" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

NHỮNG HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHOẺ

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

VIII. NHỮNG HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHOẺ

129. Những cơn khó chịu của trẻ em.

Ngày nay, người ta hay gộp chung một cụm từ ít nhiều mơ hồ “những cơn khó chịu của trẻ em”. Những hiện tượng rối loạn xảy ra đột ngột như: tím tái đột ngột ngừng thở, chân tay mềm nhũn, ngất đi hoặc lên cơn co giật.

Những hiện tượng trên xảy ra trong một thời gian ngắn – vài phút hay vài giày – và sẽ qua đi khi cháu bé được săn sóc (lay người, vuốt ngực, tay, chân…) nhưng rồi lại bị trở lại, và có thể để lại các di chứng.

Nguyên nhân thì nhiều như: bị rối loạn tiêu hóa, tim mạch hô hấp hoặc bị nghẹn thở.

Bác sĩ phải tìm được nguyên nhân mới đề ra được các phương pháp chữa trị hữu hiệu, hoặc các phương pháp phòng bệnh.

130. Tiếng khóc của Bé.

Khi Bé chưa biết nói thì tiếng khóc của Bé là phương tiện thông tin với người lớn về trạng thái của mình, đang khó chịu hay dễ chịu, đang cần gì, muốn gì, đang đau hay sợ…

Do đó, người lớn cần hiểu tiếng khóc của Bé muốn diễn ÐẠT ÐIỀU GÌ?

BÉ ÐÓI : khóc to, lâu.

BÉ ÐAU: khóc ré lên, to nhỏ tùy theo BI ÐAU ÍT HAY NHIỀU.

BÉ ÐAU RÂM RAN, KHÓ CHỊU : TIẾNG KHÓC ÐỀU ÐỀU, RẶN RA, dai dẳng.

BÉ QUẤY, LÀM NŨNG : khóc nức nở.

Các bà mẹ là những người dễ thông hiểu tiếng khóc của con nhất và còn chú ý cả tới những nét mặt, động tác tay chân, cách nằm, quẫy, nhịp thở v.v…. của Bé nữa. Thí dụ Bé khóc đúng giờ vào mỗi buổi chiều là cần đi ị. Bất chợt ré lên hay rên khẽ: Bé bị đau tai hoặc đau bụng.

131. Cơn khóc.

Trẻ em thường có những cơn gào, cơn khóc, đến nỗi mặt xanh đi vì phải nhịn thở. Có cháu có thể ngất đi một lát. Tuy các hiện tượng này dễ gây xúc động cho người lớn, nhưng không có gì nguy hiểm.

Các cháu có tính hay hờn, dỗi thường có những cơn như thế. Các bác sĩ có thể khuyên bạn cách chữa là: làm thế nào cho các cháu không tin vào kết quả của việc lấy tiếng khóc làm vũ khí để yêu sách người lớn nữa.

132. Mệt.

Mấy tuần nay, sắc mặt của con bạn có vẻ tái nhợt, mắt thâm quầng, nét mệt mỏi. Cháu không chịu chơi, ngậm ngón tay và không chịu ăn. Cháu chỉ muốn nằm dù thân nhiệt không cao, không sốt.

Sự mệt mỏi của cháu có thể là do sự phát triển của cơ thể hoặc vì bị mất ngủ trong những ngày vừa qua do đi ngủ muộn, dậy sớm để tới trường, không ngủ được vì tiếng ồn của ra-đi-ô, ti-vi… Nhưng cũng rất có thể, đó là dấu hiệu của việc cháu “sắp bị bệnh”. Cần cho cháu tới bác sĩ để khám bệnh.

133. Mỏi nhức vì lớn.

Khi đứa trẻ bị đau lâu, đau đi đau lại thì cần phải đi khám bác sĩ. Vì ngoài hiện tượng nhức mỏi vì tuổi lớn, có thể có những nguyên nhân khác như nhức vì bị đau họng chẳng hạn. Khi bị đau vì một chứng bệnh nào đó, thường có các hiện tượng kèm theo như: thân nhiệt tăng, người mệt, sút cân, hay chảy máu cam. Chỗ đau sờ thấy nóng và bị tấy đỏ .

134. Ngủ không yên giấc.

Hiện tượng trẻ em ngủ không đẫy giấc hoặc khó ngủ thường xảy ra trong một thời gian ngắn và không nghiêm trọng. Tuy vậy, đôi khi cũng làm ảnh hưởng tới sức khỏe của các cháu và làm cho gia đình lo lắng, có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như mọc răng, viêm tai, viêm họng, khó thở. Nhiều khi lại do trẻ nóng quá, vì mặc quần áo bó sát mình, hoặc trẻ đái dầm hoặc phòng ngủ sáng quá hay ồn quá.

Ngoài những nguyên nhân trên, số còn lại là những nguyên NHÂN TÂM LÝ.

SỢ HÃI LÀM MẤT NGỦ

– Từ 1 tuổi trở đi, trẻ em thường khó ngủ hơn vì sợ bóng tối, sợ ngủ một mình. Trước khi ngủ, các cháu đòi có người lớn bên cạnh, được ngủ cùng một đồ chơi quen thuộc hoặc được nựng nịu, vuốt ve. Tất cả những sự việc này chứng tỏ cháu đã lớn hơn trước, vì cảm nhận được hiện trạng của mình đối với môi trường chung quanh.

Nếu những đòi hỏi của các cháu xảy ra một cách đột ngột và kéo dài, người lớn cần phải tìm hiểu nguyên nhân.

Có khi chỉ vì cháu không muốn phải nằm trong cái giường có chấn song chung quanh nứa. Hoặc vì cháu hay nằm mơ thấy những cảnh sợ hãi, do cứ đến tối là nghe thấy mẹ khóc sụt sùi vì chuyện bố cháu luôn phải vắng nhà. Một cháu bé khác, mỗi lần đi ngủ là một lần người lớn phải khó nhọc dỗ dành, ép buộc như đánh vật với cháu, nhưng không ai chú ý hiểu tâm lý của cháu, muốn đợi mẹ đi làm về – mẹ cháu làm y tá thường về muộn – và chỉ ngủ yên giấc khi thấy mẹ đã ở nhà. Biết được yêu cầu của các cháu, làm cho các cháu yên tâm sẽ mang lại cho các cháu giấc ngủ ngon.

XÚC ÐỘNG VÀ KÍCH THÍCH GÂY KHÓ NGỦ

– Có nhiều nguyên nhân làm cho các cháu nhỏ khó ngủ buổi tối. Có cháu khó NGỦ VÌ BAN NGÀY ÐÃ NGỦ MỘT GIẤC DÀI Ở NHÀ TRẺ. CÓ CHÁU có thói quen ngủ sớm, nhưng cả ngày bố mẹ vắng nhà, tới buổi tối mới gặp con, nên vui đùa nựng nịu cháu làm cháu quá giấc hoặc vì xúc động, vui mừng quá trước khi ngủ, cũng làm cho cháu khó đi vào giấc ngủ.

Trước giờ ngủ, không nên làm các cháu bị kích thích như cho các cháu tập đi, tập nói, hoặc đòi hỏi quá ở các cháu về những vấn đề sạch sẽ.

Các cháu nhỏ, chưa thích ứng với thời gian làm việc quá DÀI. NẾU CÁC CHÁU PHẢI HỌC QUÁ MỆT Ở TRƯỜNG, ÐẾN TỐI CHÁU CŨNG BỊ KHÓ NGỦ.

DẬY SỚM

– Có nhiều cháu bé có thói quen dậy sớm. Ðể các cháu khỏi quấy trong thời gian chờ bữa ăn sáng nên nghĩ ra việc gì để các cháu làm hoặc giải trí. Khi cháu đi ngủ buổi tối, ÐỂ MỘT SỐ ÐỒ CHƠI Ở BÊN cạnh các cháu. Khi thức dậy, cháu sẽ chơi một mình ngay ở TRONG GIƯỜNG. NẾU CHÁU DẬY SỚM QUÁ, nên cắt bớt các giấc ngủ ban ngày hoặc cho các cháu đi ngủ chậm vào buổi tối.

Những cháu bắt buộc phải dậy sớm cùng bố mẹ – để bố mẹ đưa tới nhà trẻ khi đi làm cần phải được cho ngủ sớm, để đảm bảo thời GIAN NGỦ, NẾU KHÔNG SẼ BỊ ẢNH HƯỚNG TỚI SỨC KHỎE.

NHỮNG LIỀU THUỐC NGỦ

– Như đã nói Ở PHẦN TRÊN, CÁC CHÁU BÉ khó ngủ, khóc đêm làm người lớn vừa lo lắng, vừa mất ngủ lây làm căng thẳng thần kinh của cả nhà. Nhưng nếu biết lo cách đối phó trước, thì nhiều khi rất đơn giản: một bình sữa ấm sửa soạn từ lúc tối, hoặc nhiều khi chỉ cần một ít nước ấm trong bình thôi cũng đủ làm các cháu lại yên trí ngủ tiếp.

Tóm lại, để chữa bệnh khó ngủ cho các cháu, phần lớn trường hợp không cần dùng thuốc. Cần tìm hiểu nguyên nhân và đáp ứng các yêu cầu tâm lý của các cháu là đủ. Bởi vậy, nhiều khi bố mẹ các cháu cần nhờ tới sự giúp đỡ của các bác sĩ chuyên khoa tâm lý về vấn đề này.

135. Run, giật mình.

Các trẻ sơ sinh dễ bị giật mình: co tay chân, run cằm, run người… vì những lý do bình thường (tiếng động, ánh sáng). Trong khi tắm hoặc khi thay tã lót cũng vậy. Hiện tượng này là thường vì hệ thần kinh của cháu còn non mà thôi.

Các cháu lớn hơn, cũng hay giật mình hoặc run người mỗi khi có sự việc gì làm các cháu cảm động.

138. Sốt – Cách hạ sốt.

Chúng ta xác định là cháu bé bị sốt khi nhiệt độ lấy ở hậu môn của cháu cao hơn 37,5oC. Thân nhiệt bình thường của mọi người buổi sáng là 36,5oC và buổi chiều là 37,5oC. Tuy vậy, nếu ta lấy thân nhiệt của một cháu bé đang hoạt động, chạy nhảy, chơi đùa mà không để cho cháu có thời gian nghỉ ngơi thì thân nhiệt của cháu CÓ THỂ LÀ 38OC.

SỐT LÀ GÌ?

Sốt là dấu hiệu của cơ thể đang chống lại một cuộc xâm nhập nào đó từ bên ngoài vào của vi trùng HAY VI RÚT. NHƯNG KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG VẬY. Ở các cháu sơ sinh có thể bị sốt vì ăn sữa đặc quá, vì sưởi nóng quá, vì cơ thể bị mất nước mà không được uống đủ để bù lại, vì PHÒNG NGỦ HAY THỜI TIẾT KHÔ QUÁ V.V…

NÊN LẤY NHIỆT ÐỘ CHO CÁC CHÁU VÀO lÚC NÀO?

Sốt là dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Khi thấy một đứa trẻ không chịu ăn, bàn tay nóng thì việc đầu tiên cần làm là lấy thân nhiệt, (cặp sốt) cho các cháu. Nói chung, khi các cháu có dấu hiệu gì không bình thường, nên cặp sốt để biết thân nhiệt của cháu, nhưng cũng không nên lúc nào cũng cặp sốt và đâm ra lo lắng không đâu vì việc này.

KHI NÀO CẦN ÐƯA CHÁU BÉ TỚI BÁC SĨ?

1 Nếu cháu sốt trên 37,5oC, và mới dưới 6 tháng tuổi.

2. Khi thân nhiệt của cháu từ 39oC trở lên (đối với các cháu lớn).

3. Nếu nhiệt độ của cháu 37oC lúc sáng, 38oC lúc chiều nhưng cứ sốt nhẹ như thế liền 4, 5 ngày rồi.

4. Trong thời gian cháu đang bị bệnh, bỗng thân nhiệt tăng lên. Như vậy là có thể có biến chứng.

5. Bác sĩ đã tới thăm và cho uống thuốc. Nhưng 2, 3 ngày qua rồi mà bệnh vẫn không thuyên giảm.

Tuy vậy, người lớn nên giữ bình tĩnh. Việc chữa trị cần có THỜI GIAN.

CẦN CHÚ Ý TỚI CÁC BIỂU HIỆN GÌ, TRƯỚC KHI ÐƯA CHÁU TỚI BÁC SĨ?

Người săn sóc cháu bé nên chú ý quan sát các biểu hiện bệnh của cháu, để trả lời bác sĩ về những câu hỏi sau:

– Cháu có nôn không? Có ho không?

– Người cháu có nổi lên vết gì không?

– Họng cháu thế nào?

– Lưỡi cháu thế nào?

– Phân cháu có gì khác thường không?

– CHÁU CÓ CHỊU ĂN KHÔNG?

CÓ GÌ LẠ NẾU THÂN NHIỆT CHÁU TĂNG NHANH?

Thân nhiệt của trẻ em dễ tăng nhanh hơn và cao hơn so với người lớn. Bởi vậy không nên vội lo lắng.

Một cháu bé sốt 38oC liền mấy hôm rồi đáng lo hơn là một cháu khác 40oC vì họng đỏ. Có một số cháu dễ có nhiệt ÐỘ CAO HƠN NHỮNG CHÁU KHÁC KHI BỊ SỐT.

CÓ CẦN LÀM CHO NHIỆT ÐỘ CỦA CHÁU BÉ HẠ XUỐNG NGAY KHÔNG?

Nhiều bà mẹ thấy thân nhiệt của con cao, muốn làm sao cho thân nhiệt của cháu hạ xuống ngay vì nghĩ rằng thân nhiệt cao là bệnh, làm cho thân nhiệt xuống là giảm bệnh hay hết bệnh. Thật là một nhận thức sai lầm, nguy hiểm.

Quả thật, sốt gây mệt. Các cháu bé dưới 2 tuổi, sốt cao có thể gây co giật. Tuy vậy, thân nhiệt là cái thước đo tình hình bệnh để báo cho bác sĩ biết. Người ta có thể dùng thuốc để làm hạ nhiệt độ xuống, nhưng bệnh vẫn chưa khỏi.

Bởi vậy, trong thời gian điều trị bệnh cho một cháu bé, dù thân nhiệt của cháu đã xuống, cháu đỡ sốt hay không sốt nữa, ta vẫn phải tiếp tục chú ý theo dõi cẩn thận vì cháu có thể vẫn chưa khỏi bệnh. Nên NHỚ: KHỎI SỐT CHƯA PHẢI LÀ KHỎI BỆNH.

LÀM THẾ NÀO ÐỂ HẠ NHIỆT ÐỘ?

Người ta thường dùng thuốc hạ nhiệt như aspirin và paracetamol và các phương pháp khác như tắm, chườm lạnh, nước đá.

SAU KHI RA VIỆN RỒI, KHÔNG CẦN ÐO NHIỆT ÐỘ NỮA

Khi bác sĩ đã nó : “Cháu bé đã khỏi, có thể ra viện rồi!” các bà mẹ không cần phải tiếp tục đo nhiệt độ cho cháu nữa. Nếu cháu có nhiệt độ 37,2oC buổi sáng thì cũng không có gì đáng lo ngại vì điều cốt yếu là: cháu có chịu chơi và chịu ăn không?

THÂN NHIỆT THẤP QUÁ

Sau khi khỏi bệnh, có khi thân nhiệt của cháu bé ở 36OC TRONG 3, 4 HÔM LIỀN THÌ cũng không có gì đáng lo ngại trừ trường hợp với các trẻ sơ sinh.

THÂN NHIỆT ÐẢO NGƯỢC BẤT THƯỜNG

Một số trẻ sơ sinh có 37,7oC buổi sáng và 37oC BUỔI CHIỀU CÓ THỂ LÀ DO NGUYÊN NHÂN VỀ TAI-MŨI-HỌNG , cần phải chú ý sau này.

137. Mơ hoảng ban đêm.

Giữa đêm, đứa trẻ bỗng thức dậy, hốt hoảng. Cháu ngồi lên, sợ hãi nhìn xung quanh và cũng không biết tại sao mình phát hoảng như thế, tuy chỉ nhớ lơ mơ về những gì mình vừa thấy trong giấc mơ. Sau đó, cháu lại yên tâm nằm xuống, ngủ tiếp.

Ðôi khi cháu kêu lên, vẻ sợ hãi lúc thức dậy, bước xuống KHỎI GIƯỜNG ÐỂ TỚI NÉP MÌNH TRỐN Ở góc nhà. Nếu người lớn tới, cháu sẽ bám vào chân cho đỡ sợ, tuy 2 mắt vắn nhắm nghiền và không biết mình đang ôm chân ai. Cháu nói lắp bắp chỉ vào bóng tối hay khoảng không, nơi có một hình ảnh nào đó cháu vừa tưởng tượng mình đã nhìn thấy.

Trong trường hợp như vậy, người lớn nên giữ im lặng, không cần đánh thức cháu dậy. Chỉ một lát sau, cháu sẽ bình tĩnh và đi ngủ trở lại. Buổi sáng khi thức giấc, cháu đã quên hết tất cả mọi việc đã xảy ra ÐÊM QUA.

NGƯỜI LỚN NÊN LÀM GÌ?

Nếu cháu thức dậy, nên lại ngồi gần, cầm tay cháu và hỏi cháu bằng giọng bình tĩnh. Nếu cháu muốn kể về nội dung giấc mơ, hãy để cho cháu kể hết. Nếu cháu muốn bật đèn, nên hé cửa để đèn nơi khác chiếu vào phòng, hoặc bật ngọn đèn đêm. Không cần ánh sáng chói.

KHÔNG NÊN

– Không nên la mắng hoặc chế giễu, cho cháu là nhút nhát, làm cháu càng sợ hơn.

– Không nên vì thế mà đưa cháu sang ngủ chung với người lớn. Làm như vậy, cháu bé sẽ quen và thấy ngại ngủ một mình.

HÃY TÌM NGUYÊN NHÂN NHỮNG GIẤC MƠ

– TRẺ EM Ở ÐỘ TUỔI TỪ 2 ÐẾN 5 tuổi thường có những giấc mơ ngắn. Những giấc mơ đó có tác dụng làm thần kinh các cháu thư giãn, làm mờ đi trong trí óc bao nhiêu hình ảnh và hoạt động cháu đã nhìn thấy xung quanh trong cả một ngày. Nhưng nếu cháu mê sảng luôn và có vẻ sợ buổi tối thì phải tìm nguyên nhân. Nhiều khi, nguyên nhân rất bình thường như: giường chật quá, bộ quần áo cháu mặc khi đi ngủ bó sát vào người quá, hoặc cháu bị nóng, bị tức ngực vì đắp quá nhiều chăn. Có khi lại là bữa cơm chiều ăn quá no hay vừa coi một chuyện đáng sợ trên tivi. Ðôi khi, cháu phải mang theo một nỗi lo sợ vào giường ngủ vì bố mẹ đã ra lệnh: “Cấm được đái dầm?”. Cháu sợ khi thức dậy, bị anh chị em chế diễu v.v…

Nếu bạn đã chú ý tránh gâcho cháu mọi điều xúc động hoặc ảnh hưởng như trên mà cháu vẫn tiếp tục mê hoảng và sợ buổi tối, thì nên nói với bác sĩ để chữa trị cho cháu bằng phương pháp tâm lý.

Người lớn nên hiểu theo các trẻ nhỏ về buổi tối như sau: buổi tối phải xa cách mọi người – nếu cháu ngủ một mình – buổi tối đáng sợ hãi, mọi vật sẽ biến đi vì không trông thấy, kể cả nét mặt thân yêu của bố mẹ sẵn sàng bảo vệ cháu lúc ban ngày. Dùng thuốc không chữa trị được tận gốc hiện tượng mơ hoảng của trẻ em. Cần có sự săn sóc và tình cảm của các người thân cùng sự cộng tác của các chuyên gia tâm lý.

138. Toát mồ hôi.

Toát mồ hôi là một biện pháp quan trọng của cơ thể để chống lại nhiệt độ.

Trước khi than thở: “Con tôi hay đổ mồ hôi nhiều quá! các bà mẹ nên tìm nguyên nhân nào đã làm Bé như vậy. Vì đã đắp nhiều chăn mền cho cháu quá: việc làm này có hai điểm không có lợi. Một là: mồ hôi ra nhiều, cháu bé dễ bị cảm vì đi từ trạng thái bị nóng sang bị lạnh.

Hai là: đắp nhiều chăn, mặc nhiều áo làm cho cơ thể Bé không quen chống chọi với cái lạnh, sẽ trở nên yếu ớt hơn những đứa bé khác.

Cũng có những đứa trẻ hay toát mồ hôi nhiều hơn những trẻ KHÁC. ĐẤY LÀ ÐẶC TÍNH CỦA CHÁU MÀ THÔI.

NÊN LÀM GÌ KHI BÉ SỐT VÀ TOÁT MỒ HÔI

1. ĐÓ LÀ chuyện thường, không có gì đáng lo ngại.

2. Thay quần áo, tã lót và lau khô cho Bé để Bé khỏi bị lạnh.

3. Cho Bé uống nước. Việc này rất quan trọng vì cơ thể Bé bị thiếu nước. Cho cháu bé sơ sinh bú bình nước. Nếu cháu lớn hơn, có thể cho uống nước trái cáy.

4. Xem có phải vì cháu mặc nhiều quần áo hay đắp nhiều mền quá không?

5. Xem có phải vì phòng nóng quá không?

139. Nghiến răng.

Trong khi ngủ, một số trẻ em nghiên răng kèn kẹt. Hiện tượng này cũng không có gì quan trọng, nhưng nếu xảy ra thường xuyên thì có thể do vì một số nguyên nhân tâm lý mà người lớn cần phải tìm hiểu như: Bé CÓ GHEN TỊ VỚI ANH CHỊ EM NÀO KHÔNG? CÓ CẢM THẤY BỊ BỎ RƠI KHÔNG? CÓ bị căng thẳng, lo sợ vì một sự việc gì không?

Nếu tìm thấy nguyên nhân và tăng cường thêm sự âu yếm đặc biệt đối với Bé, chứng nghiến răng sẽ không còn nữa.

140. Chứng co giật khi sốt.

TRẺ EM Ở ÐỘ tuổi từ 6 tháng tới 2 năm, hay bị sốt và co giật vì sốt cao, khi các cháu bị viêm họng, viêm tai, viêm phổi những chứng bệnh các cháu thường mắc phải.

HIỆN TƯỢNG CO GIẬT THƯỜNG XẢY RA Ở độ tuổi này vì hệ thống thần kinh của các cháu còn non yếu. Trong thời gian bị sốt, cứ mỗi lần thân nhiệt lên cao đột ngột là CÁC CHÁU LẠI BỊ CO GIẬT.

TRIỆU CHỨNG CỦA CO GIẬT

– Trước khi có hiện tượng co giật mặt cháu bé tái đi, mê man, cứng người lại mắt trợn ngược. Mấy giây sau, hiện tượng co giật xuất hiện ở mặt, ở CHÂN, TAY TRONG MỘT VÀI PHÚT RỒI THÔI. Cháu bé thở mạnh, người lả đi. Từ trạng thái mê man, không tỉnh cháu đi vào một giấc ngủ mê mệt.

