" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

Chương 14 Phụ nữ Mỹ có thành công trong kinh doanh không?

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Một phần ba trong số các công ty Mỹ hiện nay nằm dưới quyền các “nữ tướng”. Các nhà điều tra đã nghiên cứu quy mô và sức mạnh kinh tế của gần 8 triệu doanh nghiệp có “thủ trưởng bà” trên toàn nước Mỹ. Các doanh nghiệp này thu nạp hơn 15 triệu công nhân và ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu còn cho thấy tốc độ tăng trưởng của các công ty này còn cao hơn tốc độ trung bình của các doanh nghiệp toàn liên bang và khả năng chính không hề thua kém các doanh nghiệp có các “sếp nam”.

72% các doanh nghiệp có “sếp nữ” chủ yếu tập trung ở 2 ngành công nghiệp: dịch vụ và buôn bán. Tuy nhiên, các nữ doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở đó, họ bắt đầu tham gia mọi lĩnh vực của nền kinh tế bao gồm nông nghiệp, xây dựng, sản xuất, giao thông vận tải và viễn thông với quy mô ngày càng tăng.

Năm ngoái, tạp chí “American Working Woman” đã tiến hành điều tra để tìm ra nơi nào trên nước Mỹ thực sự là “đất dụng võ” của các doanh nghiệp nữ.

Thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất và số lượng các doanh nghiệp nữ thành đạt nhất là Boston. Các doanh nghiệp nữ ở đấy hoạt động thành công trên các lĩnh vực: công nghệ tin học, dụng cụ y tế và các dịch vụ môi trường. Xếp thứ hai là thành phố New York, nơi có số lượng nữ doanh nghiệp lớn nhất liên bang với con số 1 triệu, bao gồm các dịch vụ y tế, xuất bản, ăn uống và sản xuất quần áo. Nơi có nhiều chương trình hỗ trợ của chính quyền dành cho các công ty dưới quyền các “sếp” nữ, nhất là thành phố Columbus. Các công ty này chủ yếu vận chuyển hàng hóa bằng xe tải và sản xuất các phụ tùng xe hơi. ở thành phố San Francisco, phụ nữ khởi đầu sự nghiệp kinh doanh của mình luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của Tổ chức doanh nghiệp nữ bang và của các “bà chủ” công ty kỳ cựu. Lĩnh vực hoạt động của họ thường là trong ngành máy tính và một số công nghệ hiện đại khác. Đứng thứ năm trong danh sách là Philadenphia nơi phụ nữ thể hiện khả năng của mình trong buôn bán và dịch vụ. Tiếp đến Chicago là thành phố có tới 5% các dự án của Chính phủ do phái yếu triển khai, chủ yếu ở các ngành giáo dục, y tế và cho vay vốn. Còn các lĩnh vực điện tử và cầu đường lại là “đất làm ăn” của các nữ doanh nghiệp thành phố Indianapolis. ở Los Angeles, phụ nữ quản lý khá thành công trong công nghiệp điện ảnh và may mặc, và ở Baltimore là các ngành hóa chất, dịch vụ y tế và giáo dục. Đứng cuối danh sách là San Diego nơi phụ nữ điều hành thành thạo các văn phòng du lịch và các cửa hàng.

Tạp chí “Working Woman” hàng năm cũng đưa ra danh sách 5 doanh nghiệp nữ thành công nhất dựa vào doanh thu hàng năm của công ty. 50 công ty thành công nhất có tổng doanh thu lên tới 18 tỷ USD, trong đó có 43 công ty có thu nhập từ 100 đến 500 triệu USD, 4 công ty – 1 tỷ USD mỗi năm. Tạp chí này công bố có 19 nữ doanh nghiệp tự lập khởi xướng sự nghiệp của mình, 22 người tiếp tục công việc của cha hoặc người chồng quá cố, 9 người cùng cộng tác với chồng, 11 trong số 50 công ty hàng đầu này hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, 8 công ty ăn uống và thực phẩm. Trong số các nữ doanh nghiệp có 2 người là luật sư, chỉ có 1 người đã tốt nghiệp đại học thương mại và 7 người khác chưa hề bước chân tới cổng trường đại học.

