bị đứt là việc khó. Tuy vậy, cũng có thể nhận xét như sau:

Tĩnh mạch bị đứt: máu chảy thành lớp, màu đỏ sẫm.

Ðộng mạch bị đứt: máu phụt ra từng đợt, màu đỏ tươi.

Nếu sau khi buộc vết thương, máu vấn không ngừng chảy, bạn hãy tìm đường động mạch của cháu bé và ấn mạnh ngón tay xuống một điểm CỦA MẠCH Ở PHÍA TRÊN VẾT thương (giữa đường từ tim tới vết thương) trong khi đưa cháu tới ngay nơi cấp cứu v.v..

Không nên buộc ga rô, nếu bạn chưa biết phương pháp.

CHẢY MÁU MŨI

– Khi một cháu bé bi “CHẢY MÁU CAM”, TỨC LÀ CHẢY MÁU Ở mũi ra, bạn hãy cho một miếng gạc hoặc bông làm ngưng chảy máu (CÓ BÁN Ở HIỆU THUỐC) VÀO bên lỗ mũi chảy máu, và lấy ngón tay đè cánh mũi bị chảy máu lại.

Nếu máu vẫn tiếp tục chảy, phải đưa tới bác sĩ.

Một đứa trẻ hay bị chảy máu mũi có thể vì các mạch máu ở MÀNG MŨI BỊ GIÃN NỞ HOẶC CÓ RỐI LOẠN đông máu. Bởi vậy, cần cho bác sĩ biết.

170. Trẻ em nuốt phải vật lạ.

Do bản năng cần ăn, các trẻ em hay đưa vào miệng những vật các em có thể lấy và cầm trong tay như một hòn bi, một đồng xu chẳng hạn. Những vật như thế có thể làm tắc đường hô hấp và làm các cháu bị ngạt thở. (Xem Ngạt thở).

Nếu vật lọt được xuống dạ dày thì là một điều may mắn. NÓ SẼ DẦN DẦN ÐI THEO đường tiêu hóa để cuối cùng được tống ra ngoài theo phân. Bác sĩ không cần phải can thiệp bằng phẫu thuật mà chỉ cần theo dõi sự di chuyển của vật trong người các cháu bằng phương pháp rọi X-quang.

Nếu vật vừa nhỏ, tròn, nhẵn, thì sẽ theo phân ra ngoài sau 1 – 2 ngày.

CÓ 2 TRƯỜNG hợp đặc biệt cần chú ý :

– Cháu nuốt vật nhọn như đinh, kẹp tóc, kẹp giấy v.v… Những đầu nhọn đâm vào thành ruột nên không di chuyển được Trường hợp này phải phẫu thuật để lấy ra.

– Cháu nuốt hộp hay lọ nhỏ có chứa chất độc hay chất tấy rửa có thể tác hại tới bộ máy tiêu hóa, nhất là dạ dày, nên phải cấp tốc đưa cháu tới bệnh viện.

171 . Bé uống nhầm rượu.

Nếu trẻ em uống nhầm một lượng rượu dù là một, hai ly nhỏ, cũng cần đưa tới bác sĩ hoặc tới bệnh viện ngay. Rượu có thể làm sụt lượng đường trong máu và gây hôn mê. Tuổi của các cháu càng nhỏ, hậu quả càng nghiêm trọng.

Nếu bạn nhỏ mũi nhầm cho các cháu, đáng lẽ nhỏ thuốc nhỏ mũi lại hút thuốc từ một lọ cồn, các cháu sẽ khóc ré lên ngay. Hãy giữ bình tĩnh và lấy nước sạch nhỏ tiếp vào cho cháu, cất để làm loãng rượu đi và rửa niêm mạc mũi.

Không nên dùng rượu hay cồn để xoa bóp cho trẻ em vì lớp da mỏng của các cháu rất dễ hấp thụ rượu. Chúng ta cũng nên chú ý rằng có một số thuốc đánh răng chứa một độ rượu không thích hợp với trẻ em, không nên dùng cho các cháu.

172. Ngộ độc

Nếu cháu bé uống phải một chất độc gì (chất tẩy rửa, THUỐC…) BẠN PHẢI LÀM GÌ?

HÃY BÌNH TĨNH

– Gọi ngay điện thoại tới phòng cấp cứu hoặc đưa ngay cháu tới để các bác sĩ rửa dạ dày, làm tỉnh lại… nếu cần, hoặc quyết định gửi cháu bé tới những phòng chuyên môn.

– Hãy chuẩn bi trả lời cho thật chính xác về các câu hỏi:

* Cháu bé đã uống hoặc ăn phải chất gì? Nhiều hay ít? Bao nhiêu?

* Lúc nào?

* Cháu đã có những triệu chứng gì của việc ngộ độc?