Trong các trường hợp nhẹ , người ta khó nhận thấy các cơn co giật vì cháu bé chỉ cứng người hoặc giật chân tay, mặt tái trong một thời gian ngắn. Thay vào hiện tượng mê man, có lúc cháu bé như không nghe, không nhìn, không cảm thấy mọi vật chung quanh. Chỉ có đôi mắt bị trợn ngược là triệu chứng rõ nhất.

Trong lúc bác sĩ chưa có mặt, cần phải làm những việc sau để nhiệt độ của cháu bé hạ xuống:

– Cởi khuy áo hoặc bỏ bớt quần áo;

– Tắm cho cháu bằng nước có nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt của cháu 2oC trong 10 phút; có thể tắm nhiều lần như vậy;

– Chườm nước mát hay nước đá;

– CÓ THỂ dùng các loại thuốc hạ nhiệt như aspirin, paracétamol.

Bác sĩ sẽ tiếp tục điều trị bằng các loại thuốc khác để chấm dứt các cơn co giật và ngăn ngừa không xảy ra nữa.

SAU CƠN CO GIẬT

– Bác sĩ thường yêu cầu bố mẹ các cháu đưa cháu đi bệnh viện để làm một số xét nghiệm, sau khi cháu đã qua cơn. Vì, hiện tượng co giật rất có thể liên quan tới tổn THƯƠNG Ở MÀNG ÓC.

Hơn nữa, cần phải có phương pháp đề phòng tránh cho cháu bị lại. Nếu cháu bé lại sốt ngoài các biện pháp áp dụng ở PHẦN TRÊN, BÁC SĨ CÓ THỂ CHO CHÁU uống thuốc chống co giật Valium. Thuốc giọt uống làm nhiều đợt.

VÌ HIỆN TƯỢNG SỐT CAO KÈM CO GIẬT Ở nhiều trẻ thường xảy ra bất chợt, nhiều lần lặp đi lặp lại nên có trường hợp, bác sĩ yêu cầu cho trẻ uống thuốc đề phòng liên tục cho tới khi cháu 4 – 5 tuổi. Nhất là đối với các cháu hay có các cơn kéo dài hoặc bác sĩ đã phát hiện thấy trong gia đình Bé có người mắc chứng động kinh.

Cảnh cháu bé bi sốt co giật thường gây ấn tượng mạnh cho các người thân săn sóc cháu. Tuy vậy, khi cơn đã qua đi thì cháu lại trở lại trạng thái bình thường.

141. Co giật mà không sốt.

Nếu cháu bé không sốt cao mà cũng bị co giật thì có thể là do có các hiện tượng sinh học bất thường trong cơ thể như: lượng đường hoặc lượng Canxi trong người bị sụt một cách bất thường, hoặc cháu bị tổn thương trong não. Nếu không vì có các nguyên nhân trên thì phải nghĩ đến chứng động kinh.

142. CHỨNG CO GIẬT Ở trẻ sơ sinh.

Các trẻ sơ sinh bị những cơn co giật hoặc tay chân co cứng lại là do cơ thể bị thiếu chất Canxi . Cơ thể các cháu nhỏ cần có các tia nắng hoặc ánh sáng mặt trời để hấp thụ chất Canxi.

Chứng bệnh này thường kèm theo bệnh còi xương. Ðể chữa trị, bác sĩ thường cho các cháu uống các thuốc trong thành phần có vitamm D và canxi .

143. Cơn co giật.

Chứng này có đặc điểm là tiếp theo một cơn co giật là hiện tượng chân, tay, đầu cháu bé gập và co rúm lại về phía trước hoặc duỗi ra và ưỡn ngửa về phía sau. Nguyên nhân của chứng này hiện vẫn chưa được biết rõ trừ một vài trường hợp do dị tật bẩm sinh của hệ thần kinh.

Chứng này thường kèm theo hiện tượng ngưng phát triển tâm lý và vận động. Khi cháu bé lên cơn, cần phải nhờ tới sự giúp đỡ của bác sĩ ngay.

144. Chứng động kinh.

Ðộng kinh là một chứng bệnh gây co giật cơ thể, không phải vì sốt cao, cũng không phải vì cơ thể mất thăng bằng về mặt sinh học như thiếu glucô hay Canxi trong máu.

Người ta thường dùng bộ quét (scanner) để dò tìm xem có PHẢI DO TỔN THƯƠNG Ở NÃO không. Nếu cũng không tìm thấy nguyên nhân thì chỉ còn lại một lý do: bệnh GIA TRUYỀN.

Ở trẻ em, hiện tượng bị động kinh có nhiều mức: có cháu bỗng nhiên ngã vật xuống, cong người lên rồi co giật tay chân và các cơ mặt. Ðôi mắt vô hồn đờ đẫn, trợn ngược, mặt nhăn nhúm, thở khó khăn. Lát sau, cháu thở bình thường trở lại, các cơ bắp toàn thân đều thư giãn tới mức, có cháu tè dầm. Sau đó, cháu có thể thiếp đi trong giấc ngủ. Khi tỉnh dậy, cháu không hề biết gì về những sự việc vừa xảy ra với bản thân mình.

CÓ TRƯỜNG hợp các hiện tượng xảy ra không đầy đủ như trên, chỉ có hiện tượng cong cứng người hoặc ngược lại, người mềm rũ, cộng với vài sự co giật ở THÂN THỂ, MẮT LỜ ÐỜ. Hoặc Bé vẫn tỉnh táo, nhưng không nói được, cơ thể bị co GIẬT Ở MỘT VÀI NƠI KHI BÉ vừa thức dậy, hoặc đang trong giấc ngủ.

CÓ CÁC CHÁU nhỏ 5 – 6 tháng đã có các biểu hiện co giật như thế. Lại có các cháu từ 3 tuổi trở lên, có những lúc như bị hôn mê, không biết gì trong một vài giây.

Ðộng kinh là một chứng bệnh cần phải chữa trị lâu, mất nhiều công sức, nhưng ngày nay, không còn là một bệnh không thể chữa khỏi, hoặc phải chữa suốt đời. Người ta đã coi một số trường hợp như một loại bệnh nhẹ, tuy rằng, bệnh này vẫn cần tới sự săn sóc của các bác sĩ chuyên ngành.

Khi còn trong thời gian chữa trị, các cháu cần được theo dõi từng ngày. Nhưng nếu trong 3 năm liền mà cháu không lên cơn hoặc có một triệu chứng gì nữa thì có thể ngưng việc thuốc thang, điều trị. Chỉ cần chú ý tổ chức sinh hoạt cho có nề nếp, bảo đảm cho các cháu không bị mất ngủ. Các nhà tâm lý học cho rằng nên để các cháu tới trường như các đứa trẻ bình thường khác. Không nên lúc nào cũng quá chú ý tới các cháu vì chính làm như vậy sẽ làm cho tinh thần các cháu bị căng thẳng hơn.

Các cháu bị chứng động kinh vắn có thể tham gia các hoạt động thể dục thể thao, kể cả bơi lội, nhưng phải có người canh chừng.

Ðiều cốt yếu trong việc chăm sóc các cháu bị chứng bệnh này là giúp đỡ các cháu phát triển bình thường về mặt tinh thần cũng như về thể chất.

145. Bé ăn ngon miệng, ăn được. Tại sao?

Nhiều bà mẹ chỉ mong mỏi sao cho con ăn ngon miệng, ăn được. Vấn đề này rất rộng và nên chuyển thành vấn đề: “Nuôi sao cho con khỏe thì hơn. Bởi vì nhiều cháu có tính khó ăn, ăn ít nhưng sức khỏe vẫn tốt. Thế là được rồi. Vấn đề Bé không chịu ăn đã được nói tới ở PHẦN TRÊN, PHẦN NHIỀU DO NGUYÊN NHÂN TÂM LÝ.

Ở phần này, chúng ta chỉ chú ý tới : “Tại sao cháu ăn khỏe thế ?”. Ðối với các cháu nhỏ, việc cháu ăn được nhiều không đáng mừng và cũng không đáng lo. Vì nếu dòng dõi cháu có những người to béo thì cháu cũng có xu hướng ăn nhiều để thành to béo và mai sau, có thể thành một người bụng phệ! Ðiều này cũng chẳng hay gì!

Nhưng nếu cháu ăn nhiều mà tạng người vẫn bình thường hay ốm yếu thì nên nghĩ ngay tới việc chữa trị cho cháu bệnh giun hoặc sán và có thể cả bệnh tiểu đường nữa.

146. Bé không chịu ăn.

Hiện tượng trẻ em không có bệnh tật gì mà biếng ăn, hay không chịu ăn phần lớn do nguyên nhân tâm lý chứ không phải Bé bị bệnh. Ðối với các trẻ sơ sinh cũng vậy. Vấn đề này có liên quan tới một sự rối loạn nào đó trong quan hệ giữa mẹ và con.

Trước hết, chúng ta không nên xếp vội các cháu sau đây vào loại biếng ăn:

– Các cháu có tính ăn thất thường, khi nhiều, khi ít một cách tự nhiên.

– Các cháu hay ăn vặt, lúc đến bữa, vẫn ăn nhưng ăn ít.

Trên thực tế, nếu cộng cả các lần ăn vặt vào bữa chính, thì các cháu ăn thế là đủ rồi.

Các cháu đáng được để ý săn sóc, có các hiện tượng sau :

– Bỗng nhiên bỏ ăn hay biếng ăn, có vẻ mệt, sốt, đau bụng v.v…;

– Các cháu từ 6 – 18 tháng tuổi bị đau họng; sau khi tiêm chủng; sắp mọc răng hay đang mọc răng;

– Các cháu vừa cai sữa mẹ.

Ngoài ra, các bà mẹ cũng nên để ý tới các nguyên nhân sau có ảnh hưởng tới việc ăn của các cháu, như: thay đổi loại sữa hoặc thức ăn mà các cháu không ưa, dùng thìa, muỗng để cho bé ăn to quá, cho ăn kiểu nhồi nhét làm Bé sợ, đang ăn lại lau miệng, làm vệ sinh làm cháu mất hứng thú.

Với các cháu đã biết nhận xét, việc thay đổi người cho ăn, cách đối xử với các cháu khi ăn như nựng nịu khuyến khích hay đe dọa, mắng cháu đều có ảnh hưởng, hoặc làm cho cháu chịu ăn hay bỏ ăn.

Các bà mẹ cũng không nên quá máy móc về giờ giấc. Cháu bé đang ngủ không nên đánh thức dậy để cho ăn hoặc buổi tối, nếu cháu khóc có thể cho cháu bú thêm một ít ngoài bữa chính. Nói chung,

KHÔNG NÊN :

– Bắt buộc cháu ăn, hoặc phải ăn hết;

– Không cần quá chính xác về thời gian của bữa ăn;

– Ðể các cháu ăn tự nhiên, trong khi ăn không quấy rầy các cháu về những săn sóc vệ sinh như lau miệng, lau mặt, lau tay.

NÊN :

– Ðể cho các cháu ăn tự nhiên, vì ham thích;

– Cho ăn ít hơn khả năng ăn của Bé một ít để nuôi dưỡng xu hướng thèm ăn, rồi dần dần tăng lên trong các bữa sau;

– NÊN CHO ĂN Ở chỗ tĩnh mịch, không có tiếng động hay nhiều người qua lại, làm các cháu không chăm chú tới việc ăn. Nếu các cháu vẫn lớn đều về chiều cao thì việc các cháu phát triển hơi chậm về số cân nặng cũng là chuyện bình thường.

Làm cho các cháu khỏi biếng ăn chủ yếu là vấn đề tâm lý, tìm cách khuyến khích cho các cháu ăn là tốt nhất. Các bác sĩ nếu được yêu cầu khám bệnh cho các cháu biếng ăn thường làm những công việc có tính cách “thủ tục” như : xét nghiệm máu để đo số hồng huyết cầu, thử phân để xem có bệnh đường tiêu hóa hay không, thử các phản ứng về bệnh lao v.v… ,

147. Không phát triển đủ khi mới sinh.

Một số cháu bé sinh ra thiêu cân (dưới 2.500g), và không đủ chiều cao. Sự kém phát triển này đã xảy ra khi đứa trẻ còn ở TRONG BỤNG MẸ. KHÁC VỚI TRẺ ÐẺ NON BỊ thiếu cân do sinh ra không đủ tháng, hiện tượng này có thể có nhiều nguyên nhân : trong thời gian mang thai mẹ bị bệnh hoặc bị ngộ độc vì dùng thuốc có nhiều độc tố, vì nghiện nặng thuốc lá v.v… Cũng có thể vì có sự bất THƯỜNG Ở NHAU THAI.

148. Thiếu cân.

Một số cháu bé không phát triển đầy đủ so với độ tuổi, đặc biệt là về trọng lượng. Nếu không phải vì nguyên nhân thiếu ăn thì phần lớn là vì Bé bị bệnh kéo dài như : viêm tai giữa, viêm đường tiết niệu…; tim, thận có chỗ bị dị dạng bẩm sinh, bị bệnh đường tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa, rối loạn về khả năng hấp thụ của ruột đối với một số thực phẩm…

149. Bé gầy hoặc càng ngày càng gầy.

Gầy không phải là bệnh. Nếu cháu có tạng gầy thì không phải lo. Nhưng, nếu cháu đang bình thường, bỗng bị gầy đi thì đó là một đấu hiệu cần chú ý.

Nếu cháu bé gầy, không lớn hoặc lớn chậm thì bố mẹ cháu cần suy nghĩ để trả lời 2 câu hỏi sau:

1. Thuở nhỏ (như bé) mình có gầy như thế không?

2. Tuy gầy như vậy, nhưng cháu có ăn được, ngủ được, có vẫn nô đùa vui vẻ như các trẻ khác không ?

Nếu câu trả lời là :

– CÓ: thì không có gì đáng lo ngại. Vì “tạng” người của cháu là như vậy, giống như tạng của bố mẹ.

– KHÔNG : thì có thể vì các nguyên nhân như: ăn chưa đủ chất, ăn không đúng giờ giấc, chế độ, ngủ không đẫy giấc, ăn, ngủ không đủ để bồi lại sức tiêu hao lúc Bé hoạt động.

Nếu Bé bị gầy một cách bất thường quá thì cũng nên nghĩ tới một số bệnh như bệnh tiểu đường chẳng hạn.

150. Tái mặt đột ngột.

Ðứa trẻ bỗng tái mặt đi rồi lại bình thường trở lại. TẠI SAO? CÓ ÐIỀU GÌ LÀM BÉ SỢ hoặc Bé bị lạnh chăng ?

Nếu thế phải sưởi ấm cho Bé ngay. Sắc mặt Bé sẽ hồng trở lại.

Có trường hợp Bé ho, ngạt mũi và được nhỏ thuốc vào lỗ mũi để làm co niêm mạc, cũng làm sắc mặt Bé tái đi trong chốc lát.

Còn những trường hợp như sau, cần phải hỏi bác sĩ:

KHÔNG RÕ LÝ DO GÌ, MẶT BÉ BỖNG TÁI ÐI VÀ BÉ BỊ NGẤT

– Phải gọi bác sĩ hoặc đưa Bé tới bệnh viện ngay. Vậy điều gì có thể đã xảy ra?

Bé có thể đã uống một thứ gì hoặc thuốc độc đối với BÉ, MÀ TA KHÔNG BIẾT (COI TRƯỜNG HỢP NGỘ Đ Ộ C). CHÂN TAY BÉ ÐÃ CÓ LÚC CO QUẮP LẠI MÀ TA CŨNG KHÔNG HAY.

NẾU BÉ TỈNH NHƯNG CÓ VẺ BỊ “CHOÁNG”, CHÂN TAY LẠNH, VẺ MẶT SỢ HÃI:

– Có thể Bé bị ngộ độc hoặc bị đau do một vết thương nào đó. Trong khi chưa có bác sĩ, hãy đặt Bé nằm thẳng trên giường, đầu hơi thấp hơn chân và sưởi ấm hoặc chườm nóng cho cháu, mỗi bên người một chai nước nóng để ngoài chăn và cẩn thận để không làm cháu bị bỏng.

Cũng có thể đây là dấu hiệu của sự xuất huyết nội: hiện tượng này có thể đã xảy ra trước đó hàng giờ hoặc trước nhiều ngày do MỘT VA CHẠM MẠNH LÀM THƯƠNG TỔN TỚI THẬN HOẶC LÁCH.

BÉ THƯỜNG BỊ TÁI MẶT LUÔN NHƯ THẾ –
RÕ RÀNG LÀ HIỆN TƯỢNG NÀY không phải do Bé bị xúc cảm mà do nguyên nhân phức tạp hơn. Cần phải cho Bé tới bác sĩ.

151. Chậm biết đi.

Biết đi là một giai đoạn quan trọng trong đời sống của một đứa trẻ, đánh dấu một sự phát triển tốt về các mặt cơ thể, tâm lý và tình cảm.

Những điều kiện cần phải có để cháu bé biết đi bao gồm: bộ xương đủ cứng cáp, các cơ bắp, hệ thống thần kinh và nhất là bộ não đã phát triển được bình thường tới mức nào đó do quá trình được nuôi dưỡng đầy đủ với thức ăn giàu về prôtêin và vitamin, sự săn sóc về mặt tâm lý và tình cảm cũng có vai trò quan trọng kích thích đứa bé cố gắng trong việc tập đi.

TRẺ EM THƯỜNG BẮT ÐẦU TẬP ÐI Ở độ tuổi từ 12 tới 14 tháng. Nhưng cũng tùy vào thể trạng từng cháu, mà thời gian này có thể xê dịch từ tháng thứ 10 tới 18. Nếu sau 20 tới 22 tháng tuổi mà cháu vẫn chưa biết đi, chúng ta mới nên lo rằng cháu chậm biết đi:

Việc chậm biết đi của trẻ em có thể do các cháu đã trải qua một thời gian bị ốm, dù chỉ là những căn bệnh ngắn ngày và không trầm trọng như viêm xoang, họng, đau tai v.v… Người cháu bé mập mạp quá cũng là một nguyên nhân làm cháu bé biết đi chậm hơn các cháu khác một vài tuần hoặc một vài tháng. Nhiều cháu ham thích bò hay lết nên cũng quên lãng việc tập đi.

Các cháu chưa biết đi sau tháng thứ 18 cần được chú ý: CHÁU CÓ BỊ DỊ TẬT Ở ÐOẠN xương chân nào không, nhất là đoạn khớp với xương hông. Ngoài ra cũng phải chú ý tới hệ cơ bắp bị chứng teo cơ bắp chân hoặc một số các bệnh về cơ bắp khác không. Ngoài ra, các bệnh về hệ thống thần kinh và cột sống mắc phải sau khi sinh, hoặc do bẩm sinh đều có ảnh hưởng tới khả năng giữ người được cân bằng hoặc làm chân bị liệt khiến đứa trẻ không đi được bình thường.

Nếu trí khôn cháu bé phát triển bình thường mà lại chậm biết đi thì cháu có thể bị thương tổn ở não ảnh hưởng tới việc điều khiển vẫn động của cơ thể. Nhiều phương pháp luyễn tập đặc biệt có thể áp dụng trong những trường hợp này để giúp các cháu vượt qua được những khó khăn khi tập đi.

Nếu những nguyên nhân trên đều không có mà cháu bé lại chậm biết đi thì nên tới vấn đề thiếu chất vitamin D trong các chất dinh dưỡng hoặc không được người lớn săn sóc đầy đủ và chú ý khuyến khích cháu bé tập đi khi đã tới độ tuổi.

152. Chậm biết nói.

Sau 3 năm tuổi mà cháu bé chưa bập bẹ nói được 2 âm khác nhau, thì bố mẹ phải chú ý:

Trước hết phải nhờ bác sĩ thử xem cháu bé có nghe được không. Rất có thể, cháu bị điếc nhẹ, bị thương tổn một phần tai thôi mà người lớn không biết.

Sau đó, phải kiểm tra xem cháu có bị tật gì không bằng cách quan sát các cử chỉ, động tác, ứng xử cua cháu bé khi cháu chơi đùa. Bác sĩ có thể có các cách thử theo phương pháp chuyên môn để kiểm tra về trạng thái tinh thần của cháu bé.

Hiện tượng Bé chậm biết nói còn có thể là biểu hiện sự phát triển chậm về nhận thức của Bé hoặc ảnh hưởng không có lợi của môi trường chung quanh đối với cháu.

Nếu tất cả nhưng nguyên nhân trên đều được loại bỏ thì chỉ còn lại các vấn đề như: cháu bé không được người lớn khuyến khích nói, sự chú ý săn sóc cháu chưa được đầy đủ v.v… Cháu cũng sẽ biết nói, nhưng cần phải chú ý luyện tập cho cháu để khỏi gặp khó khăn khi cháu đến tuổi tới trường.

153. Mất tiếng nói.

Hiện tượng mất tiếng nói khác hiện tượng chậm biết nói. Cháu bé vẫn phát triển trí khôn bình thường, nhưng bỗng nhiên cháu không chịu nói nữa. Hiện tượng này có khi chỉ là tâm lý xảy ra khi cháu bé ở NGOÀI GIA ÐÌNH, NHƯ Ở TRƯỜNG CHẲNG hạn. Cháu có đủ trí khôn, nhưng vì cảm động, nhút nhát nên không thể hiện được nhưng ý nghĩ của mình.

Khi cháu chế ngự được nhưng cảm xúc của mình thì cháu lại nói được: đó là hiện tượng “không nói được có điều kiện”.

Hiện tượng không chịu nói hoàn toàn xảy ra khi có một cú sốc tình cảm đột ngột. Cháu có thể bỏ cả ăn và không kiềm chế được việc tiểu tiện ra quần.

Vài ngày hoặc vài tuần sau sự kiện làm cháu bé xúc động đột ngột, cháu có thể lại nói được một cách chậm chạp.

Những yếu tố làm cháu bé không nói còn có thể do môi trường đã gây cho cháu thái độ thờ ơ, không quan tâm tới cuộc sống và mọi người chung quanh.

154. Nói lắp (cà lăm).

TẬT NÓI LẮP THƯỜNG GẶP Ở con trai từ 3 – 5 tuổi. Người ta cho rằng các cháu này nghĩ nhanh hơn nói, trong lúc chưa đủ từ vựng để diễn đạt ý nghĩ của mình. Hiện tượng các cháu vẫn duy trì tật nói lắp khi đã lớn, người ta chưa giải thích được có thể tính nhút nhát, dễ cảm động có ảnh hưởng rất nhiều tới tật này.

Người ta phân biệt 2 loại nói lắp: lắp đi lắp lại một TRỌNG ÂM TRONG CÂU HAY LẮP NGAY Ở âm đầu khi bắt đầu nói. Hoặc phối hợp cả 2 loại.