Nữ luật sư Louis được tạp chí “Working Woman” bầu là nữ doanh nhân thành đạt nhất nước Mỹ. Bà lãnh đạo công ty TLC Beatrice sau khi người chồng qua đời cách đây 2 năm. Đây là công ty có tầm cỡ quốc tế lớn nhất do người Mỹ gốc Phi làm lãnh đạo. Donna Stigerwatt với công ty may mặc Jackie International đứng thứ 2 trong danh sách xếp hạng. Bà kế tục sự nghiệp của cha mình từ năm 1978. Công ty này đã bắt đầu sản xuất chủ yếu quần áo từ năm 1930, và hiện nay quần áo lót là thế mạnh của họ. Tiếp theo là Helen Copply, giám đốc Nhà xuất bản chuyên phát hành ở California và Illinois với tờ báo nổi tiếng “San Diego Union Tribune”. Ban đầu Helen làm việc cho tờ báo này, sau đó bà kết hôn với ông James Copply và thay chồng làm lãnh đạo công ty sau khi ông qua đời năm 1973. Đứng thứ 4 là Elma Aldhor, giám đốc hãng sản xuất xe hơi ở Detroit (Michigan). Giống với Helen Copply, bà cũng đứng vào vị trí của chồng từ năm 1983 sau cái chết của ông. Khó có thể tin được rằng bà nội trợ Elma lại có thể đưa doanh thu của công ty từ 35 triệu lên 560 triệu USD hàng năm. Sylvia Mialant trong chiến tranh thế giới thứ hai đã từng làm việc cho CIA, từ năm 1955 bà cùng một người bạn mở công ty Internatinal Protein, chuyên chế biến các sản phẩm từ cá. Năm nay bà 75 tuổi và mới đây bà đã quyết định nhường quyền lãnh đạo cho 4 nhân viên của mình. Cathay Necki, 36 tuổi, là người trẻ nhất trong danh sách. 10 năm trước, cô khởi đầu sự nghiệp của mình ở Huston (Texas). Công ty của cô thu mua dầu và cung cấp cho các trường học, công ty vận tải và các cửa hàng.

A.Welfree là người phụ nữ nổi tiếng nhất trong bảng danh sách. Bà lãnh đạo tổ hợp giải trí nổi tiếng nhất Chicago, bà đảm nhiệm một chương trình Tolk Show trên đài truyền hình. Theo tờ “Working Woman”, có rất ít phụ nữ được bổ nhiệm lên vị trí cao ở những công ty do nam giới lãnh đạo. Đó chính là một trong những lý do ngày càng có nhiều phụ nữ tự lập khởi đầu sự nghiệp kinh doanh của mình(1).

=======================

(1) Hiền Anh sưu tầm theo Báo KHKT-KT Thế giới tháng 6 và 7 năm 1995.

Chương 13 Văn hóa gia đình

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Gia đình là gốc rễ của xã hội, là tế bào của cơ thể xã hội. Tế bào có lành mạnh, hạnh phúc thì đất nước mới an khang, thịnh vượng.

Xã hội ổn định và phát triển luôn cần những gia đình văn minh, tiến bộ, bình yên, những mái nhà che chở ấm êm và hạnh phúc, để con người sống và làm việc góp ích cho đời.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, cho đến bây giờ, có 6 kiểu mô hình gia đình tiêu biểu:

1. Loại gia đình “tháp ngà”, gia đình với mô hình khép kín, được xây dựng trên cơ sở lý tưởng hóa cuộc sống. Đó là những cặp vợ chồng mơ mộng và tận hưởng kiểu “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”, luôn cặp kè bên nhau và nhấm nháp những kỷ niệm của tình yêu. Mô hình gia đình này thường dễ bị sụp đổ khi cuộc sống vợ chồng có biến đổi, khó khăn. Tình yêu lãng mạn không chấp nhận nổi sự phũ phàng. Nó có thể tắt ngấm sau một lần xung đột vợ chồng.

2. Loại gia đình thứ hai là nếp nhà gia trưởng “trên bảo dưới nghe”: người chồng, người bố áp đặt và cấm đoán sự phát triển nhân cách tự do của các thành viên. Người ta so sánh mô hình gia đình kiểu này như “cây sồi và dây leo trường xuân”. Người chồng là cây sồi sừng sững, là chỗ dựa cho người vợ, là chủ đối với vợ. ở đây không có sự bình đẳng, dân chủ, do đó, kiểu gia đình này thường không hạnh phúc; mối quan hệ vợ chồng chủ yếu là nghĩa vụ, trách nhiệm và vì con cái.