Muốn trả lời được các câu hỏi trên, bạn phải quan sát chỗ của cháu bé từ trên giường tới dưới đất, các đồ vật xung quanh, cả trong túi áo, quần của cháu nữa. Mang tất cả các vật gì bạn nghi ngờ tới bệnh VIỆN ÐỂ ÐƯA CHO BÁC SĨ.

KHÔNG NÊN CHO CHÁU BÉ UỐNG THÊM THỨ GÌ KỂ CẢ SỮA.

KHÔNG NÊN CỐ BẮT CHÁU NÔN RA, NẾU CHÁU KHÔNG LÀM ÐƯỢC.

NGUYÊN NHÂN

– Nguyên nhân sự ngộ độc của các cháu là do lỗi các người lớn thường để cẩu thả các loại chất trong tầm tay của các cháu.

– Thuốc tẩy rửa.

– Dược phẩm.

– Các thứ hóa phẩm trang sức: nước hoa, sáp môi v.v…

TẠI SAO CẦN ÐƯA CHÁU BÉ TỚI BÃC SĨ?

– CÓ NGƯỜI NÓI:

“Tôi không biết con tôi đã mở hộp thuốc aspirin hay hộp thuốc ngủ, và đã uống chưa. Có thể nó chỉ mút có một viên, nhưng cũng có THỂ LÀ NHIỀU HƠN. VẬY PHẢI LÀM THẾ NÀO?”

TRẢ LỜI : Nếu cháu chỉ mút có một viên aspirin thì bạn chỉ cần cho cháu uống nhiều nước đường là đủ. Chắc chắn cháu không việc gì cả. Nhưng, nếu không biết chắc chắn số lượng cháu đã uống phải thì cần đưa cháu tới bác sĩ ngay.

173. Cảm nóng.

Trẻ em, nhất là eác cháu mới sinh, rất nhạy cảm với nhiệt. Ngồi trong phòng nóng quá, cháu cũng bị cảm nóng, vì cơ thể bi bốc hơi nước quá mức.

Thoạt đầu cơ thể cháu toát mồ hôi để chống lại cái nóng. Nếu sau đó, cháu không được uống nước để bù đắp lại lượng nước đã mất, cơ thể không toát mồ hôi nữa và thân nhiệt bắt đầu tăng lên.

Hiện tượng cảm nóng như vậy là do ảnh hưởng của nơi ở, PHÒNG Ở nóng hoặc kín quá như trường hợp cháu bé ngồi trong xe hơi ÐÓNG KÍN CỬA Ở NGOÀI NẮNG chẳng hạn. Nhưng cũng có thể xảy ra trong mùa lạnh, khi cháu mặc nhiều quần áo quá và căn phòng lại được sưởi quá ấm.

Trong mọi trường hợp, việc cho cháu uống nhiều nước là cần THIẾT.

TRIỆU CHỨNG CỦA CHỨNG CẢM NÓNG

– Thoạt đầu cháu bé toát nhiều mồ hôi, vật vã, đòi uống vì khát. Sau đó không toát mồ hôi nữa, thân nhiệt có thể lên trên 40oC.

LÀM THẾ NÀO KHI BÉ CẢM NÓNG
?

Làm cho bé mát, tắm nước có nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt của bé từ 2 – 3oC, chườm lạnh hoặc quấn tã tẩm nước mát. Cho uống thuốc chống sốt như aspirin, acetamol với nhiều nước mát.

Nếu thân nhiệt cháu vẫn không giảm, cần đưa ngay cháu đi CẤP CỨU , VÌ CHỨNG CẢM NÓNG CŨNG RẤT NGUY HIỂM.

ĐỂ TRÁNH HIỆN TƯỢNG CẢM NÓNG , CHỦ YẾU CẦN PHẢI ĐỀ PHÒNG như: không cho các cháu mặc nhiều quần áo quá, luôn chú ý cho các cháu uống đủ nước.

174. Cảm nắng.

CẢM NẮNG CÓ THỂ COI NHƯ HIỆN TƯỢNG BỎNG cấp 1, cấp 2 với các triệu chứng: thân nhiệt tăng, mạch nhanh, da nóng và khô (sau đó vài giờ có thể đỏ lên), không có mồ hôi, nôn ói và có thể ngất.

Diện tích cơ thể bị tác dụng bởi nắng càng rộng thì nguy cơ càng nặng. Một cháu bé bị say nắng chiếu vào mặt có thể bị nguy tới tính mạng.

Nếu diện tích da bị tác dụng của nắng trên 5% thì bác sĩ phải đưa tới phòng cấp cứu.

(Xem thêm Bảng diện tích da trên cơ thể, mục B6 về bỏng).