Một người nói lắp cũng biểu thị trạng thái tinh thần không bình thường, có thể có quan hệ căng thẳng với gia đình và những người xung quanh. Một cháu bé nói lắp thường có cử chỉ ngượng nghịu, lúng túng. Sợ BỊ TRÊU GHẸO, CHẾ GIỄU CŨNG LÀ MỘT nguyên nhân góp phần tạo ra tật nói lắp.

Ðể chữa bệnh nói lắp cho các cháu, nên nhờ các nhà giáo chuyên dạy về phát âm, đồng thời động viên các cháu về mặt tầm lý.

155. Khả năng phát âm hạn chế (Nói đớt).

Nhiều cháu bé phát âm không rõ hoặc không phát âm đúng MỘT SỐ ÂM NHƯ R, L, N. .. VÌ CÓ TẬT Ở LƯỠI HOẶC LƯỠI KHÔNG Ở ÐÚNG VỊ TRÍ. CÓ người lại cho nguyên nhân là tại răng.

Ngày nay, người ta cho rằng việc cháu bé chỉ có khả năng hạn chế về phát âm như thế, xảy ra trước khi có những hiện tượng bất thường về răng, và có thể tránh được hoặc chữa khỏi nếu cháu bé được luyện tập từ khi 4 – 5 tuổi về động tác uốn lưỡi.

l56. Tật sử dụng tay trái.

Nhiều trẻ em có thói quen đặc biệt, sử dụng tay trái nhiều hơn tay phải nên làm việc gì cũng thuận tay trái hơn, tuy rằng vẫn ngắm nhìn thuận mắt phải (nhắm mắt trái lại), hoặc đá bóng chân phải mạnh hơn chân trái. Ðể khuyến khích cháu bé sử dụng tay phải, người lớn nên để các đồ dùng hàng ngày bên tay phải của cháu như thìa ăn, bút viết v.v… Nhưng nếu cháu vẫn sử dụng bằng tay trái thì người lớn cần nhận xét xem cấu tạo cơ thể của cháu bé có điều gì thể hiện là thiên về bên trái không, như mắt trái tốt hơn, tay chân trái khỏe hơn… và bàn bạc với bác sĩ để cho cháu sử dụng bên tay trái là chính. Ngày nay, người ta không khắt khe với những cháu thuận tay trái, vì xét cho cùng, thế giới này không có định luật nào đặc biệt chỉ dành mọi thứ thuận lợi cho những người thuận tay phải. Một người cầm bút viết bằng tay trái chưa chắc sẽ vì thế mà gặp nhiều trắc trở trong cuộc sống.

Tuy vậy, nếu cháu bé đang sử dụng hai tay như nhau, thì các bà mẹ nên hướng cho cháu sử dụng cho quen bàn tay phải như đa số chúng ta.

157. Những động tác bất thường.

CÓ NHỮNG cháu bé hoàn toàn khỏe mạnh nhưng lại có những động tác bất thường như lắc lư đầu từ trái qua phải, hoặc gật đầu như người chào hàng giờ đồng hồ . Lại có những cháu có thói quen đập đầu xuống giường hoặc đưa tay sờ bộ phận sinh dục của mình khi sắp ngủ.

Nhiều nhà chuyên môn cho rằng để chữa những hiện tượng này Ở CÁC CHÁU, NGƯỜI LỚN NÊN chú ý tìm hiểu các cháu về mặt tâm lý như có phải cháu cảm thấy mình không được săn sóc đầy đủ không, cháu có ghen tị với anh, chị, em về việc gì không, cháu có phải ức chế trong người mình một tình cảm gì, một nỗi buồn hoặc nỗi sợ gì mà cháu không nói được ra không ? Trong những trường hợp như vậy thì bố mẹ chỉ cần tăng cường an ủi, âu yếm cháu làm cháu yên tâm là các hiện tượng trên sẽ giảm hoặc hết ngay.

Nhiều bậc cha mẹ đã nhờ các chuyên viên tâm lý tiếp xúc với các cháu bé để tìm nguyên nhân và phương pháp chữa trị .

Nhưng phần lớn trường hợp không phải chữa trị gì, khi các cháu tới độ từ 2 tới 4 tuổi, các hiện tượng trên cũng sẽ hết.

Ðôi khi, có thể cho cháu uống thuốc an thần theo đơn và sự chỉ định của bác sĩ, cũng có nhiều hiệu quả.

158. Chứng co giật cơ bắp.

CHỨNG CO GIẬT CƠ BẮP ÍT THẤY Ở trẻ em từ 3-4 tuổi trở xuống. Chứng này có những biểu hiện co giật cơ bắp trong thời gian ngắn, xảy ra bất chợt, hay lặp đi lặp lại nhiều khi không cố ý như: nháy mi mắt ia lịa, chép miệng, lắc đầu, lắc cố, lắc vai liên tục v.v…

Những biểu hiện này có thể do nguyên nhân thần kinh bị căng thẳng, vì lo ngại một điều gì. Những cử chỉ chép miệng, lắc đầu, oằn người chỗ đông, nhiều khi làm cho những người xung quanh thấy khó coi.

Không có thuốc chữa trị chứng này. Chủ yếu là người đang có những hiện tượng co giật phải chủ động bình tâm và tự chủ. Các cơn co giật rồi sẽ qua đi.

Những trường hợp nặng cần phải có sự giúp đỡ của bác sĩ tâm lý về thần kinh.

159. Chứng tự kỷ và loạn tâm thần.

Tự kỷ là hình thức nghiêm trọng nhất của rối loạn tâm thần Ở TRẺ EM, CÓ ÐẶC ÐIỂM LÀ đứa trẻ tự tách rời với thực tế và môi trường chung quanh. Ðứa trẻ mới sinh không thể hiện rõ bệnh, nhưng từ tháng thứ 18 trở đi, cha mẹ và những người săn sóc cháu có thể thấy rõ các triệu chứng của bệnh.

Cháu bé lúc nào cũng có vẻ thờ ơ, không chú ý gì tới cuộc sống và các hoạt động chung quanh, không đáp lại sự săn sóc của người lớn bằng nét mặt, cách nhìn hay nụ cười.

Các hoạt động tay chân thường không liên quan gì với nhu cầu thực tế, lặp đi lặp lại như máy, như các cử chỉ của những con rối, hai cánh tay đung đưa, nhiều khi không ăn nhịp với thân thể. Cháu vẫn lớn nhưng trí khôn trì trệ, kém phát triển, không nói được hoặc nói không ra câu, khó hòa nhập với xã hội. Nguyên nhân của bệnh, cho tới nay vẫn chưa được XÁC ÐỊNH RÕ RẰNG. TỪ 20 NĂM NAY, NGÀNH Y HỌC VẪN DỪNG LẠI Ở CÁC ÐIỂM DỰ đoán: rối loạn sinh hóa của cơ thể, dị dạng nhiễm sắc thể và một số hội chứng cần phải nghiên cứu thêm. Ði tìm các phương pháp chữa trị , người ta đặc biệt chú ý về mặt tâm lý của các cháu bị bệnh hoặc phải sống xa cách với xã hội, hoặc cùng sống chung nhưng lại bị các bạn cùng lứa tuổi chế giễu, trêu chọc.

160. Mút tay.

Trẻ sơ sinh mút tay là việc bình thường. Người ta thấy nhiều cháu bé mới sinh đã có ngón tay cái ứng đỏ vì các cháu mút tay từ trong bụng mẹ. Tuy vậy, trẻ mút tay cũng là một tín hiệu để bà mẹ chú ý xem cháu đã được ăn đủ chưa. Mỗi lần cháu bú tí mẹ phải lâu khoảng 15 phút thì cháu mới đủ no. Hoặc nếu cháu bú bình, thì phải kiểm tra lại xem NHỮNG CÁI LỖ Ở NÚM VÚ CAO su có lớn quá hay nhỏ quá không? Vì lỗ lớn sẽ làm cháu sợ vì sữa ra nhiều làm cháu sặc, mà nhỏ quá thì cháu phải ra sức mút mà sứa vẫn ra ít, làm cháu mệt. Sau này, khi lớn lên thêm một chút nữa, các cháu cũng hay mút tay KHI NGỦ, DƯỜNG NHƯ CÓ LÀM VẬY MỚI YÊN TÂM.

TỪ CAI SỮA TỚI 6 TUỔI – CỨ 3 CHÁU THÌ CÓ 1 CHÁU MÚT NGÓN TAY Ở ÐỘ TUỔI TỪ 1 CHO tới 4 tuổi. Các cháu hay mút ngón tay trước khi ngủ: khi cháu không có gì để chơi, khi cháu thấy người khó chịu hay đang mọc răng; khi mẹ lại sinh một em nữa làm cho cháu có ý nghĩ mình bị bỏ rơi; khi các cháu được chiều chuộng quá hoặc ngược lại, khi người lớn tỏ ra nghiêm khắc đối với cháu.

NGƯỜI LỚN PHẢI LÀM GÌ?

Nên bình tĩnh và yên tâm chờ đợi, khuyên bảo nhẹ nhàng. Các cháu mút tay như thế có ảnh hưởng tới răng sau này không? Không. Vì răng của các cháu ở TUỔI NÀY CHỈ LÀ RĂNG SỮA, SẼ RỤNG ÐỂ ÐỔI CÁC RĂNG VĨNH VIỄN KHÁC.

SAU 6 TUỔI – Cháu bé đã hơn 6 tuổi còn ngậm ngón tay có thể do thói quen trước khi ngủ, hoặc cũng có thể là một vấn đề tâm lý. Cháu muốn trở lại thời kỳ mấy năm về trước: hồi đó cháu chưa phải tới trường, ngồi trong các lớp học có kỷ luật nghiêm khắc và những bài tập viết khó khăn, mệt nhọc như hiện nay. Bạn hãy cố tìm hiểu tâm tư cháu, an ủi, khuyến khích cháu. Nếu bạn làm cho cháu tự hào với độ tuổi của cháu, cháu sẽ tự động BỎ MÚT TAY NGAY.

Ở tuổi này, các răng vĩnh viễn đã mọc. Bởi vậy, việc mút ngón tay có thể ảnh hưởng tới sự đều đặn và hình dáng của cả hàm răng. Nếu có hiện tượng đó rồi, (thí dụ hàm răng trên hoặc dưới có vẻ nhô ra), nên đưa cháu tới bác sĩ khoa răng hàm mặt để CHỈNH HÀM CHO CHÁU.

NÊN LÀM GÌ ÐỂ CÁC CHÁU KHỎI MÚT TAY
?

Nên động viên khuyến khích các cháu là chính. Không nên dùng các phương pháp thô bạo như: buộc tay, bặt đeo găng tay hoặc bôi các chất đắng vào ngón tay.

161. Nhai lại.

Một số trẻ kể cả trẻ sơ sinh và trẻ đã lớn – có thói quen Ợ THỨC ĂN LÊN MIỆNG RỒI nhai, giống như loài nhai lại. Nguyên nhân có thể do các cháu bị rối loạn nhẹ về các phản ứng tình cảm.

Nếu thấy cháu bị gầy đi, các bà mẹ nên cho bác sĩ biết vì tật nhai lại này nhiều khi cần phải cho các cháu nằm bệnh viện hoặc chữa trị bằng phương pháp giáo dục.

162. Nôn ói.

Các cháu mới sinh thường hay ói. Có nhiều nguyên nhân. Người lớn coi sóc các cháu nên chú ý xem cháu bị nôn ói trong trường hợp nào, có kèm theo các triệu chứng gì không thì mới xác định được là hiện tượng này không quan trọng hoặc đáng lo ngại. Hiện tượng nôn ói có thể như sau :

* Ðang khỏe mạnh bỗng nôn ói kèm sốt, tiêu chảy: có thể do bị bệnh thuộc loại tai-mũi-họng, hoặc vì các chất tiêu hóa di chuyển ngược CHIỀU Ở ÐOẠN DẠ DÀY – ruột; bị đau màng óc; viêm niệu đạo v.v… Nôn ói sẽ dẫn tới hiện tượng cơ thể thiếu nước.

* Bỗng nhiên bị nôn ói, không sốt nhưng không muốn uống, bị đau bụng không đi tiêu được: có thể bị rối loạn tiêu hóa hoặc lồng ruột, tắc ruột. Cần tới bác sĩ ngay.

* Bị nôn nhiều lần, bị đi bị lại, ngưng tăng cân: viêm tai hay viêm niệu đạo.

* Mới sinh được vài tuần đã bị nôn ói: cần chiếu X-quang để xem môn vị có bị hẹp không. Nếu cần phải phẫu thuật.

Phần lớn các cháu bé nôn ói vì thức ăn chuyển động ngược LẠI Ở ÐOẠN THỰC QUẢN – DẠ dày.

Các cháu nhỏ thường nôn ói vì động cơ tâm lý, làm nũng mẹ.

Các cháu lớn hơn nếu bị nôn ói kèm theo đau bụng và sốt có thể do các bệnh đau ruột thừa, đau màng óc, viêm gan…

163. Béo bệu.

Các cháu Bé béo bệu (mập ú) là vì ăn nhiều quá. Cũng có các cháu là con cháu những gia đình có nhiều người béo mập, nhưng nếu người lớn béo như vậy thì cũng là do ăn nhiều quá mức mà thôi. Bởi vậy, để các cháu khỏi béo bệu, nên có chế độ ăn vừa đủ theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Sự béo quá của các cháu, nhất là các cháu nhỏ, không có lợi cho sức khỏe. Ðối với các cháu lớn, chúng ta nên chú ý rằng lượng thức ăn cháu ăn hàng ngày phải kể tới cả những lần cháu ăn quà vặt nữa, để rút bớt lượng thức ăn trong các bữa chính đi.

Việc chữa béo cũng khó vì cần có sự quyết tâm và tự nguyện của người béo, có đủ tinh thần chống cự cám dỗ của thức ăn cùng sự giúp đỡ và hỗ trợ của các người thân chung quanh.

164. Tật nguyền.

Một cháu bé không may có thể bị tật nguyền làm giảm trí thông minh, giảm sức lực, giảm khả năng cảm giác của mắt, tai v.v…

NHỮNG DẤU HIỆU BÁO ÐỘNG

– Ðể ngăn ngừa các tật nguyền, các bác sĩ thường yêu cầu bố mẹ các cháu nhỏ phải chú ý phát hiện những triệu chứng lạ, đáng báo động của các cháu trong thời gian sớm nhất, ngay từ những tuần lễ đầu hay tháng đầu sau khi sinh.

Những triệu chứng này có thể khi có, khi không trong 3 tháng đầu tiên nên phải theo dõi liên tục. Thí dụ các hiện tượng cổ của Bé quá yếu không giữ được đầu thẳng, khó ngồi, khó đứng v.v…; các cử động tay chân, cử động quay người, sự chú ý tới mọi hoạt động chung quanh, tới ánh sáng; mầu sắc v.v.. có những biểu hiện khác thường. Hiện nay, người ta có nhiều phương pháp phát hiện được các cháu bé bị yếu về một mặt nào đó NHƯ: NHÌN KÉM, NGHE KÉM, KHÔNG CHÚ Ý ÐƯỢC V.V…

NẾU CON MÌNH BỊ TẬT NGUYỀN

– Nên có thái độ như thế nào? khi có đứa con bị tật nguyền, chính bố mẹ là người cần được an ủi để chấp nhận sự việc và bình tĩnh nghĩ tới cách chữa trĩ và săn sóc cho cháu bé sau này. Xã hội nào cũng có các tổ chức dành riêng CHO CÁC CHÁU NHƯ VẬY. BỐ MẸ các cháu nên tìm hiểu về các tổ chức này, để đưa các cháu tới sinh hoạt, không nên tách mình hoặc tách các cháu ra khỏi các hoạt động của cộng đồng. ĐÓ LÀ CÁCH XỬ SỰ của những người bi quan, không có ích gì cho các cháu.

Trang sách này không thể nói hết mỗi trường hợp vì có NHIỀU LOẠI TẬT BỆNH.

Ở NƯỚC nào cũng có các địa chỉ các tổ chức như: Hội các phụ huynh có con bị tật nguyền; Trung tâm các trẻ bị liệt; Hội cứu trợ các trẻ bị bệnh về cột sống, về thần kinh v.v… rất có ích cho gia đình các trẻ bị tật.

Việc săn sóc và chữa trị cho các trẻ tật nguyền phải dựa vào nguồn tài chính của bố mẹ là chính. Nếu bố mẹ không đủ khả năng, họ có thể nhờ sự giúp đỡ của các hội từ thiện để được hỗ trợ. Thường người ta phân biệt các mức hỗ trợ dựa vào tình hình của cháu bé:

– Cháu cần phải có người săn sóc hàng ngày nhưng không cần LÚC NÀO CŨNG PHẢI Ở LIỀN BÊN CHÁU HOẶC PHẢI Ở LIỀN bên cháu;

– Cháu bị tật nặng, cần phải được săn sóc bằng các phương tiện kỹ thuật cao, thuốc thang đắt tiền;

– Tiền phí tổn bố mẹ các cháu có thể gánh được bao nhiêu? cần được hỗ trợ một phần hay tất cả?

– BỐ MẸ CÁC cháu có thể tham gia săn sóc các cháu không? có thể nghỉ việc để ở GẦN CÁC CHÁU KHÔNG?

165. Bị đối xử tệ.

Hiện nay, người ta quan niệm rằng một đứa trẻ bị đối xứ tồi tệ căn cứ vào các hiện tượng sau: cháu bé bị đánh đập hoặc bị bỏ rơi, để cho thiếu ăn, thiếu mặc, không được săn sóc về mặt tinh thần; bị lợi dụng tình dục.

Các tổ thức xã hội đã đề ra nhiều biện pháp để bảo vệ quyền lợi của trẻ em và trao nhiệm vụ cho các ngành y tế và luật pháp để theo dõi và phát hiện. Các tổ chức này thường chú ý đặc biệt tới các gia đình có thể liên quan tới vấn đề này.

NHỮNG VẤN ĐẾ LIÊN QUAN TỚI DA

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

VII. NHỮNG VẤN ĐẾ LIÊN QUAN TỚI DA

106. Vết trên da trẻ mới sinh.

Khi mới ra đời, da trẻ em thường có những vết có màu: vết màu đỏ thẫm như màu rượu vang, có nhiều chấm nhỏ hoặc từng mảng ở GÁY, TRÁN, DA ÐẦU… DO CÁC MẠCH MÁU nhỏ (mao mạch) dưới da bị giãn nở. Những vết này sẽ hết dần dần. Có CHÁU TỚI 1 2 NĂM MỚI HẾT: ÐÓ LÀ những vết bớt, nết ruồi hay vết chàm. Nốt ruồi to hoặc nhỏ, có thể xuất HIỆN Ở MỌI NƠI TRÊN CƠ thể. Cần hỏi bác sĩ chuyên khoa da, vì việc chữa trị tùy trường hợp có NHIỀU HAY ÍT, Ở MỖI CHÁU MỖI KHÁC. (NAEVUS).

VẾT CHÀM hay thấy ở lưng dưới. Những vết chàm này cũng sẽ hết dần khi các cháu lớn lên.

107. Vết bớt hay chàm đỏ.

Da các cháu mới sinh có thể có các chấm hoặc mảng màu đỏ sẫm: đó là các vết bớt còn gọi là chàm đỏ. Bớt do sự phì đại của các mạch máu nhỏ dưới da có dạng phẳng như da, có dạng nổi trên da. Những vết chấm hay thấy ở trán, cổ, gáy, chân tóc trẻ sơ sinh có thể tự mất đi sau vài tháng tuổi, có khi phải sau một vài năm.

Tuy rằng một số vết bớt khó coi, làm giảm sự xinh xắn của các cháu, nhưng bác sĩ nào cũng khuyên các bà mẹ phải kiên nhẫn, chờ đợi, tránh không nên can thiệp tới bằng bất cứ biện pháp gì.

Nếu vết bớt ngày càng lan rộng và có hiện tượng chảy máu thì nên tới bác sĩ chuyên khoa về da để hỏi cách chữa trị. Ngày nay, người ta có thể dùng tia laze để chữa trị hiện tượng này.

108. Hiện tượng tím tái của trẻ sơ sinh.

Da của Bé có thể có các vùng tím hay xanh. Í T THÌ Ở ÐẦU CÁC NGÓN TAY HOẶC MÔI: hiện tượng này chứng tỏ máu thiếu ôxy vì sự hô hấp hoặc sự tuần hoàn (tim) của cháu chưa tốt. Nếu hiện tượng này chỉ có rất ít thì do lạnh, làm các mạch máu bị co lại.

Nếu hiện tượng tím tái có từ khi cháu mới sinh và cứ duy trì mãi không thấy đỡ, thì có thể phải tìm hiểu về các bệnh tim bẩm sinh.

Nếu hiện tượng trên xảy ra bất chợt và nghiêm trọng thì có thể do các nguyên nhân: ngạt thở vì vật lạ, đau họng, viêm đường hô hấp…

109. Chứng vàng da của trẻ sơ sinh.

Sau khi sinh được mấy ngày, nhiều cháu bé có mầu da mỗi ngày một vàng thêm: đó là chứng vàng da của trẻ sơ sinh, một sự cố không quan trọng mà người ta biết rõ nguyên nhân.

Khi ra đời, đứa bé mang theo trong người một số hồng huyết cầu dự trữ. Hồng huyết cầu là những phần tử trong máu có nhiệm vụ nhận ôxy từ phổi mang tới mọi nơi trong cơ thể, và luôn luôn được thay thế bởi những lớp mới. Trong cơ thể đa số trẻ em, việc loại bỏ các hồng huyết cầu già ở lá lách và ở gan được tiến hành bình thường. Nhưng, một số ít các cháu có bộ gan còn non yếu chưa làm được đầy đủ nhiệm vụ này khiến một số muối mật sinh ra trong quá trình hủy diệt hồng huyết cầu bị tích tụ ở máu làm cho da các cháu có màu vàng.

Những hiện tượng trên có thể sẽ hết trong vòng mấy ngày sau, khi các cơ quan trong cơ thể cháu bé quen dần với công việc.

Một số các cháu khác có thể bị dị tật bẩm sinh ở các đường ống dẫn mật khiến những chất muốí mật đã được gan biến đổi và thải ra không xuống được ruột làm cho phân có mầu nhợt hoặc mầu trắng.

110. Rôm sảy

Ở vùng cổ và lưng các cháu bé thường có những nốt mẩn đỏ, do mồ hôi gây ra. Các nốt này sẽ chóng lặn hết nếu giữ gìn cho da các cháu sạch và khô.

111. Da: ngứa ngáy, mẩn đỏ.

Da trẻ em, nhất là cháu sơ sinh rất mỏng nên dễ bị tổn thương vì các nguyên nhân gây ra từ phía ngoài cũng như từ bên trong cơ thể. Theo năm tháng, lớp da sẽ đỡ mỏng manh hơn, nhưng vẫn là một lớp mô nhạy cảm dễ bị phát ban, dị ứng hoặc là nơi biểu hiện triệu chứng của một số bệnh như sởi, lên đậu… Một số bệnh khó xác định và khó chữa, nên các bà mẹ săn sóc cháu nên nhận xét để mô tả được rõ ràng với bác sĩ.