3. Mô hình gia đình “đấu tranh” thể hiện rõ trong các gia đình luôn tranh giành quyền lực, xem ai là chủ gia đình. Cả người vợ và người chồng đều cảm thấy mình xứng đáng là chủ cai quản và áp đặt ý kiến trong gia đình. Ai cũng cảm thấy mình có lý hơn, tài giỏi hơn trong các cuộc tranh cãi. Trong gia đình này, mỗi cớ nhỏ đều là nguyên nhân của các cuộc xung đột. Kỳ lạ thay, mô hình gia đình kiểu này mặc dù không hạnh phúc, song vẫn tồn tại lâu dài.

4. Hay gặp hơn cả là kiểu gia đình “độc lập-liên kết”. Vợ chồng là hai cá thể độc lập cả về kinh tế lẫn về tính cách. Ai cũng quý tự do cá nhân của mình, nên sẵn sàng hy sinh mọi điều (trừ con cái), kể cả chuyện quan hệ yêu đương với người khác. Họ sống biệt lập với nhau trong một mái nhà, chung những đứa con, chung tài sản mà vẫn có quỹ đen. Khen thay họ không mấy khi cãi cọ, to tiếng, mọi điều có thể dàn xếp, hiểu nhau miễn là “đừng có xía vào chuyện của tôi”. Họ có thể sống ly thân với nhau mà hàng xóm cũng chẳng biết. Đây là mô hình gia đình không hạnh phúc và hôn nhân có thể bị phá vỡ bất cứ lúc nào.

5. Mô hình gia đình “gia giáo gia phong”, được kế thừa, nuôi dưỡng bởi một truyền thống tốt của ông bà, cha mẹ để lại. Quan hệ vợ chồng và các thành viên theo thứ bậc, tôn ti, nhưng họ vẫn tôn trọng tự do cá nhân. Dòng họ, tổ tiên, ông bà là một giá trị đáng tự hào. Hạnh phúc của họ là noi gương cha ông, dòng họ, hướng thiện, học hành, làm ăn, sống phúc đức.

6. Mô hình gia đình hạnh phúc thể hiện nhiều ở các cặp vợ chồng trẻ là “liên minh thần thánh vợ chồng cả về thể xác lẫn tâm hồn và kinh tế”. Đó là “hôn nhân tình yêu, chia sẻ và trách nhiệm cao”, “hôn nhân giữa các chiến hữu”. vợ chồng dân chủ trên mọi phương diện, giúp đỡ nhau phát triển trình độ văn hóa, thẩm mỹ và cá tính. Tính lãng mạn kết hợp với tính hiện thực, sự say mê và sự tỉnh táo. Mặc dù có khi xung đột, nhưng vì dựa trên nền tảng vững chắc của tình yêu, đạo đức, trách nhiệm, cho nên giông tố qua mau và hạnh phúc lại ngự trị trong gia đình. Đây là mô hình mơ ước và phấn đấu của các cặp uyên ương trẻ.

Cho đến nay, có thể mô tả được 6 kiểu gia đình như vậy, nếu tiếp cận từ góc độ tâm lý xã hội. Mặc dù vậy, ta không được quên rằng, thời đại lịch sử đổi thay và gia đình luôn biến đổi, thậm chí tan vỡ, mất ý nghĩa. Nhưng đơn vị gia đình như một giá trị vĩnh hằng: trải bao biến cố xã hội, bao nhiêu triều đại đổi thay từ khi thoát ra khỏi chế độ quần hôn cộng sản nguyên thủy cho đến tận ngày nay, gia đình vẫn tồn tại vững bền. Ngay ở một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển, vật chất dư thừa, khoa học kỹ thuật văn mình, có thời đề cao chủ nghĩa cá nhân, chạy theo lối sống thực dụng, chối bỏ gia đình, sống tự do bừa bãi, nay mới vỡ mộng nhận ra một điều: không thể phá bỏ đơn vị gia đình. Phá bỏ gia đình cũng có nghĩa là tự sát. Phải quay về xây dựng nền tảng gia đình để cứu nguy cho sự bế tắc của cá nhân và xã hội.