175. BỊ CÔN TRÙNG CHÍCH.

BỊ ONG, TÒ VÒ ÐỐT

– Nhiều bộ phận của cơ thể rất nhạy cảm với nọc của loài ong nên rất nhức nhối.

Chích người, bao giờ ong cũng để lại ngòi. Bởi vậy, phải tìm cách lấy cái ngòi này ra, rồi rửa chỗ bị chích bằng nước pha giấm, chườm nước đá. Nọc ong có thể làm chỗ da bị chích tấy đỏ, đau rát trong vài ngày.

Nếu bị ong chích nhiều chỗ – nhất là ở cổ , ở miệng các cháu nhỏ có thể nôn ói, nhịp tim tăng, khó thở, toàn thân bị phù nề, cổ họng bị phù, rối loại tuần toàn, nhiều khi nguy hiểm tới tính mạng. Bởi vậy, khi thấy một cháu nhỏ bị ong đốt ở VÙNG MIỆNG VÀ CỔ, CẦN ÐƯA CHÁU TỚI bệnh viện để đề phòng những biến chứng có thể xảy ra.

BỊ BỌ CỎ ÐỐT

– Cuối mùa hè, THƯỜNG CÓ MỘT SỐ LOÀI BỌ Ở cỏ. Các trẻ nhỏ chơi đùa trên cỏ, dễ bị chúng đốt, làm da phồng đỏ, ngứa. Nên bôi lên da các cháu loại dung dịch chống ngứa thường BÁN Ở CÁC HIỆU THUỐC. CŨNG có cả những pommát bôi trước vào da để chồng loài bọ cỏ.

BỊ NHỆN ÐỐT

– Vết chích của nhện thường làm da phồng lên, đỏ và nhức. Ðôi khi gây chóng mặt, sốt nhưng không nguy hiểm. Chỉ cần rửa sạch chỗ bị chích và chườm nước đá. NẾU CẦN, UỐNG ASPIRIN THEO CHỈ ÐỊNH CỦA BÁC SĨ.

BỊ MUỖI ÐỐT

– Nếu bị nhiều muỗi đốt, các cháu nhỏ cựa quậy, gãi và có thể tự làm nhiễm trùng da, gây sốt. Nên rửa những nết muỗi đốt bằng xà phòng có tính a xít hay nước giấm loãng. Bôi cho các cháu các dung dịch chống ngứa bán ở HIỆU THUỐC. ĐỂ CHỐNG MUỖI, CÓ THỂ dùng các loại tinh dầu chanh hoặc cỏ roi ngựa, bôi lên những chỗ da không có quần áo che.

RUỒI TRÂU

– CÓ LOẠI RUỒI LỚN – RUỒI TRÂU – CŨNG ÐỐT và hút máu người. Vết đốt gây đau nhức, cần được lau rửa bằng nước giấm. Nếu các cháu bé đau nhiều, cho cháu uống aspirin để giảm đau, theo chỉ định của bác sĩ.

176. Bị bọ ve đốt.

NHỮNG LOÀI BỌ, VE Ở CHÓ, Ở TRONG cỏ, bụi rậm có thể gây cho người một số bệnh, nhất là vào mùa hè chúng ta HAY ÐI CHÂN ÐẤT TRÊN CỎ, VÀO CÁC BỤI CÂY. Có nhiều bệnh sốt do loài bọ gây ra. Cơn sốt kéo dài kèm theo hiện tượng mẩn đỏ khắp người. Ðôi khi có cả những mảng da mầu đen. Người ta thường dùng thuốc kháng sinh để chữa trị.

Loài bọ, ve cũng có thể gây ra bệnh Lyme, một thứ bệnh có những biểu hiện mẩn đỏ, liệt mặt và đau các khớp. Ðể chữa trị, cũng dùng thuốc kháng sinh.

177. Bị súc vật cắn

VẾT CẮN CỦA CHÓ, MÈO

– Cần phải rửa sạch vết cắn bằng thuốc sát trùng rồi cho cháu tới bác sĩ để uống thuốc kháng sinh hoặc nếu cần, phải tiêm thuốc đề phòng bệnh dại.

Phải đưa con chó đã cắn người tới sở thú y để kiểm tra VÀ THEO DÕI XEM NÓ CÓ BỊ BỆNH DẠI KHÔNG.

VẾT RẮN CẮN

– Chỉ có loài rắn độc mới nguy hiểm. Thường, rắn hay cắn vào tay vào chân người. Mới đầu, vết cắn không gây đau nhiều và dễ nhận thấy 2 vết răng cách nhau 6-8mm. Chung quanh vết cắn thường có một vùng tụ máu dưới da. Mầu của điểm này biến đổi dần từ đỏ sang tím xanh. Vết cắn càng lúc càng đau, tay hoặc chân bị phù to dần, trở thành trắng nhợt với nhiều điểm tụ máu.