LOẠI DA ÐẶC BIỆT NHẠY CẢM

– Có nhiều Bé có loại da đặc biệt nhạy cảm tới mức chỉ sờ lên da Bé cũng làm làn da ửng đỏ một lát. Do đó việc cọ sát da cháu bằng miếng vải, sức một ít nước thơm hay dầu thơm, tắm cho cháu bằng xà phòng có hóa chất thơm, cháu bị toát mồ hôi, nước tắm có pha ít nước hoa Cologné v.v… cũng làm da cháu bé phản ứng.

Cổ, cổ tay, cổ chân, vòng bụng là nơi dễ bị kích thích nhất. Muốn làm cho da Bé dày dặn hơn, nên cho Bé đi chơi ở ngoài trời luôn, cho Bé tắm nắng nhưng hãy coi chừng và có giới hạn để tránh bị cháy nắng hay say nắng.

– MẨN ĐỎ VÙNG MÔNG – Mông Bé là điểm hay có mồ hôi, bị đẫm nước tiểu khi cháu tè dầm không được thay tã lót ngay, nên hay bị mẩn đỏ: da đỏ, đùi đỏ, đỏ ở rãnh giữa 2 mông, ở những nếp nhăn. Những nốt đỏ hơi phồng lên và lõm ở giữa, đôi khi cũng xuất hiện khi Bé mọc răng, hoặc trên toàn bộ lớp da tiếp xúc với ghế khi Bé ngồi.

ĐỂ BÉ KHỎI MẨN ÐỎ, n ên : thay tã lót luôn, lau ghế luôn, dùng pommát sát trùng bôi lên chỗ mẩn đỏ. Khăn trải giường (nếu dùng cho Bé) cũng nên thay luôn, ghế Bé ngồi thỉnh thoảng nên mang phơi nắng.

Sau khi tắm cho Bé nên lau thật khô hay sấy cho Bé bằng cái sấy tóc, nhưng phải hết sức cẩn thận không làm Bé bỏng.

Nếu chỗ mẩn đỏ cả tuần lễ chưa khỏi thì nên hỏi bác sĩ, không cần thay đổi chế độ ăn của Bé .

– MẨN ĐỎ Ở CỔ, NÁCH VÀ SAU TAI – Những chỗ mẩn đỏ bóng và có nước. Bạn hãy chú ý coi cổ áo của Bé có chật quá không, không năng tắm rửa và mồ hôi là nguyên nhân của những chỗ mẩn đỏ này.

Hãy thay quần áo tã lót cho cháu sau khi tắm kỹ bằng loại xà phòng có nhiều tính chua (axít), rồi dùng dung dịch sát trùng loại éosine 1% bôi cho cháu.

Chỉ nên mặc cho cháu những quần áo bằng vải, từ các chất liệu thiên nhiên như bông, len chứ không nên dùng các chất liệu tổng hợp.

– BÉ CÓ NHỮNG CHẤM ĐỎ VÀ NHỮNG MỤN NHỎ TRẮNG CHẢY NƯỚC , ở gáy, lưng, đôi khi ở vòng quanh bụng chỗ vẫn quấn khăn quanh rốn làm cháu luôn cựa quậy, ngủ không yên giấc: tránh đắp cho Bé nhiều chăn quá hoặc đặt Bé trong phòng nóng quá. Tắm cho Bé bằng xà phòng có tính axít hoặc nước pha chanh (để có tính axít). Cho cháu tấm nắng vừa phải, mỗi ngày.

Nếu da cháu vẫn chảy nước, cần đi khám bác sĩ.

– CẦN NÓI GÌ VỚI BÁC SĨ?

Nếu bạn liên lạc với bác sĩ qua điện thoại, nên nói ngay cháu bé mấy tháng, mấy tuổi? Vì có một số bệnh chỉ xuất hiện ở một độ tuổi nào đó. Hãy cho bác sĩ biết thêm: cháu bé có sốt không? Chỗ da chảy nước thế nào? Bé đã uống THUỐC GÌ CHƯA?

– SỐT

– Lấy nhiệt độ cho Bé. Thường thì các bệnh ngoài da không làm trẻ sốt. Nếu những nốt mẩn ngoài da lại kèm theo sốt thì Bé đã mắc bệnh như: sởi, nhiễm khuẩn,… Biết thân nhiệt của bé khi sốt, bác sĩ sẽ dễ chẩn đoán bệnh.

Những nốt mẩn đỏ có thể mất đi sau vài giờ, như ở bệnh sởi. Bởi vậy, trước khi nói chuyện với bác sĩ, bạn cần phải nhớ lại những điều sau

– Những nốt đỏ mọc ở đâu? khắp người Bé hay chỉ có ở mông? ở những vết nhăn trên đùi, tay? ở cổ, trên mặt, ở lông mày, quanh miệng, sau tai? Những nốt mẩn bắt đầu ở đâu trước tiên ? Lan ra tới đâu?

Ấ N TAY VÀO CÓ HẾT ÐỎ KHÔNG?

– Cỡ to nhỏ của nốt mẩn: bằng đầu mũi kim hoặc lớn hơn?

– Mầu: đỏ, đỏ tím hay đỏ sẫm… ?

– Những nốt đỏ rời nhau hay từng mảng?

– Nốt đỏ có phồng lên, có vảy không ? Bé có gãi không?

– Sờ vào những nốt đó thấy nhẵn hay ráp? Có chỗ nào mềm hoặc cứng không ?

Bạn có thể nghĩ rằng những nhận xét trên không quan trọng, nhưng chính chúng lại giúp cho bác sĩ xác định được bệnh vì mỗi bệnh có những điểm riêng chỉ khác nhau một vài chi tiết nhỏ.

112. Chứng nổi mụn ngứa.

Cháu bé không ngủ được vì ngứa, gãi. Do vậy, đôi khi cháu không chịu ăn, đi tướt hoặc ngược lại đi táo. Trên da cháu, xuất hiện những nốt phồng nhỏ đường kính chừng lmm, màu đỏ, mọc khắp người trừ phần da đầu: đó là chứng mụn ngứa. Khi phát triển, mầu các nốt mụn ngứa thành đỏ thẫm, đôi khi có vẩy vàng, cứng, sờ vào thấy nháp tay. Khoảng từ 8 tới 10 ngày sau mụn ngứa lặn để lại những vết đỏ, rồi vết này cũng nhạt dần.

Các cháu nhỏ thường bị nổi mụn ngứa nhiều lần, cách quãng nhau vài ngày hay hơn.

Chứng mụn ngứa có thể vì nguyên nhân tiêu hóa không tốt hoặc dị ứng do bị côn trùng đốt.

Với các trẻ sơ sinh, không cần thay đổi chế độ ăn nếu không có ý kiến của bác sĩ. Những chỗ ngứa nhiều, có thể bôi thuốc đỏ Mercurochrome hoặc cồn iốt 1%. Nếu chỗ ngứa bị nhiễm trùng hay sây sát nên dùng băng dính che lên trên.

Các bà mẹ nên kiên nhẫn và yên tâm; thế nào rồi các mụn ngứa cũng sẽ lặn hết.

Trong trường hợp cháu bị nhiều quá, bác sĩ thường cho các cháu uống thuốc cho đỡ ngứa và nếu cần, chuyển qua bác sĩ chuyên bệnh ngoài da và dị ứng.

113. Dị ứng.

Dị ứng nói chung là phản ứng của cơ thể chống lại sự xâm nhập của các “chất lạ” vào cơ thể, bằng cách sinh ra các kháng thể. Những chất lạ còn được gọi là các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể qua da, đường hô hấp (mũi, khí quản, phổi) và đường tiêu hóa. Dị ứng da thể hiện ra ngoài theo các dạng eczema, mẩn đỏ, phù da, mụn loét.

Những chất lạ gây dị ứng da bao gồm các hóa chất như phấn, kem bôi da để trang điểm, vải mặc tổng hợp, các thuốc pom-mát v.v…, các dược phẩm uống hoặc tiêm chích. Một số thực phẩm không thích ứng với từng người như thịt bò, tôm, cua, cá…

Những biểu hiện dị ứng của bộ máy hô hấp là: ho, hen, viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản.

Những chất lạ gây dị ứng đường hô hấp có thể là phấn hoa, lông gà vịt, lông chó mèo, bụi trong nhà, ngoài đường, vi khuẩn, vi trùng, mốc.

Bộ máy tiêu hóa bị dị ứng có các biểu hiện: tiêu chảy trong thời gian ngắn hoặc tái đi tái lại, nôn ói, đau bụng kèm theo dị ứng da như mẩn ngứa. Dị ứng thêm đường hô hấp ít khi xảy ra.

Những chất gây dị ứng thường là thực phẩm hoặc có trong thành phần thực phẩm như chất prôtêin trong sữa bò, lòng trắng trứng, cá, thịt, các đồ biển; một số quả, lạc (đậu phộng), ngũ cốc các loại…

Muốn chữa trị dị ứng, bác sĩ phải hỏi bệnh nhân tỉ mỉ về nề nếp sinh hoạt, để biết được thường bệnh nhân bị dự ứng trong các điều kiện nào, ở chỗ nào, sau khi ăn gì. Từ đó truy tìm và xác định “chất lạ” là chất gì, ở đâu.

Ngoài ra, bác sĩ còn phải tìm “chất lạ” cả trong máu và tiến hành việc cấy vào dưới da một số chất dễ gây dị ứng để thử nghiệm. Ðối với trẻ em, việc cấy thử như vậy rất khó thu được kết quả.

Chữa trị dị ứng là một việc làm đòi hỏi một thời gian lâu, phức tạp dù việc làm có vẻ như đơn giản: tìm ra “chất lạ”, nguyên nhân của dị ứng rồi tránh xa để đề phòng. Người ta cũng dùng phương pháp tiêm chích các thuốc chống dị ứng với liều lượng ngày một tăng.

Dị ứng cũng là một chứng bệnh gia truyền nên có thể biết ngay từ lúc đứa trẻ mới sinh bằng cách thử máu. Sau đó, để tránh cho các cháu khỏi có các triệu chứng của bệnh này, thì tốt nhất là cho các cháu bú sữa mẹ.

(Dị ứng được trình bày thêm trong các mục HEN , ECZEMA VÀ MẨN NGỨA ).

114. ECZEMA.

ECZEMA có những triệu chứng khác nhau tùy theo độ tuổi của đứa trẻ Bé mới mấy tháng hay đã được hơn 2 năm.

– Ðối với các cháu lớn từ 2 tuổi trở đi, eczema thường biểu hiện ở các chỗ gấp chân, tay: da đỏ, thoạt đầu ướt, chảy nước, sau đó, khô đi và ngứa làm đứa trẻ khó chịu, không ngủ được.

Eczema tiến triển trong một thời gian dài, từng thời kỳ và một số trường hợp, kèm theo bệnh hen.

Việc chữa trị đòi hỏi một thời gian lâu và thường BỊ ĐI BỊ LẠI.

ECZEMA Ở CÁC CHÁU SƠ SINH – Từ tháng thứ 2 – 3 trở đi. Thường các cháu bị ở đầu, má, trán, cằm, có thể phát triển tới vai, tay, lưng bàn tay, ngực… Nhưng phần lớn hay bị ở đầu.

Thoạt đầu da cháu bé đỏ lên rồi có những đốm nhỏ xuất hiện, Bé cảm thấy ngứa nên khóc, cựa quậy, sát má xuống giường. Những đốm nhỏ tiết ra một chất lỏng, cứng lại thành vẩy làm chỗ da đỏ khô lại nhưng vẫn đỏ và dễ có những vết nứt.

Một cháu bé có thể bị eczema ngay từ năm đầu và bị đi bị lại từng đợt. Tới tháng thứ 18, cháu bé khỏi nhưng lại có thể bị bệnh HEN TIẾP THEO. ECZEMA LÀM ÐỨA TRẺ DỄ BỊ mất nước và nhiễm trùng.

Việc chữa trị đòi hỏi sự kiên trì. Một số trường hợp cần bôi thuốc có cortisone.

Các cháu bé bị eczema không cần kiêng sữa nhưng không nên ra nắng, gió.

Trong thời gian bị eczema, tránh tiêm chích các vắc xin trừ trường hợp chích B.C.G phòng lao.

Không nên cho cháu bé lại gần, hoặc chơi cùng với các cháu mới tiêm ngừa bệnh đậu mùa và hết sức đề phòng để cháu khỏi bị lây bệnh này.

116. Mẩn đỏ.

Da trẻ em có thể bị những nốt mẩn màu hồng, xung quanh viền trắng nhạt, hơi phồng, to nhỏ tùy lúc, giống những nốt bọ ve cắn làm cho các cháu ngứa. Hiện tượng này có thể xảy ra với cả các cháu sơ sinh và có nhiều nguyên nhân. Có trường hợp vì thức ăn như trứng (nhất là lòng trắng trứng), cá, thịt ngựa, sô-cô-la, nước cam, dâu; có khi vì các dược phẩm đủ loại như thuốc uống, thuốc bôi, thuốc chích (pénicilline là một thí dụ); có khi vì cháu bé tiếp xúc với những hóa chất hoặc cây cỏ. Với sự cộng tác của bác sĩ, các bà mẹ hoặc người trông nom cháu cần tìm ra nguyên nhân chính để cháu tránh khỏi bị mẩn đỏ sau này. Việc phát hiện nguyên nhân, thường khi rất khó.

Ðể các cháu đỡ ngứa, có thể cho cháu uống một thìa cà phê xi rô chống dị ứng (antihistaminique).

Bệnh giun sán (sán lải) cũng gây mẩn đỏ ngoài da. Hiện tượng mẩn đỏ có thể có cả ở mặt, bộ phận sinh dục… Nếu bị ở họng, cháu bé sẽ khó thở cần phải được chữa trị ngay.

116. Ghẻ.

Chúng ta không nên coi đó là một việc đáng xấu hổ nếu bác sĩ cho biết: cháu bé bị ghẻ. Ghẻ rất dễ lây, ở bất cứ chỗ nào, bất cứ vật gì cháu bé đã tiếp xúc: quần áo, giường, ghế…

Bởi vậy cháu bé có thể đã bị lây ghẻ ngay trong nhà hoặc ở nhà trẻ, ở trường.

Chỗ da bị lây nhiễm có các mụn ngứa thường ở cổ tay, ở những chỗ có nếp nhăn ở khuỷu tay, ở sườn, nách, quanh vú, ở vai, rốn, bộ phận sinh dục, mông, gót chân, gan bàn chân.

Những chỗ ký sinh trùng ghẻ đào rãnh để đẻ trứng, da bị phồng lên màu trắng ngà, nhìn kỹ thấy có liên quan với một con đường nhỏ màu xám.

Ðể chữa trị phải năng tắm cho các cháu, sát xà phòng, chài da bằng bàn chải rồi bôi thuốc sát trùng (loại thuốc ghẻ) trên toàn thân thể.

Phải giặt, nấu các quần áo, khăn trải giường, găng tay khử trùng giày, dép của cả nhà.

Tất cả mọi người trong gia đình cần được khám xem mình có bị ghẻ không, vì chỉ chữa trị cho cháu bé thì không đủ

117. Chốc lở.

Chốc lở là bệnh ngoài da của trẻ em, do các tụ cầu trùng HOẶC LIÊN CẦU TRÙNG GÂY RA. BAN ÐẦU Ở da mọc lên một nốt rộp nhỏ. Nốt rộp to lên trong một vài giờ sau rồi vỡ thành một chấm đỏ, chảy nước, mùi tanh; bên trên dần dần đóng lại thành một lớp vẩy màu vàng, dính như sáp ong, cuối cùng thành màu xám.

CÁC CHÁU HAY BỊ LỞ Ở mặt, quanh mũi, mồm hoặc ở trên da dầu (chốc) và cả bên trong miệng nữa. Những cái vẩy đôi khi rất dày.

Chốc lở dễ lây lan. Chính bàn tay các cháu nhỏ sở vào những VẾT LỞ CỦA MÌNH Ở CHỖ NÀY, rồi lại làm lây lan ra chỗ khác ngay trên cơ thể của cháu. Bởi vậy, các CHÁU BÉ ÐANG BỊ CHỐC LỞ NÊN TẠM NGHỈ Ở nhà, không nên tới trường hoặc nhà trẻ, để tránh lây sang các bạn.

Bác sĩ thường cho thuốc bôi lên vết lở sau khi đã cậy lớp vảy đi. Người ta thường đắp lên vảy một lớp gạc tẩm va-dơ-lin một thời gian để cho vẩy mềm, trước khi làm tróc nó đi.

118. Nhọt.

Một chỗ da phồng lên, đau nhức và đỏ. Sau vài ngày phần da Ở GIỮA MỎNG ÐI, NHÌN thấy. Ở dưới có mủ: đó là nhọt. Khi nhọt vỡ, mủ trắng vàng chảy ra.

THOẠT ÐẦU Ở một điểm trên da có thể mọc lên nhiều đầu nhọt rồi mới tụ lại thành một cái duy nhất. Các cháu thường có nhọt ở ÐẦU, TRONG TÓC, Ở LƯNG, MÔNG, ÐÙI, CÁNH TAY. NẾU CHÁU bé mới mấy tháng đã có nhọt thì rất đáng ngại vì điều này chứng tỏ cơ thể cháu đã bị loại tụ cầu trùng vàng xâm nhập. Vi trùng này sẽ có thể CÒN PHÁT TRIỂN Ở TAI, RUỘT, ỐNG TIỂU, XƯƠNG HOẶC Ở BỘ máy hô hấp của cháu, gáy ra những biến chứng quan trọng hơn nữa.

Trong khi chờ đợi bác sĩ điều trị, bạn hãy dùng gạc mềm phủ lên trên nhọt để tránh quần áo cọ vào và lây lan ra những chỗ khác.

Dù chỉ có nhọt, nhưng cháu bé cũng cần được khám sức KHỎE TOÀN BỘ.

NGƯỜI LỚN CÓ NHỌT KHÔNG NÊN lại gần các cháu sơ sinh, không được săn sóc hoặc trực tiếp cho các cháu ăn, uống.

Nếu chính bà mẹ bị nhọt, phải chú ý rửa tay, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với Bé. Nếu một bên ngực có nhọt thì chỉ cho bú bên vú không có nhọt.

119. Á P XE.

Áp xe là một bọc kín như một cái túi, có chứa mủ, do tế bào và các bạch huyết cầu bị chết sau những trận chiến đấu với các vi trùng đột nhập vào cơ thể tạo thành (thường là loại tụ cầu khuẩn staphylocoque). Ðiểm cơ thể bị áp xe thường cách với các cơ VÀ MÔ LÀNH KHÁC BỞI MỘT VÙNG BỊ TẤY ÐỎ..

Á P XE Ở dưới da. Chúng ta có thể theo dõi dễ dàng sự tiến triển của nó. Trong giai đoạn đầu, khi mủ đang hình thành và tụ dần vào một điểm, LỚP DA Ở ÐÓ BỊ TẤY ÐỎ, nóng, sưng và đau nhức. Khi mủ đã tích tụ lại một nơi, vùng này trở nên mềm hơn – nếu là cái nhọt, người ta thường nói nhọt đã “chín” – Lúc này, cần phải nhể hay chích để cho mủ thoát ra ngoài. Nếu ta không làm thế, áp xe cũng có thể tự vỡ. Khi mủ đang tích tụ lại, người bệnh thấy đau, nhức và có thể sốt.

Tóm lại, có thể nhớ 4 triệu chứng đặc trưng là: sưng – nóng – đỏ – đau.

Trên đây là sự mô tả hiện tượng bị áp xe “nóng”. Có khi sự tiến triển của áp xe rất chậm và lâu khiến người bệnh không chú ý: đó là loại áp xe “nguội”.

Da của trẻ sơ sinh và của trẻ em rất mỏng manh, một vết xước nhỏ, một mũi kim chích cũng có thể mở đường cho sự viêm, nhiễm. Do đó, để phòng bệnh cho các cháu, cần phải giữ gìn cho da các cháu luôn sạch sẽ. Phải rửa sạch các đồ chơi. Người lớn tiếp xúc với các cháu cũng phải chú ý có đôi bàn tay sạch.

Nếu thấy có chỗ nghi cháu bị viêm nhiễm, phải đưa cháu tới bác sĩ. Trong khi chưa có bác sĩ, có thể lau hoặc đắp lên chỗ bị viêm bằng những miếng gạc tẩm nước ấm có pha cồn để làm giảm đau và hạn chế khu VỰC BỊ VIÊM.

Áp xe là điểm bị viêm nhiễm, dù nhỏ cũng không nên coi thường, vì đó là cửa vào của các vi trùng. Chúng CÓ THỂ ÐỊNH CƯ Ở ÐẤY hoặc phát triển tới mọi nơi khác của cơ thể gây ra các bệnh khác như viêm xương, viêm phổi v.v…

Nếu con bạn bị viêm nhiễm luôn luôn, đó là vì sức đề kháng của cơ thể cháu yếu.

Ðiều này có thể liên quan tới một căn bệnh nào đó như bệnh tiểu đường hay suy giảm miễn nhiễm chẳng hạn. Các căn bệnh này có thể có tính chất ngắn hạn hoặc dài lâu.

120. Mụn cơm.

TRẺ EM THƯỜNG CÓ MỤN CƠM Ở bàn tay và bàn chân, giống như những lớp chai. Một số mụn nhỏ MÀU HƠI VÀNG, BẸT CÓ THỂ CÓ Ở bất cứ chỗ nào trên thân thể.

Những mụn cơm này lây vì nguyên nhân có thể là do vi rút. Nước là môi trường tốt cho hiện tượng lây lan. Bởi vậy, không nên tắm cùng một lúc cho 2 trẻ em, nếu một cháu có hạt cơm.

Có thể làm cho những mụn hạt cơm biến đi bằng cách lấy bông thấm cồn i-ốt hoặc mỡ Salicylic rồi đắp vào buổi sáng và buổi tối lên trên chỗ có mụn. Bác sĩ còn có thể khử mụn bằng ni tơ lỏng, hoặc bằng phương pháp phẫu thuật.

Phần nhiều trường hợp, cứ để tự nhiên rồi chúng cũng lặn đi.

121. Mụn rộp.

Nhiều mụn màu đỏ, nổi lên thành cụm như những đầu đanh ghim, tròn, bóng. Khi các mụn trở thành trong suốt, chỉ có phần chân mụn là đỏ, thì cả đám khô nhanh, thành vảy màu xám và sẽ khỏi trong vòng 10 ngày.

Những mụn rộp như thế thường thấy ở MIỆNG (CHỐC MÉP), Ở MẮT VÀ CẢ Ở bộ phận sinh dục. Người lớn cũng hay mắc phải.

Bệnh dễ lây vì do một loại vi rút gây ra. Ðối với các trẻ sơ sinh, bệnh mụn rộp rất nguy hiểm vì vi rút có thể tấn công hệ thống thần kinh của các cháu bé. Bởi vậy, nếu bà mẹ bị bệnh này khi có mang, khi sanh con, khi cho con bú đều phải có biện pháp phòng bệnh cho con.