Tại sao vậy?

Bởi lẽ, sự hình thành gia đình là một lịch sử tiến hóa tự nhiên. Xưa nay, gia đình vẫn là “Tổ ấm”, là “Ngôi Nhà của Mình” như con chim có tổ. Từ xưa đến nay, bao giờ gia đình cũng là đơn vị cơ bản tạo nên xã hội: nó thực hiện chức năng kinh tế, sinh học và giáo dục con người. Gia đình là nơi các thành viên hợp tác với nhau trong lao động sản xuất làm ra của cải để nuôi sống mình và xã hội; nơi sinh con đẻ cái để duy trì nòi giống; nơi nuôi dưỡng giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người.

Gia đình là mái nhà, là ngọn lửa ấm, thức ăn và những con người sum vầy vui sống. Một cộng đồng đặc biệt của những con người cùng huyết thống (cha con, anh em), một liên mình thần thánh giữa hai người khác giới (vợ chồng) tự nguyện. Những đứa trẻ lang thang bụi đời, không cha không mẹ, không gia đình là một bất hạnh lớn nhất của loài người. Sự trống vắng hơi ấm gia đình, thiếu tình mẫu tử là một thiệt thòi hơn thế nữa, nó thường gây ra khủng hoảng khó bề khắc phục được.

Gia đình là nơi bảo tồn, giữ gìn, truyền thụ văn hóa của dân tộc và thời đại, cái bệ phóng để con người bước vào đời, bay cao, bay xa.

Gia đình là nơi sinh ra ta, nuôi dưỡng ta và chi phối toàn diện đến sự phát triển nhân cách mỗi chúng ta, quy định nội dung, đường hướng, những khát vọng và ước mơ của mỗi chúng ta.

Cái gì là căn bản, gốc rễ tạo nên cốt cách gia đình, để gia đình là tổ ấm, là ngôi nhà hạnh phúc đầy ắp tiếng cười và tình yêu thương?

Đó là văn hóa gia đình, là nếp nhà, gia phong, gia giáo, gia huấn truyền thống đã xây dựng nền tảng cho sự phát triển nhân cách. Đây là lý do giúp chúng ta hiểu tại sao trong cộng đồng dân tộc, qua các thời kỳ lịch sử, những nhân tài có công với đất nước phần đông đều xuất thân từ những gia đình gia giáo, từ những dòng họ có bề dày truyền thống văn hóa. Điều này cũng giải thích tại sao trong lịch sử nước ta có nhiều gia đình có hai, ba, bốn thế hệ nối tiếp nhau cống hiến tài năng, sức lực cho đất nước.

Điều đáng nói là lớp trẻ, lớp thanh niên ngày nay thường chỉ thấy gia đình là “nền tảng vật chất sinh học” của nó mà không hiểu rõ cốt cách văn hóa tinh thần, cái hồn của gia đình. Khi hỏi về mô hình lý tưởng để phấn đấu là gì, chúng ta chỉ nghe được câu trả lời dí dỏm: “Sao cho có được Một – Hai – Ba – Bốn là tuyệt vời”. Đó là “một vợ, hai con, nhà ba tầng, xe bốn bánh”. Sự xâm nhập của lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền bằng bất cứ giá nào đã làm xói mòn, hoen ố, thậm chí đánh mất bản sắc văn hóa truyền thống của gia đình. Họ cho rằng, gia đình là một căn hộ mà mọi thành viên chung sống ở đó phải có đầy đủ tiện nghi vật chất như xe máy, ti vi màu, đầu video, máy nghe nhạc CD rồi máy vi tính đời mới.