Những phản ứng của cơ thể mỗi người, mỗi khác: rối loạn tiêu hóa, đau bụng, nôn ói, sốt hoặc lạnh toàn thân, nhịp tim tăng nhanh tới mức trầm trọng, toàn người bị “sốc”.

Những việc trước đây người ta thường làm như chườm lạnh vào vết thương, hút nọc độc ra, buộc ga rô thì ngày nay không còn được khuyến khích nữa.

Việc tiêm thuốc chống nọc độc cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau vì thường cơ thể cũng không chịu đựng được thuốc. Tốt nhất là làm các việc sau: Rửa sạch vết thương và đưa gấp nạn nhân tới bệnh viện để tiêm thuốc chống uốn ván.

Bác sĩ sẽ quyết định cần phải làm gì tiếp theo.

178. Bị ngã xuống nước.

Khi vớt cháu bé bị ngã xuống nước lên, nếu cháu không còn thở thì chưa nên cố gắng làm cho nước ra khỏi phổi mà phải làm ngay động tác cấp cứu hà hơi thổi ngạt đã. Nếu kịp thời, cháu có thể thở lại ngay nên đưa ngay cháu tới bệnh viện.

Nếu tim cháu ngừng đập, thì trong khi một người thực hiện hô hấp nhân tạo, một người khác thực hiện cách xoa bóp tim ngoài lồng ngực. Trong trường hợp không có người phụ giúp, phải vừa làm hô hấp nhân tạo, vừa ấn tay theo nhịp thở lên xương ức, mỗi khi ta hà hơi vào miệng cháu.

Trong thời gian đó, nhờ người đi báo bác sĩ, hoặc gọi tổ cấp cứu người thường trực bên bãi biển v..v..

Ðể các cháu sau này chóng biết bơi, nên cho các cháu bé làm quen với nước từ nhỏ nhưng không được rời mắt khỏi Bé, dù chỉ cho Bé TẮM TRONG CHẬU TẮM Ở NHÀ.

Khi cho cháu bé vào nước, phải cho từ từ nhất là sau khi vừa cho cháu phơi nắng.

179. Chứng ngất khi xuống nước

Có nhiều người – cả người lớn lẫn trẻ em vừa xuống nước hồ; ao, biển để tắm, bỗng ngất xỉu và bị chìm hoặc nước cuốn đi luôn. Nếu không được vớt ngay thì rất nguy tới. tính mạng. Nguyên nhân của hiện tượng này chưa được xác định nhưng người ta cho rằng đó là do cơ thể những người đó không chịu được sự thay đổi nhiệt độ giữa không khí và nước.

Bởi vậy, chúng ta không nên tắm nắng lâu quá trước khi xuống nước. Và, khi xuống nước, nên xuống từ từ để khỏi gây những cảm giác đột ngột về nhiệt độ, nhất là đối với trẻ em.

180. Bị điện giật.

Nếu cháu bé cho tay vào chốt điện và không rút được tay ra, không được kéo cháu ra mà phải đi ngắt cầu dao điện.

Nếu cháu đụng vào một dây điện, phải gạt dây ra bằng một cái gậy gỗ hoặc một vật cách điện.

Nếu cháu bé không còn thở nữa, phải thực hiện ngay phương pháp hô hấp nhân tạo và gọi cấp cứu.

181. Vết cào.

NHIỀU CHÁU BÉ CÓ NHỮNG VẾT CÀO Ở mặt do chính những bàn tay xinh xắn của mình tạo nên. ÐÓ LÀ NHỮNG ÐỘNG TÁC TỰ NHIÊN NHẰM THĂM thú và tìm hiểu xem cơ thể của mình thế nào. Ðể tránh những vệt xước như vậy, bạn có thể cắt móng tay cho Bé (lúc Bé ngủ dễ cắt hơn). Vết xước do móng tay Bé tạo ra là những vết xước lành không có gì nguy hiểm, sẽ tự khỏi và mất dấu vết trong một vài ngày.

182. Vết mèo cào.

Những vết xước do mèo cào có thể thành bệnh do một loại vi trùng hoặc vi rút gây ra. Thời gian nung bệnh từ 10 tới 30 ngày. Vùng bị cào sẽ nổi hạch, CÓ THỂ CÓ MỦ. THÍ DỤ, NẾU BÉ BỊ CÀO Ở CÁNH TAY, HẠCH SẼ NỔI LÊN Ở nách. Hạch nổi lâu từ một tới ba tháng. Nếu cho Bé uống thuốc kháng sinh từ sớm, có thể ngăn được trạng thái hạch có mủ. Bằng không, sẽ phải chích hạch cho Bé.

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.