CÁC CHÁU BÉ BỊ MỤN RỘP Ở miệng thường kèm theo sốt hoặc ho. Hiện nay, ngành y đã có một loại thuốc có tác dụng mạnh tới vi rút của bệnh này là Zovirax.

122. Bỏng dạ.

Bỏng dạ là một bệnh ngoài da thường gặp ở CÁC CHÁU MỚI SINH HOẶC TRONG TUỔI BẾ ẵm. Thoạt đầu, da có một chấm đỏ phát triển nhanh thành một bọng nước bằng hạt lúa mì . Sau vài giờ bọng vỡ ra để lại một vết mẩn đỏ, ở GIỮA CÓ MỘT VÒNG TRÒN NHỎ MẦU ÐỎ tía, chảy nước. Các nốt này có thể mọc lan khắp người trừ gan bàn tay và bàn chân. Sau 8 tới 10 ngày, da sẽ trở lại bình thường.

Bỏng dạ là một bệnh rất dễ lây nên thường gặp ở NHIỀU CHÁU BÉ TRONG CÙNG MỘT THỜI GIAN tại những tập thể như nhà hộ sinh, nhà giữ trẻ v.v… Bé bị bệnh có thể sốt tới 38o-39oC hay hơn nữa. Bé không chịu ăn và có thể bị rối loạn tiêu hóa.

Bệnh này cũng do liên cầu trùng streptocoque hay tụ cầu trùng staphylocoque gây ra, nên bác sĩ sẽ cho Bé uống thuốc kháng sinh. Nếu không chữa tri cẩn thận, bệnh cũng có thể có những biến chứng rắc rối hơn.

123. Bỏng.

Ðể xác định bị bỏng nặng hay nhẹ, người ta dựa vào 2 điều: vết bỏng rộng hay hẹp? nông hay sâu?

Sự nghiêm trọng tức khắc của vết bỏng là tùy ở DIỆN TÍCH BỊ BỎNG, CÓ THỂ GÂY CHOÁNG VÀ MẤT NƯỚC. Ở MỘT CHÁU bé, diện tích da các phần cơ thể như sau :

– Ðầu : 18%

– Ngực: 18%

– Lưng: 18%

– Mỗi cánh tay: 9%

– Mỗi bên chân: 14%

Nếu diện tích bị bỏng của cháu bé trên 5%, cần phải đưa đi bệnh viện.

Bỏng trên bề mặt da được gọi là bỏng cấp 1, tuy đau nhưng dễ lành. Sau hơn 10 ngày chỗ bỏng để lại những vết sẹo mầu đỏ.

Những vết bỏng sâu (bỏng cấp 2), lâu lành hơn, từ 15-20 ngày. Những vết bỏng này có liên quan tới da, thịt và có thể cả xương. Khi chữa trị, có khi phải ghép các mô và công việc này cần thực hiện thành nhiều đợt.

Bỏng sâu là bỏng nặng, làm co da, thịt, sau khi khỏi ở MỘT SỐ NƠI NHƯ: MẶT, CỔ, NHỮNG CHỖ có nếp gấp (nách, khuỷu) bàn tay, ngón tay, ngực. Tuy vậy, bị bỏng cấp 1 nhưng trên diện tích lớn có khi nguy hiểm hơn bỏng cấp 2, mà diện tích nhỏ.

Nguyên nhân bỏng đối với trẻ em thường là bị các đồ dùng nấu nước, thức ăn lỏng sôi, dội lên người, sờ tay vào ấm nước sôi, bàn là (ủi) v.v…

Các trường hợp bỏng vì hóa chất (chất tẩy rửa, axít…), BỎNG VÌ ÐIỆN THƯỜNG BỊ Ở NGÓN TAY, Ở MIỆNG TUY DIỆN TÍCH nhỏ nhưng là những vết bỏng sâu.

Ðề phòng bỏng cho các cháu là biện pháp tốt nhất.

Việc này chủ yếu là do sự chú ý cẩn thận của người lớn, việc tuyên truyền nhắc nhở mọi người qua hệ thống thông tin (rađiô và tivi) về việc giữ gìn các cháu nhỏ xa các chỗ đun nấu, các vòi nước nóng, các đồ điện, các hóa chất sử dụng trong gia đình.

Làm gì khi cháu bé bị bỏng?

– Trường hợp bỏng trên da (cấp 1): bọc cháu vào một tấm vải sạch để chuyển cháu tới nơi cấp cứu. Không cố gắng cởi bỏ quần áo cháu ra.

Trường hợp vết bỏng nhỏ, không sâu, nhẹ: rửa nhẹ bằng loại xà phòng sát trùng rồi băng bằng loại băng mềm, xốp để có thể thay băng 2-3 ngày một lần.

124. Bệnh Dôna.

Bệnh Dôna biểu hiện bởi các mụn nhỏ tập trung ở VÙNG NGỰC, VÀNH TAI, Ở TRÁN HOẶC Ở lông mày. Những mụn rộp này sẽ tự khô nhanh tạo thành những cái vẩy. Nhưng vẩy này sẽ bong ra vào khoảng 10 ngày sau, không gây khó chịu hay đau nhiều cho các cháu.

Chứng này do các virút gây ra có lẽ cùng loại với vi rút gây ra bệnh thủy đậu. Rất có thể, có sự liên quan và lây lan giữa 2 chứng thủy đậu và dôna.

125. Hạch.

Hạch là những điểm phồng chúng ta có thể sờ thấy dưới da Ở CỔ, DƯỚI TAI, DƯỚI HÀM, DƯỚI CÁNH TAY, Ở NÁCH, Ở BẸN. ĐÓ CŨNG LÀ NHỮNG ÐIỂM SẢN XUẤT bạch huyết cầu của máu có khả năng chống sự viêm nhiễm. Trẻ em khi bị ho, viêm họng, viêm tai, sởi…. thường có những hạch nổi lên ở CỔ.

CÁC CHÁU HAY CÓ HẠCH Ở CỔ, Ở NÁCH VÀ Ở HÁNG. HẠCH CÓ THỂ BẤT chợt đỏ, nóng và đau đó là viêm hạch do vi trùng gây ra thường gây sốt và phát triển như một áp xe có khi cần phải chích ra.

Những hạch cứng, không đau, lâu không tan thuộc loại viêm hạch mãn tính, cần phải cho bác sĩ biết.

Những trẻ em hay có hạch mỗi khi đau hoặc có bệnh gì thường là các cháu yếu, vẻ mặt xanh xao, hay mỏi mệt, sức khỏe kém.

Những loại bệnh như sởi, bệnh tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm trùng bệnh toxoplasmose… có thể gây phản ứng cho cơ thể, tạo ra nhiều hạch.

126. Rát vì lá han.

Nếu cháu bé nghịch phải những lá han – một loại lá có lông dễ cắm vào tay chân người đụng chạm tới nó gây nhức rát – hãy đắp lên chỗ da bị rát một khăn tẩm nước có pha giấm. Nếu cháu bị đau nhiều, cho uống aspirin (nếu bác sĩ đồng ý) hoặc một loại thuốc chống dị ứng (antihistamine) .

127. Bệnh vẩy Leiner-moussous.

Bệnh này còn gọi là bệnh “hai cực” vì các cháu bé THƯỜNG BỊ Ở PHẦN THÂN dưới như mông, đùi rồi lại tới phần trên như đầu, tóc, ngay khi cháu mới sinh được vài tuần.

Ðây là một bệnh ngoài da: da nhẵn khác thường và đổ mồ HÔI, ẦM VÀ ÐỎ. MỚI ÐẦU Ở MÔNG, bộ phận sinh dục, đùi trong, bụng. Sau tới đầu: phần da đầu, lông mày có những vẩy nhờn, bóng mầu vàng sẫm. Khi những vẩy này bong ra, phần da ở CHỖ ÐÓ ÐỎ ỬNG. HIỆN TƯỢNG NÀY CÓ THỂ XẢY RA Ở MỌI NƠI CÓ vết nhăn như cổ, nách, sau tai hoặc toàn thân.

Cháu bé không sốt và vẫn có vẻ bình thường. Một số ít có thể đi nhiều phân hơn mọi khi.

ĐỂ CHỮA TRỊ, VẪN CHO CHÁU ĂN Ở mức bình thường. Dùng dầu thảo mộc (dầu ô-liu) lau những chỗ bị viêm rồi rửa sạch bằng loại xà phòng giàu tính axít. Bác sĩ có thể cho cháu bé dùng các thuốc bôi nước có mầu hoặc các pom-mát có chất kháng sinh.

Ðể cháu chóng khỏi, cần giữ cho da cháu thật khô. Muốn vậy, PHẢI THAY QUẦN ÁO CHO CHÁU LUÔN.

Ở BỆNH VIỆN, NGƯỜI TA ÐỂ CHÁU Ở truồng, ngoài không khí có nhiệt độ thích hợp.

Hết sức tránh làm cho cháu đổ mồ hôi như không mặc cho cháu những quần áo bằng vải không thấm, vải tổng hợp, đồ len v.v…

Bệnh này thường sẽ khỏi trong vài tháng. Nguyên nhân bệnh chưa được rõ nhưng đây là loại bệnh khác với eczema.

128. Viêm tấy và chín mé

-VIÊM TẤY: là một loại áp xe có THỂ LAN RỘNG (COI THÊM VỀ NHỌT ).


CHÍN MÉ: THƯỜNG THẤY Ở NGÓN TAY, nhiều khi chỉ là một điểm nhỏ có mủ. Tuy vậy, cũng không được coi thường và bỏ qua. Cần phải rửa sạch, giữ sạch và đôi khi phải chích để cho mủ thoát ra

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN BỘ PHẬN SINH DỤC VÀ BÀI TIẾT

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

VI. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN BỘ PHẬN SINH DỤC VÀ BÀI TIẾT

92. Bộ phận sinh dục bị sưng tấy.

Bạn có bao giờ thấy con mình hay đưa tay vào bộ phận sinh dục của nó hay không? Nếu có, chắc là Bé thấy khó chịu gì đó, chúng ta CẦN CHÚ Ý ÐỂ CHỮA TRỊ CHO BÉ.

Ở bé trai, đầu dương vật của cháu đỏ, bị sưng và đôi khi có mủ. Những cháu nào bị hẹp da quy đầu (PHIMOSIS) thường hay có các hiện tượng như trên (coi bài hẹp quy đầu (PHIMOSIS)).

Với các cháu gái, đôi khi các môi lớn bị ngứa và phồng giộp có thể có mủ chảy ra (coi bài Viêm âm hộ (Vulvite).

Cả 2 trường hợp của Bé trai và Bé gái đều cần giữ sao cho bộ phận sinh dục không bị hấp hơi, ẩm ướt: muốn vậy, không nên cho các cháu mặc quần áo chật, hoặc các loại quần áo khó thấm bằng vải tổng hợp hay cao su.

Cũng cần lưu ý, sau các buổi tắm biển mùa hè, đừng để CÁT LỌT VÀO BỘ PHẬN SINH DỤC VÀ LƯU LẠI Ở đấy.

Tắm và rửa bộ phận sinh dục cho các cháu bằng loại xà phòng giàu tính xút, nhiều khi cũng khỏi. Nếu không có kết quả, cần nói cho bác sĩ biết.

93. Tật lỗ tiểu thấp.

KHI BÉ TRAI CÓ LỖ TIỂU KHÔNG Ở GIỮA ÐẦU DƯƠNG VẬT MÀ LẠI Ở phía dưới dương vật thì cần phải phẫu thuật để tạo ra đường ống tiểu thẳng bình thường.

94. Hẹp da quy đầu.

Bình thường, lớp da bọc chung quanh quy đầu của con trai có thể kéo tuột ra đằng sau, để lộ phần đầu dương vật ra ngoài. Sẽ không thực hiện được việc làm này nếu phần da bọc bi dính vào quy đầu hoặc quá chật, chỗ bao quanh quy đầu nhỏ hơn chỗ chu vi lớn nhất của quy đầu khiến lớp da không tuột ra sau được.

Trước đây, người ta cho rằng những trường hợp như thế cần phải phẫu thuật lớp da bao quy đầu, ngay khi cháu bé còn nhỏ tuổi, để đảm bảo vấn đề vệ sinh, rửa sạch quy đầu.

Nhưng, hiện nay người ta thấy không cần thiết phải lo sớm như thế. Nhiều cháu bé có da bọc chật như vậy là điều tự nhiên. Lớp da này sẽ rộng ra khi các cháu lớn lên. Nếu cần, sẽ phẫu thuật cho các cháu ở ÐỘ 3 – 4 TUỔI. CHỈ CẦN THỰC HIỆN SỚM hơn nếu, vì lớp da quá hẹp mà khi cháu bé đi tiểu, nước tiểu làm phồng quy đầu, khiến nước tiểu khó thoát ra.

Phẫu thuật cắt mở rộng da quy đầu sớm quá có thể dẫn đến những sự trục trặc về sau này như : lớp da tụt xuống vĩnh viễn không trở lại được vị trí cũ để bao bọc và bảo vệ quy đầu nữa. Nếu lớp da này tạo thành một cái vòng thít chặt lấy đoạn gốc quy đầu cần thiết phải phẫu THUẬT CẤP CỨU ÐỂ GIẢI TỎA SỰ TUẦN HOÀN Ở quy đầu.

Khi da bọc quy đầu bị sưng đỏ, tiểu thấy đau rát, có mủ, người ta thường chữa trị bằng thuốc bôi sát trùng sau khi rửa sạch.

95. Cắt da quy dầu.

Tiểu phẫu thuật cắt da quy đầu của đứa trẻ mấy ngày sau khi sinh chỉ là tục lệ của người Do Thái Israel, và một số dân tộc theo đạo HỒI, KHÔNG PHỔ BIẾN Ở CÁC nước khác.

96. Tinh hoàn.

Về đôi tinh hoàn, gọi nôm na là hòn dái, có thể có những TRỤC TRẶC SAU ÐÂYỞ BÉ TRAI :

TINH HOÀN KHÔNG XUỐNG (TINH HOÀN LẠC VỊ)

Ðôi khi, trong túi đựng tinh hoàn (bìu) của cháu nhỏ, chỉ có 1 tinh hoàn. Như vậy, không phải là cháu bị thiếu, mà vì một tinh hoàn CÒN NẰM Ở PHẦN BỤNG, CHƯA tụt xuống túi. Hãy đặt cháu nằm dài trên giường, hoặc trong bồn tắm nước ấm rồi lấy tay ấn nhẹ vào phía trên bộ phận sinh dục, ngang tầm háng để làm cho một tinh hoàn nằm trong đó, tụt xuống dưới. Trước khi đến tuổi dậy thì, có thể cái “hột” này sẽ tụt xuống nằm đúng vị trí của nó ở TRONG TÚI.

Sau 6 tuổi, ít có khả năng tinh hoàn có thể tụt xuống được nữa, vì thế cần phải tiến hành một cuộc phẫu thuật nhỏ.

BÌU TO

– Các cháu trai mới sinh ra có bìu dái to vì có chất lỏng bên trong cùng với các tinh hoàn. Sau một vài tuần, chất lỏng này sẽ tiêu đi và bìu lại có kích thước bình thường.

XOẮN TINH HOÀN

– Ở TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ NHỎ CÓ TINH HOÀN bị xoắn sẽ làm cho bìu sưng to lên, màu đỏ tía. Tuy không đau mấy và không sốt, nhưng vẫn cần phải mổ gấp ngay, để cứu cho tinh hoàn khỏi bị hư hoại.

97. Viêm âm hộ, âm đạo.

CÁC CHÁU GÁI CÓ THỂ BỊ VIÊM Ở bộ phận sinh dục, có mủ từ âm đạo chảy ra. Bác sĩ thường yêu cầu lấy một ít mủ để xét nghiệm và cho cháu uống thuốc kháng sinh. Trong trường hợp bị nặng, cần xem cháu có bị vật gì lạ chọc vào âm đạo hay không.

98. Ái nam, ái nữ.

Là trạng thái của đứa trẻ ngay từ khi mới ra đời đã có bộ phận sinh dục dị dạng, không phân biệt được nam hay nữ. Sự dị dạng này bắt đầu từ khi bộ phận sinh dục được hình thành trong dạ con.

Trường hợp thường gặp nhất là bộ phận sinh dục nữ bị nam hóa có âm vật phát triển lồi ra ngoài như dương vật. Hai môi lớn chảy xệ xuống như cái bìu nhưng bên trong không có tinh hoàn.

Người ta cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này là do một chứng bệnh của tuyến thượng thận đã sản xuất ra hoóc-môn nam một cách bất bình thường, quá mức. Cũng có thể do người mẹ đã dùng thuốc chữa trị bằng hoóc-môn trong giai đoạn đầu của thời gian mang thai.

Hiện tượng này thường gây khó khăn cho các bậc cha mẹ khi ÐI KHAI SINH CHO CON, KHÔNG BIẾT KHAI LÀ NAM HAY NỮ . TỐT nhất là khai: giống chưa xác định.

Người ta thường phải đợi tới khi cháu bé lớn lên, theo dõi xem sự phát triển của cơ thể và bộ phận sinh dục của cháu thiên về phái nào nhiều hơn. Sau đó, có thể can thiệp thêm bằng phương pháp phẫu thuật để định giống cho cháu.

99. Sự lưu thông ngược cháu bàng quang – niệu đạo .

Sự lưu thông của nước tiểu từ bàng quang về thận cũng là một sự lưu thông bất thường, ngược chiều tự nhiên. Hiện tượng này thận bị tổn thương. Các cuộc xét nghiệm về X-quang có thể cho thấy bệnh nặng hay nhẹ.

Ðể chữa trĩ, bác sĩ thường cho uống những đợt thuốc kháng sinh trong thời kỳ đầu, trong thời gian một vài tháng để chống viêm niệu đạo. Nếu không khỏi, có thể cần phải phẫu thuật.

100. Viêm đường tiết niệu.

Nhiều trẻ sơ sinh bị viêm đường tiểu tiện. Không thể đòi hỏi các cháu cho biết những biểu hiện của bệnh như người lớn như đi tiểu tiện thấy rát và đi luôn v.v. .. Bởi vậy, khi thấy cháu có những cơn sốt cao mà không phải do viêm họng chẳng hạn, thì chú ý ngay. Nhiều khi bệnh của cháu chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu như không chịu ăn, mặt tái nhợt, đau vùng bụng, không hoặc kém tăng cân.

Việc xét nghiệm nước tiểu sẽ cho bác sĩ biết cháu có bị bệnh hay không. Nếu cháu bị viêm đường tiểu tiện thì phải dùng thuốc kháng sinh ngay. Bệnh này phải chữa trị lâu, phải làm xét nghiệm nước tiểu nhiều lần để kiềm tra và là bệnh khó chữa.

Ðôi khi, nguyên nhân bệnh là do bộ máy tiểu tiện của cháu có dị tật bẩm sinh. Bởi vậy, bác sĩ cần phải tiến hành dò bệnh bằng cách chụp X-quang hay dùng phương pháp siêu âm nữa. Nếu quả thật có hiện tượng DỊ TẬT Ở CÁC ỐNG DẪN TIỂU thì lại phải đưa cháu tới bác sĩ chuyên khoa về tiết niệu.

Hiện tượng đường tiểu không thông khiến có sự dồn tắc và nước tiểu chảy ngược từ bọng đái lên thận có thể là nguyên nhân của các cơn đau đi đau lại.

101. Axêtôn.

Axêtôn là một chất được tạo thành ở gan từ chất mỡ. Khi cơ thể có một lượng axêtôn bất thường thì hơi thở sẽ phảng phất mùi rượu táo. Người ta có thể phát hiện axêtôn trong nước tiểu bằng giấy thử Labstix.

Hiện tượng dư axêtôn còn kèm theo các triệu chứng như: ói mứa nhiều lần, mệt, sốt, tái mặt.

Khi chúng ta nhịn đói, cơ thể sẽ tiêu thụ lượng mỡ dự trữ trong người cũng làm lượng axêtôn được sản xuất vượt mức bình thường. Ðối với trẻ em, chỉ cần nhịn đói qua một đêm là cơ thể cũng có hiện TƯỢNG NÀY, NHẤT LÀ Ở CÁC cháu đang ốm, sốt, không chịu ăn và bị nôn ói.

Tuy vậy, cũng nên chú ý rằng hiện tượng nôn ói liên tiếp nhiều lần cũng có thể do bị đau ruột thừa, đau màng óc, hoặc có bệnh tiểu đường, (bệnh này dễ được xác định bằng cách thử nước tiểu hoặc đo độ đường trong máu). Triệu chứng nôn ói có liên quan tới axêtôn, có thể tiến triển mạnh làm đứa trẻ có vẻ hốt hoảng, ngất vì bị mất nước nhiều.

102. Anbumin.

Khi phát hiện trong nước tiểu có chất anbumin thì đó là một dấu hiệu bất thường có thể do một bệnh về thận gây ra.

Tuy vậy, nên chú ý rằng việc thử anbumin bằng giấy thử sau khi bị viêm họng hoặc viêm phổi có thể có kết quả dương tính mặc dù lượng anbumin trong nước tiểu chưa vượt mức bình thường. Ðể xác định rõ ràng, các bác sĩ phải tiến hành đo lượng anbumin có trong nước tiểu trong vòng 24 giờ. Nếu lượng này cao hơn 0,1g thì mới đáng chú ý và còn phải thử nghiệm thêm các chức năng của bộ máy bài tiết nữa.

Kết quả thử anbumin dương tính có thể là dấu hiệu của các bệnh về thận như viêm thận cấp tính hoặc mãn tính, hoặc rối loạn chức năng thận.

103. Bệnh đái ra chất Phenylcetone

Bệnh này hiếm xảy ra, nhưng là loại bệnh trạng dẫn tới sự chậm phát triển về trí khôn. Nếu phát hiện được bệnh ngay từ những ngày đầu tiên của trẻ em sau khi sinh thì có thể tránh bệnh được, nhưng cháu bé phải giữ một chế độ ăn uống đặc biệt hàng nhiều năm tiếp theo. Bác sĩ xác định bệnh bằng những xét nghiệm nước tiểu và máu, nhất là máu (xét NGHIỆM GUTHNE). Ớ PHÁP, BỆNH VIỆN SẢN NÀO CŨNG THỰC hiện những xét nghiệm này cho các cháu sơ sinh. Bởi vậy các bà mẹ nên nhìn qua quyển sổ sức khỏe của Bé, xem Bé đã được xét nghiệm chưa.

Nếu kết quả xét nghiệm dương tính, nên yêu cầu xét nghiệm lại lần nữa cho chắc chắn, trước khi tiến hành chữa trị .

104. Ðái dầm

Trẻ em thường đái dầm vì chưa chủ động điều khiển được hoạt động của bọng đái. Ða số các cháu cứ như thế cho tới tuổi lên 4, LÊN 5. MỘT SỐ KHÔNG KIỂM SOÁT ÐƯỢC CẢ CƠ BẮP Ở hậu môn nên còn tật ị đùn nữa.