Không ai phủ nhận vai trò của các tiện nghi đó – những sản phẩm của trí tuệ con người, của thời đại văn minh đã làm thỏa mãn nhu cầu của con người, trau dồi các năng lực cảm thụ văn hóa… nhưng thực tế thật phũ phàng và đau xót: trong căn nhà chứa đầy đủ tiện nghi đắt tiền cao sang ấy là những con người không có văn hóa, thiếu nhân cách. Do đó, chỉ cần có một xung đột vợ chồng, khủng hoảng tình cha con thì cả tòa nhà năm tầng cũng có nguy cơ sụp đổ. Có khi tiền mất tật mang, vợ chồng chia ly, con cái tan đàn xẻ nghé. Không phải do thiếu tiền, thiếu ăn, không phải do không thành đạt vẻ vang bằng người… mà cái chính là nếp nhà đã mục nát, đạo đức gia phong hoen ố. Bởi vì, một điều thật đơn giản, tiện nghi chỉ là phương tiện để con người sử dụng, có thể mua sắm ngay nếu có tiền; còn văn hóa gia đình thì phải vun trồng, chọn lọc, tập luyện và trau dồi, không thể một sớm một chiều mà có được. Một nhà có thể giàu lên nhanh chóng sau một đêm nhưng để có gia phong mẫu mực, đạo đức gia đình thì phải hàng chục năm, hàng thế hệ. Thực tế trong xã hội ta hiện nay không thiếu những gia đình sống trong căn nhà to, đầy đủ tiện nghi sang trọng, con người ăn mặc đúng mốt, đẹp đẽ mà bất hạnh, đối xử với nhau thô bạo, phi đạo đức. Bởi vì ở đó, những nề nếp căn bản, những chuẩn mực đạo đức tiến bộ không còn, thay vào đó là sự hoành hành của thói ích kỷ, lai căng vô đạo, vô tình của văn hóa đen.

Văn hóa gia đình Việt Nam hiện này phải là sự chung đúc của văn hóa truyền thống kết hợp với tiếp thu, lĩnh hội những giá trị mới của gia đình hiện đại. Trong tình hình hiện nay, phải cố mà giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đã thành truyền thống như:

– Tục thờ cúng tổ tiên, uống nước nhớ nguồn.

– Lòng hiếu đễ với cha mẹ.

– Tình nghĩa vợ chồng thủy chung, “thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”. Người phụ nữ mới nhưng vẫn trau dồi tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh.

– Tình “anh em như thể tay chân”, “chị ngã em nâng”, “môi hở răng lạnh”, “máu chảy ruột mềm”.

– Truyền thống tôn sư trọng đạo, “tiên học lễ, hậu học văn”.

– Phương pháp “dạy con từ thuở còn thơ”, “bé không vin, cả gẫy cành”, “phải biết trên kính dưới nhường”, “đi thưa về bẩm”.

– Quan hệ với xóm giềng “tối lửa tắt đèn có nhau”, đoàn kết giúp nhau trong lao động và phát triển…

Đây là những chuẩn mực đạo đức vẫn chưa lỗi thời mà còn thấm đậm chất nhân văn cao cả, thể hiện khát vọng vươn tới cái chân, cái thiện, cái đẹp của con người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng có những giá trị mới của gia đình hiện đại cần phải tiếp thu, đó là:

– Tôn trọng cá tính và tự do cá nhân trên cơ sở pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội.

– Quan hệ dân chủ và bình đẳng giữa các thành viên. Phong cách gia trưởng “trên bảo dưới nghe”, áp đặt con người tuân theo chuẩn mực đạo đức bảo thủ của lễ giáo phong kiến đã lỗi thời, cần phải loại trừ.

– Mỗi cá nhân đều tự khẳng định mình một cách mạnh mẽ và xu hướng độc lập về kinh tế đã trở nên phổ biến. Đặc điểm này làm cho quỹ thời gian để các thành viên trong gia đình sum họp tâm tình: vợ chồng ít gần nhau, con cái xa cha mẹ, người già cô đơn…

Muốn có một gia đình gia giáo, hạnh phúc, một vấn đề trung tâm là phải giáo dục, rèn luyện năng lực ứng xử có văn hóa phù hợp với các chuẩn mực đạo đức truyền thống cũng như yêu cầu của xã hội hiện đại, ứng xử phù hợp với quy luật tâm sinh lý của con người. Ngày nay, con người và gia đình trong xã hội hiện đại luôn bị tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, của sự phát triển khoa học và công nghệ, đồng thời luôn bị chi phối bởi những mối quan hệ xã hội phong phú, đa dạng và luôn biến đổi. Nghĩa là, các thành viên của gia đình luôn được đặt vào những tình huống khó xử, đó là:

– Khó xử trong quan hệ vợ chồng.