CÓ CÁC CHÁU ÐÁI DẦM CẢ BAN NGÀY LẪN BAN ÐÊM. Số đông, thường chỉ đái dầm vào ban đêm.

Nghiên cứu về vấn đề này, các bác sĩ thường tìm xem cháu BÉ CÓ BỊ TỔN THƯƠNG GÌ Ở BỘ máy bài tiết hay không. Kết quả cho thấy phần lớn các cháu nhỏ chưa thành thói quen điều khiển một cách chủ động sự bài tiết ra ngoài.

CÓ CHÁU BÉ đã thôi đái dầm một thời gian rồi lại bị lại, do những yếu tố tâm lý. Thấy bạn hoặc em bị chế giễu, cháu bé lo sợ cho mình, luôn nghĩ tới vấn đề đó và ban đêm lại đái dầm như để giải phóng khỏi sự ức chế ban ngày.

Trong khi săn sóc trẻ em, người lớn nên thông cảm với nỗi khổ tâm này của các cháu, vì chúng không muốn như thế. Không nên mắng hoặc chế giễu chúng chóng mà chỉ nên an ủi, động viên để hỗ trợ cho chúng chóng có được một trạng thái tâm lý và tinh thần mạnh khỏe và chủ động.

105. Tiểu đường.

Bệnh tiểu đường là bệ nh của cơ thể không hấp thụ được chất đường glucose từ thực phẩm. Nguyên nhân bệnh là do thiếu insulin – một loại hoócmôn do tụy tạng sinh ra. Người bệnh có các triệu chứng: cảm thấy đói, khát liên tục, người sút cân mau chóng, đi tiểu luôn và tiểu nhiều. Nếu không được chữa trị, nước tiểu sẽ có chất axêtôn và có thể bị hôn mê.

Bệnh tiểu đường dễ phát hiện bằng xét nghiệm để thấy: nước tiểu có glucô và tỷ lệ glucô trong máu cao.

Trẻ em bị bệnh tiểu đường cần phải chữa tri thật chu đáo: bác sĩ có thể chích insulin cho các cháu hàng ngày. Tiểu đường là một bệnh gia truyền. Nếu gia đình, họ hàng có người bị bệnh, cần phải đặc biệt chú ý và cho bác sĩ biết để xét nghiệm đề phòng.

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TAY, CHÂN VÀ XƯƠNG

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

V. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TAY, CHÂN VÀ XƯƠNG

76. Gặm móng tay.

Thói quen cắn móng tay thường thấy ở lứa tuổi trẻ em đã tới trường. Không phải chỉ có các cháu có tính nhút nhát, suy tư mới hay cắn móng tay. Cả các em khỏe mạnh, tính nết vui vẻ cởi mở cũng có thói quen như vậy.

Không nên la mắng các cháu và nên tìm cách xóa bỏ hiện tượng này bằng phương pháp tâm lý như chú ý xem cháu hay cắn móng tay lúc nào? Trước khi đi ngủ, khi chơi một mình ở nhà, hay ở trường? Hãy hỏi các cháu xem các cháu có khó ngủ không? Cháu có điều gì không được vừa ý ở trường không? Cháu sợ hay yêu mến các bạn, cô giáo?

Nếu bạn không quan tâm nhiều về hiện tượng này thì một thời gian sau, con bạn cũng sẽ tự động bỏ thói quen đó đi. Nhưng nếu bạn tìm được nguyên nhân tạo ra thói quen này của cháu, bạn có thể giúp đỡ cháu sớm giải quyết được một số vấn đề về tâm lý khiến tâm hồn cháu được thoải mái và vui vẻ hơn trong cuộc sống với mọi người.

77. Vết đâm do: kẹp, kim, gai hồng, gai xương rồng.

Rửa sạch bằng thuốc sát trùng. Nếu trong ngón tay có mắc lại gai hãy lấy nhíp gắp ra hoặc lể ra bằng một cái kim khâu đã hơ qua lửa để sát trùng. Sau đó, nặn cho máu chảy ra rồi rửa bằng nước sát trùng một lần nữa.

Theo dõi vết thương trong những ngày sau. Nếu bị sưng tấy đỏ và đau thì cần khám bác sĩ.

78. Bị kẹp ngón tay.

Xương ngón tay của Bé còn rất yếu ớt, nên khi an ủi cháu bé bị kẹp ngón tay phải chú ý thêm chỗ bị kẹp có gờ lên một cách bất thường không? Thường thì chỗ đó chỉ bị tím và sưng phồng.

Nếu bị gồ hay có đoạn ngón tay bị lệch, phải nghĩ tới các trường hợp giập xương hoặc trật khớp ngón, cần phải đưa ngay tới bác sĩ.

79. ĐỨT TAY, CHÂN.

NẾU VẾT ÐỨT KHÔNG SÂU

– Rửa vết thương bằng xà phòng và nước sạch. Dùng gạc (tránh dùng bông) để rửa sạch đất, cát rồi bôi thuốc sát trùng và băng lại.

Dù đã buộc băng kỹ, cũng không để cháu bé chơi dưới đất hay trên cát vì đất cát có thể lọt qua băng vào vết thương.

Thay băng mỗi ngày. Một vết thương khi khỏi sẽ khô, sạch và không còn đau nữa. Nếu vết thương đỏ, sưng tấy, có mủ cần đưa đi bác SĨ.

ÐỨT NGÓN TAY

– Khi buộc băng ở ngón tay, không được buộc chặt quá. Cần phải để máu lưu thông trong ngón tay và CÓ KHÔNG KHÍ TRÊN VẾT THƯƠNG.

TRÁNH NHỮNG VẾT SẸO KÉM THẨM MỸ

– Những vết thương sâu trên bàn tay, cánh tay, ở mặt, ở đùi sau khi khỏi có thể để lại những vết sẹo không đẹp mắt. Bởi vậy, nên tới các bác sĩ để khâu vết thương ngay từ đầu. Không nên để vết thương tự khỏi.

VẾT THƯƠNG CHẢY NHIỀU MÁU

– Coi mục XUẤT HUYẾT (HEMORRAGIE).

80. Gãy xương, bong gân và trật khớp.

Khi bị ngã, bị va chạm mạnh hoặc bị đánh, có thể xảy ra 3 trường hợp: xương bị gãy hoặc những sợi gân ở các khớp xương bị căng ra bất chợt và bị tổn thương; hoặc các khớp xương bị trật ra khỏi vị trí bình thường của chúng.

Dù cháu bị gãy xương, bong gân hay trật khớp thì cách săn sóc cháu cũng có những điểm giống nhau như sau:

– Người săn sóc cháu phải bình tĩnh để khỏi làm cháu thêm lo sợ.

– Tránh không nên xê dịch cháu, trừ trường hợp bắt buộc như cháu bị ngã ở giữa đường.

– Hỏi cháu xem cháu đau ở đâu: chỉ quan sát thôi, không nên sờ vào chỗ đau.

– Nếu có điều kiện, cố định chỗ đau và nhờ người báo cho bác sĩ hoặc cơ quan y tế, cho cơ quan công an gần nhất.

I. Trường hợp gãy chân:

ở ĐÙI, CHÂN, MẮT CÁ CHÂN

Cháu bé bị ngã khi chạy hoặc bị xe đụng mạnh, cháu cảm thấy đau chân và không đứng lên được. Quan sát chỗ Bé kêu đau, dưới lớp quần áo chúng ta cũng có thể thấy chỗ đó gồ lên. Ðể xác định rõ xem có PHẢI BÉ BỊ GẪY XƯƠNG HAY không, chúng ta có thể tháo chỉ hoặc cắt quần áo của Bé để coi cho rõ. Sở dĩ chúng ta không cởi quần áo Bé như lúc bình thường vì cần phải tránh: KHÔNG ĐƯỢC ĐỤNG CHẠM HOẶC NÂNG CHỖ ÐAU lên.

Nếu Bé chịu nằm yên, có thể dùng gối, chăn để chèn hoặc độn dưới chỗ đau cho cháu.

Nếu cháu không chịu nằm yên, hay cựa quậy hoặc cần phải di CHUYỂN CHÁU, CẦN CỐ ĐỊNH CHỖ đau vào 1 hoặc 2 cái nẹp (có thể dùng bất cứ một vặt gì dài, bằng gỗ hoặc chất liệu khác như cái cán chổi, một tấm ván nhỏ v.v…).

Gãy XƯƠNG ÐÒN GÁNH, VAI, CÁNH TAY, CẲNG TAY, BÀN TAY

Nếu khi ngã, cháu bé đỡ bằng tay, khuỷu tay hoặc trong khi chơi đùa, cháu bi vặn chéo cánh tay, đều có thể đưa tới những trường hợp gãy xương ở vùng vai, cánh tay hoặc bàn tay. Khi bị đau, cháu bé sẽ tự đỡ LẤY CÁNH TAY BỊ THƯƠNG Ở MỘT vị trí thích hợp nhất để đỡ đau. Chúng ta nên giúp cháu bằng cách buộc một khăn đeoquanh cổ để đỡ lấy cánh tay trong trường hợp cháu bị THƯƠNG Ở CÁNH TAY, CỔ TAY HAY NGÓN TAY.

KHÔNG ÐƯỢC THỬ CHO TAY BÉ CỬ ÐỘNG HOẶC NÂNG CHỖ GÃY LÊN

Nếu phần xương gãy chọc thủng da, hãy cắt bỏ phần quần áo đụng tới xương, đắp lên chỗ đó một miếng gạc mềm và dùng băng dính (BĂNG KEO) NHẸ NHÀNG DÁN LẠI.

II. Trường hợp bị thương ở đầu, ở lưng

Khi cháu bị ngã từ trên ghế xuống đất hoặc ngồi ở GHẾ TRƯỚC (DÙ NGỒI TRÊN ÐÙI NGƯỜI lớn) khi xe ô tô ngừng đột ngột hoặc bị tai nạn, nên bị văng đập vào khung xe hoặc phần kính chắn phía trước. 3 trường hợp có thể xảy ra:

* Cháu bé vẫn tỉnh, có thể trả lời người hỏi chuyện: không được xoay người cháu, giữ cho đầu cháu bé thẳng với chiều của thân NGƯỜI.

KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ ĐẦU CÚI XUỐNG HOẶC QUAY SANG MỘT BÊN : CHÁU CÓ THỂ BỊ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO HOẶC CỘT SỐNG .

* Cháu bé bị ngất, nhưng vẫn còn thở: có thể đã bị vỡ sọ não (nhất là có một ít máu chảy ra mũi hoặc lỗ tai). Ðặt cháu nằm nghiêng trên gối đầu hơi thấp hơn phía chân. Dùng nệm độn cho đầu không động đậy.

* Cháu bé bị ngất, không còn thở nữa: Phải làm HÔ HẤP NHÂN TẠO NGAY VÀ ÐƯA ÐI CẤP CỨU.

Nếu cần chuyển dịch cháu, một người giữ đầu cho thẳng, một người kéochân nhè nhẹ. Ngoài phần sọ, cháu còn có thể bị thương ở SƯỜN, Ở HÀM v.v… nữa.

81. Hông dễ bị trật khớp

Ở một số gia đình, thường thấy CÓ TÌNH TRẠNG BỊ TRẬT KHỚP HÁNG BẨM SINH, NHẤT LÀ Ở các cháu gái. Nguyên nhân có thể là do khi đẻ, thai ra trong tư thế ngược, mông ra trước.

Khi mới sinh, phần đầu xương đùi của các cháu chưa được hình thành đầy đủ. Trong năm đầu tiên, phần xương này mới dần dần hoàn chỉnh và khớp với xương chậu. Chỗ khớp này có thể phẳng quá hoặc nghiêng quá làm cho xương đùi nhô ra ngoài tạo thành dáng dị dạng ở MỘT BÊN HAY CẢ HAI BÊN HÔNG.

Muốn tránh hiện tượng này, người ta phải chữa cho Bé từ khi mới sinh bằng cách độn một vật giữa 2 chân để cháu bé phải nằm dạng chân, hoặc mặc cho cháu một loại quần đặc biệt gọi là “quần Pawlick”. Thời gian chữa như vậy tùy thuộc vào cấu tạo đầu xương của từng cháu.

Tình trạng khớp xương hông của Bé gái có thể bị dị dạng phải được phát hiện sớm khi cháu bé chưa quá 4 tháng tuổi bằng phương pháp siêu âm.

Nếu không được chữa ngay từ đầu, trạng thái trật khớp xương hông sẽ làm các cháu đi đứng khó khăn. Khi các khớp xương đã hoàn chỉnh, muốn chữa sẽ mất nhiều thời gian và nhiều trường hợp phải phẫu thuật.

82. Viêm khớp cấp.

Bệnh viêm khớp cấp có thể do vi trùng hoặc virút. Nhiều chứng bệnh kèm theo hiện tượng đau khớp như bệnh cúm chẳng hạn.

Dạng viêm khớp nặng nhất do vi trùng gáy ra, làm cho các chỗ khớp có mủ, có khi tác dụng tới cả xương.

Viêm khớp nhẹ thường ở đầu gối, khuỷu tay. Các chỗ viêm bị tấy đỏ, sờ vào thấy nóng và đau, mỗi khi cử động cũng thấy đau. Bởi vậy, các cháu bị bệnh, thường cứng chân, cứng tay. Không phải là các cháu bị liệt mà chỉ vì các cháu không muốn cử động. Trường hợp viêm sâu, như ở khớp háng chẳng hạn, rất khó xác định bệnh. Cần cho các cháu nằm viện để bác sĩ theo dõi và làm các xét nghiệm: soi X-quang, hút mủ ra để xét nghiệm và điều trị một thời gian dài bằng thuốc kháng sinh.

83. Ði khập khiễng (cà nhắc).

Sau khi bị ngã, hoặc va chạm mạnh cháu bé bị đi khập khiễng. Nếu sau 1 – 2 hôm cháu vẫn không khỏi thì cần đưa cháu đi khám bệnh vì có thể cháu đã bị thương tổn phần xương hoặc khớp háng, đầu gối hay chân.

Ðể xác định đúng bệnh, bác sĩ phải chiếu X-quang để kiểm tra các xương háng và xương chân.

84. Chân vòng kiềng.

Nếu chân các cháu bé, trong vòng 6 tháng đầu, bị cong cũng KHÔNG CÓ GÌ ÐÁNG LO NGẠI. VÌ Ở thế nằm trong tử cung, chân cháu phải như thế mới vừa hợp với “khuôn”. Sau khi ra đời đôi chân cháu sẽ thẳng dần, nhất là trong THỜI GIAN CHÁU TẬP ÐI

TUỔI TẬP ÐI

– Bệnh còi xương là một trong những nguyên nhân của hiện tượng chân vòng kiềng. Tuy vậy, còn một số nguyên nhân khác như: các cháu mập mạp quá nặng đối với đôi chân hoặc cho cháu tập đi sớm quá. Có thể phân biệt 2 trường hợp sau:

– Xương chân cong vì bệnh còi xương (thiếu canxi và vitamin D) thì điểm cong nhất nằm ở dưới, về phía cẳng chân.

– Xương tạm cong lúc sơ sinh làm chân cong ở đoạn đầu gối.

Bởi vì xương chỉ “tạm cong” nên không cần cho các cháu đi giầy có đế đặc biệt. Nên tránh, không để các cháu đi lâu.

Chỉ có trường hợp chân cong một cách bất thường mới cần tới bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình để chữa trị.

85. Dị tật chân bẩm sinh – chân vẹo.

Nếu được phát hiện sớm, trong những ngày đầu sau khi sinh, thì phần lớn các trường hợp dị tật chân đều có thể chữa trị được.

Dị tật chân là do ảnh hưởng của thế nằm không đúng của thai nhi trong tử cung mẹ, mà hiện nay người ta chưa biết vì lý do gì.

Dị tật hay thấy nhất là phần trên của bàn chân quặt vào trong. Những dị tật khác như: bàn chân vẹo vào trong, vẹo ra ngoài, vẹo gót cũng không đáng lo lắm nếu các khớp vẫn mềm mại cử động được.

Chỉ khó chữa trị nếu những chỗ dị tật bị cứng, có hiện tượng co cơ hoặc trật khớp.

Tuy vậy, với cách chữa trị hiện đại, người ta có thể chữa được đa số trường hợp, chỉ phải mất công chữa trị và theo dõi hàng ngày, trong thời gian dài có khi tới 1 – 2 năm liền.

86. Chân quặt vào trong, hay quẹo ra ngoài.

Khi đứa bé mới bắt đầu tập đi, đôi bàn chân có xu hướng quay vào phía trong. Như vậy là bình thường, ít cháu có bàn chân hướng ra phía ngoài ngay.

Người lớn chỉ cần chú ý nếu nguyên nhân của hiện tượng trên là do các khớp ở đầu gối hay ở khớp xương hông gây nên. Nếu vậy, phải nói với bác sĩ.

Không bao giờ được vội vàng tự ý cho các cháu đi những đới giầy đặc biệt để điều chỉnh dáng đi hoặc chỉnh hình xương mà không có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

87. Bàn chân bẹt.

Nhiều bố mẹ lo con mình có bàn chân bẹt: khi các cháu đứng, nhất là khi các cháu bụ bẫm toàn bộ gan bàn chân đều tiếp xúc với đất không thấy phần hõm ở giữa gan bàn chân, tuy rằng lúc nằm, vẫn nhìn thấy bàn chân của cháu có chỗ hõm bình thường.

Thật ra, tới lúc các cháu hơi lớn, phần lõm này mới rõ. Bởi vậy không nên lo quá sớm, và không được cho các cháu dùng những loại giầy gì đặc biệt, nếu không có ý kiến của bác sĩ.

Hãy cho các cháu tập đi chân đất để các bắp thịt bàn chân được làm việc. Ðôi bàn chân sẽ quen với động tác bám vào đất và vào những địa hình mấp mô khác nhau.

Hãy bày ra các trò chơi luyện tập như lấy một vật, chẳng hạn cái bút chì, ở dưới đất bằng ngón chân cái và ngón thứ 2. Tập cho các cháu đi kiễng chân. Khi các cháu đã lớn, tập cho các cháu nhảy dây, múa nhịp điệu. Ðạp xe đạp 3 bánh cũng là phương pháp tập luyện để các khớp xương chân và đoạn xương dài của cẳng chân hoạt động.

88. Ðầu gối đụng nhau.

Khi đứng, nhìn thấy rõ chân cháu bé cong, hai đầu gối chạm vào nhau. Hiện tượng này thường kèm theo đôi bàn chân bẹt, đều tại các cơ bắp và gân chứ không phải tại xương. Bởi vậy đây không phải là một tật cho tới lớn, mà chỉ từ 2 tới 5 tuổi, là cháu bé sẽ có đôi chân thẳng bình thường. Nếu sức khỏe cháu bé tốt thì người lớn không có gì đáng lo ngại: sở dĩ tạm thời cháu có đôi chân như vậy là vì trọng lượng lúc này của phần thân cháu hơi nặng đối với đôi chân mà thôi.

Người lớn chỉ cần chú ý không để cháu bé đi những quãng đường xa. Hãy mua cho cháu một chiếc xe đạp 3 bánh, cho cháu tập đạp để đôi chân khỏe và cứng cát hơn, có thể mang được dễ dàng tấm thân của cháu.

Ðể theo dõi được sự chuyển biến của đôi chân theo thời gian, bạn hãy để cháu đứng thẳng và đo khoảng cách giữa hai mắt cá chân, 3 tháng một lần. Bạn sẽ thấy số đo càng ngày càng ngắn lại.

Tuy vậy, nếu khi 2 đầu gối đụng vào nhau mà khoảng cách giữa 2 chân từ 8 tới 10 cm thì cũng nên trao đổi ý kiến với bác sĩ chuyên về khoa chỉnh hình trẻ em.

89. Bệnh còi xương.

Nguyên nhân của bệnh còi xương là do thiếu vitamin D.

Á NH SÁNG MẶT TRỜI CÓ VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG VIỆC CHẾ TẠO VITAMIN D CHO cơ thể, loại vitamin rất cần thiết cho việc hấp thụ chất Can-xi. Trẻ thiếu Can-xi là thiếu nguyên liệu chính cho việc chế tạo các tế bào xương. Ở CHÂU ÂU, CÁC TRẺ SINH VÀO MÙA THU HAY bị còi xương vì 6 tháng đầu không có ánh nắng mặt trời. Chúng ta nên nhớ rằng, kính ngăn cản không cho các tia cực tím của mặt trời đi qua. Bởi vậy, nếu cho trẻ nằm sau cửa kính để tắm nắng thì cũng bằng không.

Trẻ em bị bệnh còi xương, tùy theo lứa tuổi mà có các triệu chứng như sau: xương sọ mềm, xương cổ tay, cổ chân to, bẹt; thóp lâu không đóng lại; chậm biết ngồi, biết đi; chậm mọc răng; hay bị chân vòng kiềng, méo cột sống, xương lồng ngực và xương hông. Thành phần máu của cháu bé có lượng Can-xi dưới mức bình thường có thể dẫn tới chứng co giật.

Ðể đề phòng chứng còi xương, bác sĩ thường cho các cháu UỐNG THUỐC CÓ TỪ 1000 – 1500 ÐƠN VỊ VITAMIN D mỗi ngày liền trong hai năm đầu. Các cháu bú sữa mẹ cũng cần phải uống thêm vitamin D.

Các cháu có mầu da sẫm dễ bị còi xương hơn các cháu khác vì các chất mầu ở da có tác dụng cản các tia tử ngoại của mặt trời. Bởi vậy, các cháu này càng cần phải được chú ý săn sóc nhiều hơn

90. Vẹo xương sống.

Xương sống có thể bị vẹo với những kiểu dáng khác nhau làm cho lưng cong ở phần trên, ở phần dưới hoặc vẹo theo chiều ngang. Những dáng bất thường như vậy có thể phối hợp với nhau như vừa bị cong vừa bị vẹo.

VỚI CÁC TRẺ EM SƠ SINH

– Lưng trẻ sơ sinh, trong mấy tháng đầu, thường cong. Trẻ càng lớn, lưng càng thẳng hơn cho tới khi đến tuổi biết ngồi.

Bởi vậy, ở thời gian xương sống còn yếu. Khi để Bé ở tư thế ngồi phải có gối hoặc vật gì dùng để tựa lưng vì ở độ tuổi này cột XƯƠNG SỐNG CỦA BÉ RẤT DỄ BỊ XIÊU VẸO.

VỚI CÁC TRẺ LỚN HƠN

– Trẻ em từ độ tuổi biết đi cho tới năm lên 2, lên 3 hay ưỡn cột sống lưng ra phía trước. DÁNG ÐI NÀY SẼ MẤT DẦN KHI CÁC CHÁU LỚN LÊN.

Ở độ tuổi này, nếu thấy các cháu bị lệch vai: khi đứng thẳng vai này thấp hơn vai kia thì nguyên nhân là do cột xương sống không thẳng, cong về bên phải hay bên trái hoặc có thể đã bị gù ở một bên nào đó.

Nếu khi cho các cháu hơi cúi người về đằng trước mà các khuyết tập trên không còn nữa thì chứng vẹo xương trên chỉ là do phải bổ sung sự cao thấp không bằng nhau tạm thời của hai chi dưới: các trường hợp này phần lớn có thể chữa trị bằng phương pháp tập các động tác thể dục chọn lọc, hoặc chơi thể thao.

Nhiều chứng vẹo cột sống có nguyên nhân từ các bệnh của hệ thần kinh hoặc của các cơ bắp. Nhưng nhiều khi cả những trẻ khỏe mạnh cũng bị – nhất là các cháu bé gái – mà không tìm thấy nguyên nhân rõ rệt.

Nói chung, hiện tượng vẹo cột sống của các cháu, cần được chú ý theo dõi cẩn thận để xem nó tiến triển ra sao. Chứng vẹo cột sống đã ở thế ổn định hay có xu thế tiến triển nặng hơn. Bởi vậy, cần phải cho các cháu tới các bệnh viện chuyên khoa xương mỗi năm 2 lần hay 1 lần, chụp X-quang xương, và so sánh các hình chụp để nhận định xương các cháu phát triển thế nào.

Sự phát triển không bình thường của cột sống có mức độ nhẹ ở trẻ em, có thể không nhận thấy trong những năm đầu. Hiện tượng này cần phải được đặc biệt chú ý khi các cháu tới độ tuổi từ 11 tới 15, là giai đoạn dậy thì cơ thể phát triển nhiều, nhất là đối với các cháu gái.

91. Tật nứt đốt sống

Tật nứt đốt sống là một dị tật bẩm sinh của đốt sống. Khi đứa trẻ đã tới ngày ra đời mà đốt sống vẫn chưa hình thành được hoàn hảo, còn bị hở phía sau khiến cho các cấu trúc thần kinh của tủy sống có thể lọt ra ngoài được. Hiện tượng này thường xảy ra ở ÐOẠN CUỐI SỐNG LƯNG, VÙNG THẮT LƯNG VÀ XƯƠNG CÙNG, ÍT KHI Ở ÐOẠN lưng trên hoặc vùng cổ.

Nếu chỉ có hiện tượng hở xương thôi thì có khi chẳng hệ TRỌNG GÌ. CÓ KHI CHỈ CÓ phần màng bọc tủy sống lọt được ra ngoài, làm thành một khối nằm dưới da gọi là “thoát vị màng não. Nhưng nghiêm trọng nhất là trường hợp cả tủy sống và các rễ dây thần kinh cũng bị thoát vị ra ngoài rồi bị viêm, gây liệt chân, không tự chủ được việc đi tiêu, tiểu, nhiều khi kèm thêm cả chứng tràn dịch não.

Ðây là một dị tật rất nặng, có các hậu quả nghiêm trọng đến mức ngay trong 24 giờ đầu tiên sau khi đứa trẻ ra đời, bác sĩ phải đặt vấn đề với bố mẹ đứa trẻ và các chuyên gia nhi khoa và phẫu thuật thần kinh xem có nên điều trị hay không nên điều trị gì cả.

Hiện nay, người ta chẩn đoán trước được dị tật này ở thai nhi bằng phương pháp siêu âm, ngay từ tuần lễ thứ 16 tới 20 của thời gian sản phụ mang thai.

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾ PHẦN BỤNG

Filed under: Chăm Sóc Bé Khi Đau — tonyfan @

Chăm sóc khi bé bị bệnh – Nhiều tác giả

Phần 2: Những vấn đề liên quan đến từng phần thân thể

IV. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾ PHẦN BỤNG

51. Bụng to.

Các cơ bắp của trẻ em dưới 4 – 5 tuổi thường còn mềm. Bắp thịt ít phát triển nên toàn bộ vòm bụng yếu. Khi Bé ở tư thế đứng, bụng Bé phồng ra phía trước, rốn lồi, lưng có thể hơi cong.

Bởi vậy, tùy theo số tháng và độ tuổi của các cháu mà ta lựa chiều bế cháu. Các bà mẹ nên hỏi bác sĩ về việc cho các cháu tập thể dục để luyện tập cơ bụng, ngay từ lúc nhỏ.

Bụng to cũng có thể là vì cho các cháu ăn nhiều chất bột quá và thiếu vitamin D.

Nếu cháu bé bụng to mà lại có các triệu chứng khác kèm theo như: phân không bình thường, không tăng trọng và ngưng phát triển cả về chiều cao, thì cháu có thể đang mắc một số bệnh của bộ máy tiêu hóa, cần đưa đến bác sĩ xem bệnh.

52. Cuống rốn bị đỏ hay chảy nước.

Ðối với các trẻ sơ sinh, cần phải đặc biệt chú ý tới rốn của các cháu trong 15 ngày đầu. Ngày nào cũng phải thay băng quấn rốn. Nếu thấy rốn ướt, đỏ, cần báo ngay cho bác sĩ biết.

Các hiện tượng rốn chảy máu hay có mủ cũng vậy, kể cả trong ngày thứ 6 hay thứ 7, là ngày cuống rốn rụng. Nếu rốn có những vệt đỏ nhỏ, bác sĩ có thể dùng nitrát bạc chấm vào. Trong khi khóc, nếu rốn Bé hơi lồi lên là chuyện bình thường.

53. Lồi rốn – Thoát vị bẹn.

Một số trẻ sơ sinh khi khóc, rốn lồi to lên. Hiện tượng này không có gì đáng lo ngại. Tuy rốn như vậy, nhưng sẽ không bao giờ bị thắt, và sẽ tự hết khi cháu lớn lên.

Nhiều bà mẹ chữa cho các cháu như sau: bọc một đồng tiền vào trong một lớp gạc rồi lấy băng, băng dính lên rốn cháu.

Tuy vậy, nếu trường hợp phần lồi lớn quá và mấy năm sau cũng không giảm bớt thì cần phải qua một cuộc phẫu thuật nhỏ.

THOÁT VỊ BẸN BÊN TRÁI HOẶC BÊN PHẢI BỘ PHẬN SINH DỤC

Hiện tượng này thường xảy ra với cháu trai. Cháu bé gái cũng có thể bị, nhưng ít hơn.

Với cháu trai, người ta thấy một cục cứng ở bẹn, nhiều khi ở ngay bìu. Bác sĩ chữa trị bằng cách băng chặt điểm đó lại và cũng có thể sẽ phải phẫu thuật tiếp theo.

Nếu là cháu gái thì đó là triệu chứng của sự thoát vị buồng trứng, cần phải phẫu thuật ngay. Không được băng hoặc ép vì có thể LÀM VỠ BUỒNG TRỨNG.

THOÁT VỊ BẸN NGHẸN

– Nếu chỗ lồi cứng và đau ấn không lên nữa có thể bắt đầu chườm nóng cho cháu và cho cháu uống thuốc an thần. Nếu không có hiệu quả, cần phẫu thuật cấp cứu.

54. Ðau bụng ở trẻ sơ sinh.

Trong mấy tháng đầu, Bé hay khóc và có dấu hiệu như đau bụng. Có lúc khóc thét, trong vài phút hoặc có thể vài giờ, mặt tái đi, khua tay khua chân biểu hiện Bé bị đau. Nhưng sau khi đi được một ít phân hoặc xì được hơi ra (đánh rắm), cơn đau dịu đi và cháu bé đột nhiên thôi khóc.

Những cơn khóc của Bé như thế thường xảy ra trong những tuần lễ đầu, sau khi bú vào quãng chiều, không ảnh hưởng gì tới sức khỏe của Bé. Bé vẫn tiếp tục lớn đều.

Nguyên nhân của những cơn khóc này vẫn chưa rõ. Người ta chỉ dự đoán có thể là Bé bị đầy hoặc rối loạn tiêu hóa; hoặc Bé chợt thấy lạ với quang cảnh xung quanh nên sợ hãi; hoặc vì lượng hơi do sự tiêu hóa sinh ra ở trong bụng bị dồn nén chưaa thoát ra được làm Bé khó chịu.

Việc xác định bệnh cho Bé bao giờ cũng là một việc khó khăn. Gặp những trường hợp Bé khóc làm bà mẹ lo âu, bác sĩ sẽ xét đoán, loại dần những nguyên nhân để chọn lấy một nguyên nhân phù hợp với trạng thái của Bé. Ngoài ra, cũng có thể để ý xem cháu có bị viêm tai, viêm da, viêm màng não hoặc các bộ phận vùng bụng, đặc biệt là xem có bị lồng ruột không.

55. Ðau bụng và vùng bụng.

Ðau bụng là hiện tượng thường gặp ở trẻ em mà cũng là chứng khó xác định bệnh nhất, vì có rất nhiều nguyên nhân khiến các cháu bị đau bụng: từ khả năng các cơ quan nội tạng bị đau tới sự hoạt động của các cơ quan bị trục trặc; có khi cần phải phẫu thuật ngay mà có khi lại chỉ vì một nguyên nhân tâm lý nào đó.

Tuy vậy, người lớn nên biết, khi có hiện tượng gì thì cần phải mang Bé đi cấp cứu hoặc đi phẫu thuật ngay: đó là các trường hợp Bé đang khỏe mạnh bỗng bị đau dữ dội; đau ở một điểm xác định; đau khiến Bé phải nằm một chỗ; đau kèm theo sốt và nôn. Những hiện tượng này có thể liên quan tới đau ruột thừa, bị lồng ruột, bị tắc ruột, v.v…

Nếu sau vài giờ, Bé vẫn chưa hết đau thì cần phải mời bác sĩ tới hoặc đưa cháu đi bệnh viện. Nhiều khi, những triệu chứng tương tự giống như trên lại là những chứng bệnh chẳng hề cần tới phẫu thuật. Thật vậy một số bệnh dịch theo mùa như cảm cúm, viêm phổi hoặc viêm vùng phổi cũng có thể gây đau bụng. Ngoài ra, các bệnh gan, ống tiểu, sốt xuất huyết kèm theo chứng táo bón nhất thời hoặc lặp đi lặp lại đều có thể làm đau bụng. Các cháu còn có thể bị đau bụng vì giun, sán….

Về hiện tượng đau vùng bụng, các bác sĩ thường nhận xét thấy: trẻ thỉnh thoảng lại kêu đau bụng, tuy kêu đau nhưng cháu chịu được và việc này đã xảy ra trong một thời gian dài. Xem như vậy thì rất có thể, đây chỉ là một vấn đề tâm lý. Bởi vậy, chữa bằng thuốc thang khỏi được. Hiện tượng này có những đặc điểm:

* Trẻ thường kêu đau quặn vùng rốn vào buổi sáng, bữa cơm trưa rồi tới chiều thì khỏi;

* Trẻ có thể thấy đau từng đợt nhiều ngày rồi lại khỏi.

* Tuy kêu đau, nhưng vẫn chơi;

* Khi đau, trẻ có thể kém ăn hoặc kém ngủ.

Trẻ đau như thế thường hay làm nũng, nhút nhát, muốn gần bố mẹ và ngại đến trường v.v…

Muốn tìm nguyên nhân đau bụng của trẻ em, thường phải tiến hành một cuộc khám sức khỏe toàn diện, làm một số xét nghiệm nước tiểu; xét nghiệm phân để tìm trứng giun, X quang ruột, siêu âm ở bụng v.v…

Nếu tất cả các việc làm trên không có kết quả gì, nên đưa cháu bé tới một chuyên gia tâm lý.

Riêng người lớn- thường cưng chiều và tỏ ra thương khi cháu kêu đau – không nên tỏ thái độ lo lắng quá của mình. Nên cố làm ra vẻ như sự việc chẳng có gl là quan trọng cả. Thái độ như thế, tuy có làm cho các cháu chán nản, nhưng lại khiến cho các cháu chóng khỏi bệnh… tưởng.

56. Ðánh rắm (xì hơi ruột).

Bé hay đánh rắm, nhưng tăng cân đều, như vậy là không có gì đáng lo ngại cả. Chỉ cần bà mẹ chú ý giữ gìn chế độ ăn uống của Bé sao cho không đừ quá nhiều chát bột, chất hạt, và chất đường. Những chất trên nếu dư thừa, không tiêu hóa hết trong bộ máy tiêu hóa của Bé sẽ bị lên men, gây đầy hơi và đôi khi thành bệnh ỉa chảy.

Ngược lại, nếu Bé bị táo bón cũng cần có biện pháp để Bé đi tiêu được dễ dàng hơn.

57. Không tiêu – Ðầy bụng.

Ðối với trẻ em, từ các cháu sơ sinh tới các trẻ lớn, việc xác định xem có phải cháu bị đầy bụng không là rất khó. Vì những triệu chứng bệnh của các cháu thường chung chung như: nôn ói, đau bụng và sốt. Những triệu chứng này cũng có thể đi từ việc ăn không tiêu đến bệnh viêm GAN SIÊU VI TRÙNG B HOẶC BỆNH viêm ruột thừa.

Bởi vậy, nếu trong vòng 24 giờ mà không thấy cháu đỡ thì phải đưa cháu tới bác sĩ để được khám cẩn thận.

58. Táo bón.

Khi đứa trẻ ỉa khó, phân cứng, khô hoặc đi thành từng viên nhỏ, 2 hay 3 ngày mới đi tiêu một lần, thì cháu bị đi táo hay táo bón.

Cũng nên lưu ý rằng, phần cứng như vậy là táo bón rồi, nhưng một số cháu 2 ngày mới đi tiêu được một lần là chuyện bình thường.

ÐỐI VỚI CÁC CHÁU SƠ SINH: táo bón hay những là do chế độ ăn – nếu cháu bú sữa mẹ dù đi 2 ngày một lần, phân cháu vẫn mềm. Nếu cháu không đi tiêu được, có thể vì 2 nguyên nhân: hoặc là cháu bú chưa đủ no hoặc là vì mẹ bị táo bón và cháu cũng bị ảnh hưởng.

Trong trường hợp đầu, cháu bé chậm lớn, thường khóc sau khi bú xong: phải cho cháu bú bình thêm, theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Trường hợp thứ 2, bà mẹ phải cải tiến chế độ ăn uống của mình như thêm rau và trái cây, nhưng tránh uống các loại thuốc tẩy hoặc nhuận tràng.

Ðối với các cháu bé được nuôi bằng sữa hộp, việc bị táo bón là chuyện khó tránh, dù các bà mẹ đã cất công chọn loại sữa có tiếng, có tín nhiệm, pha đúng như chỉ dẫn, cho ăn đúng liều lượng v.v… Nếu cháu bi táo bón nhiều, bác sĩ có thể chỉ dẫn cách pha chế sữa của cháu sao cho có chất a xít nhiều hơn. Nếu cháu nhỏ dưới 3 tháng tuổi, nên tăng lượng nước trái cây (cam) vào sữa. Nếu bé lớn hơn, có thể cho ăn thêm nước súp rau, uống nước suối, nước khoáng và một số thuốc nhuận tràng nhẹ.

– CÓ THỂ thay đường bằng mật ong hoặc kẹo mạ.

– Cho các cháu uống nhiều nước hơn. CƠ THỂ CHÁU CÓ THỂ BỊ MẤT NHIỀU NƯỚC vì trong nhà nóng quá.

HIỆN TƯỢNG TÁO BÓN Ở các cháu lớn cũng giống như ở người lớn. Ðể rõ nguyên nhân, chúng ta hãy theo dõi quá trình di chuyển của thức ăn trong bộ máy tiêu hóa:

Sau khi được nuốt vào bụng, thức ăn lưu lại ở DẠ DÀY TỪ 2 – 4 GIỜ, RỒI ÐI XUỐNG ruột. Quãng đường ở ruột gồm 6m ruột non và 1,5m ruột già ở NGƯỜI LỚN. Ở các cháu nhỏ, con đường này ngắn hơn nhưng tỷ lệ về chiều dài giữa ruột già và ruột non vẫn thế. Thời gian thức ăn qua ruột từ 10 tới 20 giờ. Trong suốt thời gian này, các thành ruột hấp thu hết các chất dinh dưỡng trong thức ăn để bồi dưỡng cơ thể. Những gì còn lại được đưa xuống ruột già, tạo ra phân, gồm các chất cặn bã phần lớn là các chất xơ có trong vỏ trái cây, trong rau bị dồn ép lại ởPHẦN CUỐI RUỘT. TÙY THEO LOẠI CHẤT BÃ, KHỐI LƯỢNG NHIỀU hay ít cùng với sự hoạt động của cơ thể mà thức ăn và các chất bã di chuyển nhanh hay chậm trong bộ máy tiêu hóa. Nếu cuộc hành trình này lâu quá, các chất tạo phân bị mất nước làm phân sẽ bị khô.

Bởi vậy, để tránh táo bón, nên chọn các thức ăn nào có thể di chuyển nhanh và tạo chất bã nhanh như: sữa chua, trái cây, rau, chất hạt. Các loại sữa bò, sữa cô đặc và các thực phẩm để lại ít chất bã như đường, sô-cô-la, thịt di chuyển trong ruột chậm hơn.

CÓ MỘT SỐ hiện tượng kèm theo chứng táo bón của các cháu như: sốt, không chịu ăn, mệt. Thường các cháu bị táo bón lại không chịu đi ị vì đau, nên phân đã cứng lại khô thêm.

Một số yếu tố tâm lý như lo lắng, sợ hãi cũng có thể gây ra sự táo bón. Bởi vậy, không nên để các cháu nhỏ bị ảnh hưởng bởi những biến động căng thẳng trong gia đình.

ĐỐI VỚI TRẺ EM BỊ TÁO BÓN, NÊN :

– Cho các cháu uống nhiều khi ăn cũng như ngoài bữa ăn;

– Ă N NHIỀU trái cáy chín và rau xanh.

– Thay bơ, mỡ bằng dầu thực vật để trộn sà lách.

– Bỏ sô-cô-la và thay đường bằng mật ong.

Các loại thuốc nhuận tràng phải dùng theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Không nên để trẻ em bị táo báo đền mức hơn 2 ngày không đi tiêu. Ðối với các cháu bé, nhiều khi chỉ cần dùng dụng cụ nhúng vào glyxerine thông hậu môn hoặc một thìa cà phê parafin là đủ. Nhiều khi, chỉ cần lấy chiếc ống cặp sốt đưa vào hậu môn cháu bé, cũng làm cháu đi được.

Những việc làm trên chỉ là những biện pháp kích thích cho cháu bé đi tiêu được chứ không chữa được bệnh táo bón.

Cháu nhỏ bị táo sẽ không thích ăn và có thể hơi sút cân, nhưng không nên vì thế mà người lớn lo lắng quá đáng làm cho cháu càng thêm sợ hãi; khi đi tiêu, do phân cứng cháu có thể hơi đau nên ngại rặn. Ðối với các cháu đã biết nhận xét, không nên mắng các cháu vì việc này. Hàng ngày cho cháu ngồi bô đúng giờ quãng 10 phút và làm như không chú ý tới cháu để cháu tự thực hiện công việc của mình.

59. Ði tướt hay tiêu chảy, tiêu chảy cấp tính.

Ði tướt hay tiêu lỏng, tiêu chảyở trẻ em có nhiều mức: phân mềm nhưng vẫn có khuôn, phân nát, phân lỏng có lẫn thức ăn không tiêu hóa được, phân chỉ là chất lỏng.

Cách chữa trị tùy vào trạng thái bệnh nặng hay nhẹ , đi nhiều hay ít, lứa tuổi bao nhiêu trong quãng từ 18 tháng đến 3 năm.

VỚI BÉ SƠ SINH BÚ MẸ

– Nếu Bé đi mỗi ngày 5 – 6 lần hay nhiều hơn nữa thì cũng là việc bình thường. Phân của BÉ NHƯ THẾ NÀO LÀ TÙY Ở CHẤT sữa của mẹ. Nếu Bé vẫn chịu bú và tăng cân đều thì không có gì phải lo ngại. Mẹ của Bé vẫn có thể yên tâm cho con bú, nhưng chú ý không được UỐNG THUỐC TẨY, THUỐC NHUẬN.

VỚI BÉ BÚ BÌNH

– Nếu Bé bú sữa ở bình mà bị tiêu chảy thì phải cẩn thận ngay từ đầu, tránh để Bé bị mất nước và các chất muối khoáng nhiều.

Nếu Bé đi nhiều lần trong một giờ thì dù sắc thái Bé không có gì đáng chú ý, cũng phải đưa cháu tới bác sĩ. Những hiện tượng rất đáng chú ý và lo ngại là : phân xanh hoặc phân lỏng mà cháu đi ra từng tia.

PHẢI LÀM GÌ?

Trước tiên, phải ngưng không cho Bé ăn sữa nữa trong vòng 1 – 2 ngày. Cho Bé uống làm nhiều đợt trong ngày: nước đường, nước nấu cà rốt, những chất muối khoáng dành CHO TRẺ EM TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP NÀY CÓ BÁN SẴN Ở hiệu thuốc pha với một lượng nước nhất định đã được chỉ DẪN.

Ở độ tuổi từ 5 – 6 tháng trở đi, có thể cho Bé ăn thêm thức ăn chống tiêu chảy như khoai, chuối nghiền v.v… Lượng thức ăn lỏng cho các cháu ăn mỗi ngày vào quãng 150 gram cho mỗi kg trọng lượng của các cháu, ăn làm nhiều lần, mỗi lần độ 20 – 30g. Nếu các cháu bị nôn ói, nên cho Bé ăn lạnh.

Chế độ ăn như trên có mục đích bù lại lượng nước Bé bị mất do đi lỏng. Nếu phương pháp trên có hiệu quả, Bé sẽ đi phán trở lại bình thường.

Chế độ ăn kiêng như trên không nên kéo dài quá 2 ngày.

Khi ăn bình thường trở lại, nên tăng lượng sữa từ từ hoặc dùng các loại sữa đặc biệt thích hợp với bệnh trạng của cháu.

ÐIỀU QUAN TRỌNG

– Nếu đã ăn kiêng mà Bé vẫn không khỏi, bị sút cân và có triệu chứng cơ thể thiếu nước, cần phải gặp bác sĩ để xem có cần cho Bé nằm viện ngay không.

Cũng cần lưu ý rằng, khi trở lại chế độ ăn bình thường rất có thể Bé lại bị đi tướt lại. Nếu vậy, lại phải ăn kiêng sữa thêm 1 – 2 hôm hoặc yêu cầu bác sĩ xem có cần đổi loại sữa khác không.

Những nguyên nhân của bệnh ỉa chảy thường liên quan tới vấn đề ăn uống của Bé như:

– Pha sữa đặc quá hoặc loãng quá.

– Cho Bé ăn quá sớm những thức ăn khó tiêu như: thịt, rau, trứng, hoặc cho ăn với liều lượng nhiều quá; ăn nhiều bột quá;

– Thực phẩm bị thiu, sống.

* Bệnh tiêu chảy còn do vi trùng hay vi rút gây ra. Chúng có THỂ TỪ NHỮNG Ổ VIÊM NHIỄM Ở HỌNG, Ở TAI XUỐNG GÂY bệnh ở ruột. Bác sĩ khám họng, tai và làm xét nghiệm phân có thể xác định được điều này.

Ðể đề phòng cho Bé khỏi bị tiêu chảy, nên chú ý:

– Pha chế sữa đúng liều lượng và tránh những thiếu sót đã GHI Ở PHẦN TRÊN;

– Tránh không để cháu bé tiếp xúc với người nào đang bị viêm nhiễm như ho, có mụn nhọt v.v…

– Rửa sạch và làm tiệt trùng các bình sữa trước khi đựng sữa cho Bé ăn;

– Khi Bé mới bị tiêu chảy, ngưng cho ăn sữa ngay.

60. Bệnh đường ruột.

Gluten là một loại prôtêin có trong bột một số hạt lương thực như lúa mì, lúa mạch, yến mạch (không có trong gạo và đỗ tương). Trẻ em thường không tiêu hóa được gluten nên dễ bị ỉa chảy mạn tính khi bà mẹ bắt đầu nuôi con bằng chất bột, dẫn tới hậu quả là ngưng lớn. Một cuộc xét nghiệm đơn giản về ruột của Bé trong thời gian này sẽ cho thấy rõ hiện tượng này, kể cả với các cháu mới vài tháng tuổi.

Ðể chữa trị, trước hết phải ngưng không cho các cháu ăn gluten, dù với lượng rất nhỏ. Ðối với các cháu đã phản ứng với gluten, cần phải kiêng nhiều năm để cháu khỏi bị lại.

Hiện nay: người ta đã chú ý chế tạo các loại “bột không có gluten” dành riêng cho các cháu.

61. Bệnh tiêu chảy mãn tính.

Một số cháu bé không hợp với sữa bò, cứ ăn là bị tiêu chảy. Chữa khỏi, tới khi ăn lại, lại bị lại. Có nhiều cháu, ngay từ lần bú sữa bò đầu tiên đã bị các chứng như dị ứng, phát ban, tiêu chảy. Nguyên nhân do bộ máy tiêu hóa của các cháu không thích hợp với các prôtêin của sữa bò. Bởi vậy, nếu thay sữa bò bằng một loại sữa đặc biệt khác, bệnh cháu có thể hết ngay.

Những nguyên nhân khác có thể do: saccarô các bà mẹ vẫn thường cho thêm vào bình, vào nồi súp rau;

– Lactôdơ – một loại đường tự nhiên có ngay trong sữa mẹ hoặc sữa bò.

– Prôtêin có trong các chất bột ngũ cốc như gluten.

Vì có nhiều nguyên nhân khác nhau, nên bác sĩ phải theo dõi chế độ ăn và phản ứng tiêu hóa của Bé mới xác định được nguyên nhân nào là chính, không kể tới một số bệnh đường ruột nữa.

62. Giun – sán (lãi).

Trẻ em dễ bị chứng giun sán vì các cháu hay sờ mó vào mọi vật rồi lại đưa tay vào miệng. Hơn nữa, các cháu thường sống tập trung với NHAU TRONG TRƯỜNG, LỚP, MÀ CHỨNG NÀY LẠI RẤT DỄ LÂY.

LÀM SAO BIẾT ÐƯỢC CÁC CHÁU CÓ GIUN, SÁN?

Nếu có các cháu hay đau bụng, khi thì táo bón, lúc khác lại tiêu chảy, sức khỏe suy giảm, kém ăn, kém ngù, hay quấy: Xét nghiệm máu, thấy lượng bạch cầu toan tính (eosinophile) tăng. Xét nghiệm phân, có thể THẤY TRỨNG GIUN, SÁN.

GIUN KIM

– Các cháu nhỏ thường bị giun kim, dễ lây sang nhau hoặc tự làm cho mình bị nhiễm lại trứng giun của chính mình. Các cháu có giun kim hay bị ngứa ở hậu môn. Các bé gái thì bị ngứa cả ở âm hộ. Các con giun nhỏ, giống như những sợi chỉ trắng, dài vài milimét thường ra theo phân. Có thể nhìn thấy chúng cọ quậy trong phân. Muốn thu được trứng của chúng để xét nghiệm, người ta dán một đoạn băng dính (BĂNG KEO) VÀO GẦN HẬU MÔN CỦA CHÁU BÉ.

GIUN ÐŨA

– Trẻ em có giun đũa vì ăn các thức ăn không sạch. Trong cơ thể, giun đũa di chuyển theo một đường đi phức tạp: trứng giun nở ra ấu trùng ở dạ dày rồi ấu trùng di chuyển lên ở gan, vào phổi, cuối cùng trở về ống tiêu hóa và lớn lên ở ruột. Quá trình này tiến hành trong vòng 2 tháng gây ra những triệu chứng như ngứa phát ban và rối loạn ở hệ hô hấp.

Người ta xét nghiệm phân để tìm trứng giun. Nhiều khi tự nhiên giun bị tống ra ngoài qua đường hậu môn hoặc khi cháu bé nôn.

SÁN

– Cháu bé có sán do ăn thịt bò chưa nấu chín. Các cháu có sán thường đi ra những đoạn sán nhỏ mầu trắng. Những đoạn này chứa rất nhiều trứng ở bên trong. Người lớn có thể thấy những khúc sán như thế ở quần, ở trên giường cháu nằm. Ngoài sự việc này, KHÔNG CÓ HIỆN TƯỢNG NÀO KHÁC.

CÁCH CHỮA TRỊ

– Hiện nay, có nhiều loại thuốc hiệu nghiệm đề trị bệnh giun sán. Mỗi loại có một thứ thuốc riêng. Ðể trị giun đũa hoặc sán chỉ cần uống thuốc một lần. đối với giun kim cần phải uống 2 liều, cách nhau 3 tuần lễ và giữ vệ sinh quần áo, tay, móng tay, giường… để khỏi phải bị lại. Tất cả mọi người tỏng gia đình, kể cả người lớn đều phải chữa trị cùng một lúc với cháu bé thì mới trị hết được.

63. Chứng mất nước cấp tính

Nếu để cơ thể một trẻ sơ sinh bị thiếu nước, thì Bé có thể chết. Nước chiếm tới 80% trọng lượng của Bé. Một đứa bé nặng 5kg thì trong cơ thể đã có tới 4 lít nước. Nếu mỗi ngày, cháu bị mất 500g nước, số cân của cháu cũng bị sụt xuống 1/10. Một người lớn nặng 70kg bị mất nước như bé, có nghĩa là sụt 7kg/ngày.

Nguyên nhân mất nước có thể do tiêu chảy, nôn ói, hoặc bị toát nhiều mồ hôi mà sau đó lại không được người lớn cho uống nước để bù đắp lại lượng nước đã bị mất.

Trẻ dưới 1 năm hay 6 tháng tuổi mà cơ thể bị thiếu nước THÌ RẤT NGUY HIỂM.

Bé có biểu hiện gì khi bị thiếu nước ? Khi cơ thể bị thiếu nước, Bé không hoạt động, người như buồn ngủ, rên khẽ, vẻ mặt buồn rầu, xanh tái, mắt thâm, thóp trũng xuống.

Có một cách thử dễ dàng: lấy ngón tay véo khẽ vào lớp da bụng của Bé. Nếu cơ thể Bé thiếu nước, lớp da nhô lên và cứ giữ vết nhăn như thế, giống như ta bấu vào một mảnh vải vậy. Ðiều này chứng tỏ cơ thể cháu Bé đã mất từ 10% nước trở lên. Nếu chỉ mất khoảng 5%, thì vết nhăn không lâu và da dễ bình thường trở lại. để xác định lượng nước cơ thể Bé đã mất, tốt nhất là cân Bé rối lấy số cân trước đây trừ đi số cân mới.

Trong thời gian này, cháu bé thường bị đi tướt, phân lỏng VÀ XANH. BÉ VẪN CHỊU BÚ BÌNH, NHƯNG HAY ÓI.

ÐỂ CHỮA TRỊ , cần làm cho cháu khỏi chứng đi tướt: cho nhịn sữa và cho uống nước đường pha ít muối, nước củ cà rốt. Tại các hiệu thuốc, có bán sẵn những gói để pha thành dung dịch đường – muối theo tỷ lệ vừa đủ. Nên cho các cháu uống ít một, làm nhiều lần. Mỗi ngày, cháu bé phải uống từ 150 g tới 200 g cho mỗi kg cân nặng của cháu. Thí dụ: cháu nặng 5 kg thì uống: 200 g x 5 = 1.000 g nước/ngày. Như vậy một cháu bé cân nặng 5 kg phải uống khoảng 3/4 lít nước trong 24 giờ.

Trường hợp Bé vẫn bị đi tướt mà không chịu uống nước thì bác sĩ phải truyền nước qua đường tĩnh mạch cho cháu. Việc này chỉ thực hiện được ở bệnh viện.

Ðiều quan trọng khi săn sóc một đứa trẻ là phải nhận biết kịp thời tình trạng cơ thể của cháu bị thiếu nước để có biện pháp ứng cứu gấp. Chỉ cần để tình trạng này kéo dài một vài giờ là tính mạng của cháu bé trở nên nguy kịch ngay.

Bởi vậy, chúng ta cần hết sức chú ý tới trạng thái cơ thể, sắc mặt, cử chỉ của cháu bé khi cháu bị: đi tướt, nôn ói hoặc toát mồ hôi.

64. Chứng kích thích ruột kết.

Chứng kích thích ruột kết của trẻ sơ sinh là những phản ứng quá mức của ruột già, có các biểu hiện như: đi phân lỏng, nhiều hoặc phân nát có lẫn thức ăn chưa tiêu hóa hết như: nước cam vắt, rau xanh v.v… Người ta cho rằng đây là hiện tượng của ruột già phản ứng quá mức với việc tiêu hóa chưa tốt.

Tuy vậy, hiện tượng này không ảnh hưởng tới sự tăng trọng của Bé. Bé vẫn chịu ăn. Từ 3 – 4 tuổi trở đi, phân Bé sẽ tốt hơn và Bé sẽ thôi đi lỏng.

Các trẻ lớn hơn, nhiều khi lại bị đi táo hoặc xen kẽ khi đi lỏng, khi đi táo kèm theo hiện tượng đau bụng.

65. Bệnh Salmonella ở ruột.

Là loại vi trùng thuộc nhóm vi khuẩn thương hàn.

Ở TRẺ NHỎ, CÁC VI TRÙNG NÀY CÓ THỂ gây bệnh tiêu chảy cấp tính và thành dịch ở nơi gửi trẻ hoặc trong gia đình. Khi bệnh nặng, các cháu có thể tiêu ra máu, đi nhiều nên mất nước, bị sốt cao… Bác sĩ thường xét nghiệm phân để xác định bệnh.

Hiện nay, người ta có xu hướng không chỉ chữa trị bằng thuốc kháng sinh – trừ trường hợp bệnh nặng – mà chú ý chủ yếu tới chế độ ăn kiêng để khỏi đi tiêu và tìm cách bù đắp nước cho cơ thể.

66. Sự lưu thông ngược chiều dạ dày – thực quản.

Do sự hoạt động không tốt của đoạn nối giữa dạ dày và thực quản mà các chất lỏng trong bộ máy tiêu hóa thường vẫn di chuyển theo CHIỀU MIỆNG – THỰC QUẢN – DẠ DÀY -RUỘT , nay lại di chuyển theo chiều ngược lại ở đoạn DẠ DÀY – THỰC QUẢN . HIỆN TƯỢNG BẤT thường này có thể gây ra những kết quả tai hại như sau: nôn ói, chảy máu thực quản, ho sặc vì thức ăn đi nhầm cả vào những ống dẫn khí ở phổi gây chết đột ngột ở các trẻ sơ sinh. Các cuộc xét nghiệm bằng X-quang và các phương tiện khác để đo độ axít của thực quản sẽ cho bác sĩ biết các cháu đang bị mắc chứng này nặng hay nhẹ. Ðể tránh hiện tượng nôn ói của các cháu do thức ăn đi ngược chiều trở lại thực quản, các bác sĩ thường yêu cầu các bà mẹ cho các cháu hay bị chứng này ăn các thức ăn đặc hơn và bế các cháu ở tư thế đứng, nhất là sau khi ăn.

67. Viêm ruột thừa.

Khám bệnh viêm ruột thừa cho trẻ em rất khó vì các cháu ít hoặc không có khả năng xác định điểm đau. Bởi vậy, khi các cháu “bị đau ở vùng bụng” hoặc đau bụng, nên cho cháu tới bác sĩ. Vì đau bụng có nhiều nguyên nhân khác nhau.

Ðau ruột thừa cấp tính phải phẫu thuật gấp. Nhưng nếu chỉ đau vừa thì có thể là “mãn tính”, việc phẫu thuật có thể chậm lại đợi tới khi nào chỗ viêm đã ổn định.

Các trẻ nhỏ ít khi viêm ruột thừa cấp tính. Trong trường hợp cháu bị chứng bệnh này, cháu sẽ có các triệu chứng sau :

– Ðau bụng đột ngột, không phải vì muốn đi cầu vì hôm trước đã không đi cầu được nữa.

Mặt tái, mắt quầng, nôn ói, sốt khoảng 38o – 38,5oC nhưng mạch đập nhanh. Thử máu thấy bạch cầu tăng cao hơn bình thường.

Cần phải đưa cháu tới bác sĩ ngay để khám và xác định chỗ đau của ruột thừa, ở phía bụng dưới bên phải.

TRONG KHI CHỜ KHÁM, KHÔNG ĐƯỢC cho cháu ăn hoặc uống bất cứ thứ gì, và nhất là không cho UỐNG THUỐC.

KHÔNG chườm nước đá hoặc nước nóng vì làm như vậy cơn đau dịu đi, che mất các dấu hiệu khiến bác sĩ khó xác định bệnh. Sau khi bác sĩ đã xác định bệnh, hoặc có nghi ngờ phải chuyển ngay cháu qua bác sĩ chuyên về phẫu thuật để phẫu thuật gấp vì nếu chậm, khúc ruột thừa có thể bị vỡ làm viêm nhiễm cả màng bụng khiến việc chữa trị trở nên phức tạp hơn.

Các cháu qua phẫu thuật ruột thừa thường chỉ nằm viện độ 1 tuần lễ. Sau 2 – 3 tuần lễ, các cháu lại chơi và sinh hoạt bình thường.

Ðôi khi bác sĩ gọi là bị viêm ruột thừa mãn tính các cháu hay bị đau bụng nhưng không đau dữ dội, không kèm theo hiện tượng sốt và nôn ói. Khi nắn bụng các cháu kêu đau ở điểm đau ruột thừa, nhưng rất có thể là do tưởng tượng mà thôi.

68. Chứng lồng ruột cấp tính.

Chắc bạn đã từng nhìn thấy cái ống nhòm. Nó có một đoạn ống nhỏ tụt vào trong một đoạn ống lớn hơn. Khi nào có một đoạn ruột ở TRẠNG THÁI GIỐNG NHƯ THẾ THÌ ÐÓ LÀ HIỆN TƯỢNG LỒNG RUỘT .

Cháu bé bị lồng ruột sẽ quấy khóc, bị đau từng cơn mặt tái đi sức khỏe sa sút.

Chứng lồng ruột tới bất chợt. Cháu bé đang mạnh khỏe, bỗng không chịu ăn, khóc thét lên từng cơn. Từ 8 tới 12 giờ sau, cháu đi phân có máu hoặc đi ra máu.

Khi có các triệu chứng trên, cần đưa cháu tới bệnh viện ngay. Nếu chiếu X-quang ruột, thấy có lồng ruột thì phải quyết định ngay việc phẫu thuật. Tuy vậy, cũng có những trường hợp ruột tự nhiên tự tháo lồng được mà không phải phẫu thuật, nhưng vẫn phải theo dõi.

69. Bệnh phình đại tràng bẩm sinh.

Cócháu bé chậm lớn, táo bón dai dẳng từ khi mới sinh ra bụng đã phình to, khác thường. Bằng phương pháp soi X-quang ruột, bác sĩ sẽ phát hiện thấy có một đoạn ruột già của cháu bị giãn ra tiếp nối với một đoạn khác gần hậu môn bị co lại khiến cho các chất thải không lưu thông được ở đoạn ruột này.

Nếu việc xét nghiệm ruột bằng sinh thiết sau đó cũng xác định hiện tượng này thì cần phải qua một cuộc phẫu thuật.

70. Tắc ruột.

Nếu một cháu bé bị tắc ruột, cháu sẽ không đi tiêu được VÀ CŨNG KHÔNG ÐÁNH RẮM ÐƯỢC.

Ở trẻ sơ sinh, thường là do lồng ruột hoặc chứng thoát vị bẹn bị nghẹt mà ra.

Trong những ngày đầu sáu khi sinh ra, đường ống tiêu hóa của bé có thể có một vài dị tật, do không phát triển đầy đủ nên có chỗ bị xoắn. Triệu chứng đầu tiên của cháu bé thường là nôn ói, ói ra nước mật, chứng tỏ chỗ bị tắc ở nơi các đường dẫn mật vào ruột.

Tất cả các trường hợp bị tắc ruột đều phải đưa đi cấp cứu ở khoa ngoại.

71. Lòi dom.

Một số cháu bé bị lòi dom do đi táo hoặc tiêu chảy lâu. Khi các cháu rặn, phần cuối ruột gắn với hậu môn (trực tràng) bị lòi ra ngoài, nhìn như một vòng tròn màu đỏ. Các cháu ho hay khóc nhiều cũng có thể bị như vậy. Ðoạn ruột này sau đó sẽ tự động co vào hoặc dùng tay khẽ ấn vào cho cháu cũng được.

Nguyên nhân chính của chứng này là do đi táo lâu ngày, nhưng đôi khi cũng do hiện tượng cháu bé bị chứng không đẩy được “cứt su” – lượng phân đầu tiên – ra ngoài.

Chứng lòi dom thường trị bằng thuốc, rất ít khi phải phẫu thuật.

72. Hẹp môn vị.

Một số cháu bé mới sinh được khoảng 15 ngày đã bị chứng nôn ói và đi táo. Các Bé trai hay bị chứng này nhiều hơn các Bé gái. Nếu bệnh có chiều hướng ngày càng nặng, làm các cháu mệt vì đói mà không ăn được, thì các bác sĩ thường nghĩ tới chứng hẹp môn vị.

Môn vị là một cơ vòng nối liền dạ dày với đoạn đầu của ruột non. Nếu cơ vòng này bị dày lên sẽ ngăn cản sự di chuyển các chất trong bộ máy tiêu hóa từ dạ dày xuống ruột. Sữa hoặc các thực phẩm khác bị Ứ TẮC Ở ÐÂY SẼ DỘI LẠI phía thực quản và gây ra nôn ói.

Các bác sĩ phát hiện bệnh này bằng phương pháp X quang hoặc siêu âm. Một phẫu thuật đơn giản sẽ chữa khỏi hẳn chứng bệnh này.

73. Viêm gan do virút, do siêu vi B.

Trẻ em dễ bị bệnh viêm gan do vi rút. Bệnh tiến triển nhanh và khó thấy. Mới đầu, cháu bị đau bụng, nôn, không chịu ăn, mệt, đôi khi NGƯỜI MẨN ÐỎ.

Ở GIAI ÐOẠN này, việc xét nghiệm máu sẽ cho biết cháu có mắc bệnh không.

Mấy ngày sau, cháu có hiện tượng vàng da, đi tiểu ít, nước tiểu màu sẫm, phân màu nhạt. Việc xét nghiệm sẽ cho biết loại vi rút nào đã gây bệnh cho cháu.

Nếu cháu bé bị bệnh viêm gan siêu vi A là loại phổ biến nhất, thì sự phát triển bệnh rất đơn giản: thời gian bị bệnh từ vài ngày tới 2 – 3 tuần. Việc chữa trị chủ yếu là cho cháu nghỉ tại nhà, không cần phải nằm cả ngày trên giường. Giảm lượng mỡ trong chế độ ăn của cháu.

Bệnh này truyền nhiễm bởi phân và lây qua đường tiêu hóa. Bởi vậy, muốn phòng bệnh phải giữ vệ sinh sạch sẽ 2 bàn tay, các đồ dùng trong phòng vệ sinh, phòng tắm.

Một cháu bé vô tình tiếp xúc với một người bệnh, có thể tiêm gammaglobulines để phòng bệnh, ngay trong tuần lễ đã tiếp xúc

BỆNH VIÊM GAN SIÊU VI B

– Ít gặp hơn và diễn tiến của bệnh lâu hơn. Bệnh này lây qua đường máu. Hiện nay đã CÓ VẮC XIN TIÊM PHÒNG BỆNH NÀY.

TRƯỜNG HỢP ÐẶC BIỆT CỦA TRẺ SƠ SINH

– Nếu bà mẹ bị lây bệnh viêm gan siêu vi B nhất là trong 3 tháng cuối của thời gian sinh nở, bệnh sẽ truyền thẳng tới cháu bé lúc sinh ra và sẽ phát bệnh sau khi cháu sinh được 2 – 3 tháng.

Cháu bé lại là nguồn lây bệnh cho các Bé khác, nên nếu biết bà mẹ đã mang bệnh trước khi sinh cháu, thì cháu bé cần được chích GAM MA GLOBULINE NGAY TỪ KHI MỚI SINH.

Ở các bệnh viện sản, người ta thường có hệ thống phát hiện bệnh gan siêu vi B trước khi sinh.

74. Bệnh xơ nang tụy.

Bệnh có tính chất di truyền. Bé bị bệnh này có những triệu chứng như ho dai dẳng kèm theo đi tiêu chảy và chậm lớn.

Ở CÁC TRẺ SƠ SINH, BỆNH LÀM CHO CÁC BÉ không thải được lượng phân đầu tiên ra ngoài – gây ra hiện tượng bí đường tiêu hóa.

Các bác sĩ thường phát hiện bệnh bằng cách phân tích mồ hôi hoặc thử nghiệm máu của Bé. Bệnh trở thành nặng khi đã ảnh hưởng tới sự hô hấp và phải chữa trị bởi tập thể các bác sĩ chuyên khoa.

75. Bệnh viêm thận.

Bệnh viêm thận ở trẻ em do loại liên cầu trùng tán huyết streptocoque gáy ra. Thoạt đầu, cháu bé bị đau họng. 10 tới 15 ngày sau, cháu đi tiểu ít, nước tiểu màu đỏ. Mặt cháu phù lên, đôi khi cháu bị đau bụng hoặc đau đầu kèm theo hiện tượng nôn ói.

Xét nghiệm nước tiểu của cháu sẽ thấy chất albumin và máu, nhưng không có vi trùng.

Ðể chữa trị, cháu cần phải nằm nghỉ tại giường và theo chế độ không ăn muối.

Nếu nước tiểu của cháu có lượng albumin cao, thân thể phù nặng thì đó là bệnh hư thận mỡ (néphrose lipoidique).

Bệnh này có thể chóng khỏi, nhưng khi bị lại thường hay trầm trọng cần chữa trị lâu bằng các loại thuốc có cortisone.

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.