– Khó xử trong giáo dục con cái.

– Khó xử trong quan hệ với cha mẹ đẻ, ông bà, người thân, láng giềng.

Những tình huống đời thường mà rất phức tạp, nếu không có năng lực ứng xử tốt thì “cái sảy nảy cái ung” dẫn đến nguy hại khôn lường. Muốn ứng xử thành công, bạn cần phải có một trình độ văn hóa nhất định, có kiến thức phổ thông về tâm lý học ứng dụng, về sinh lý học, sư phạm và đạo đức học.

Chương 12 Kể lại chuyện 15 năm kiên trì của một nhà doanh nghiệp nữ…

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Hồi giữa tháng 11 vừa rồi, khi được dịp trình bày những kinh nghiệm bảo đảm cho đơn vị tồn tại được đến năm nay, một nhà doanh nghiệp nữ đã đề tựa cho phát biểu của mình là “Kiên trì xây dựng và giữ vững hợp tác xã”. Khi nghe hết những ý kiến thẳng thắn, nói thật, không vòng vo khuôn sáo, cử tọa mới hiểu những chữ “kiên trì xây dựng và giữ vững hợp tác xã” đối với đơn vị của bà mang một nội dung, ý nghĩa thoát ra khỏi khuôn sáo bình thường, hoàn toàn không phải là những chữ mòn rỗng, quen thuộc như ai muốn nói cho. .. có. Đó là bà Nguyễn Thị Cúc chủ nhiệm HTX Mây-Tre-Lá Ba Nhất ở quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

Theo lời bà, khi mới thành lập, hồi năm 1979, HTX của bà đã có 300 xã viên và 200 lao động phụ, vốn cổ phần là 3.000 đồng (10 đồng một cổ phần một xã viên), và là một sự khởi đầu đẹp đẽ. Giá trị sản lượng năm đó đã bằng hai năm 1977 và 1978 cộng lại: 269.725 đồng để rồi sau đó liên tục tăng trưởng, 1980 là 370.535 đồng, 1981: 574.888 đồng, 1982: 1.625.476 đồng và năm 1983: 2.842.063 đồng…

Đến khi cơ chế của nền kinh tế đất nước thay đổi, HTX Mây-Tre-Lá Ba Nhất với đà “ăn nên làm ra” của năm 1985 vẫn từng bước thích nghi được, tuy thu nhập của xã viên và người lao động có giảm sút. Chỉ đến năm 1990, khi Liệp hiệp xã ngành tiểu thủ công nghiệp trung ương, thành phố, quận, huyện giải thể để lập ra các Công ty Sihaco và Rabamexco thì HTX Ba Nhất mới “thực sự đứng trên bờ vực tan rã”: hàng tồn kho trị giá 15 triệu đồng không biết giao cho ai; không có ai gia công; không biết ai mua hàng để chào bán: người xin ra HTX ngày càng đông… Qua sáu tháng, hàng bị mốc phải đốt bỏ. HTX hết vốn. Xã viên từ 389 người giảm chỉ còn…70! 10% giá trị tổng sản lượng mà HTX phải đóng góp cho Liên hiệp xã thành phố, quận, huyện để làm quỹ ngành là 6%, để vào quỹ bảo hiểm là 4%, cũng bị tước đoạt (chữ của bà Cúc).

Sở dĩ việc phát sinh gây điêu đứng cho HTX đến như thế, vì theo cơ chế cũ, HTX cơ sở không có quyền tự chủ giao dịch với khách hàng. Chỉ có Liên hiệp xã trung ương và Liên hiệp xã thành phố mới được giao dịch, lấy mẫu của HTX đem chào hàng, làm giá, ký hợp đồng giao nguyên liệu, giao định mức cho HTX gia công “giao nộp sản phẩm theo kế hoạch”. ách tắc nguyên vật liệu thì HTX tự lo, kể như HTX bán sản phẩm cho Liên hiệp xã cấp trên, khi Liên hiệp xã cấp trên giải thể đột ngột để lại bao nhiêu hậu quả thì HTX phải gánh chịu hết. Vậy mà, tuy chỉ còn lại 70 xã viên, thu nhập mỗi người chỉ còn 30.000 – 35.000đ/tháng, bà chủ nhiệm “kiên trì” không để HTX tan rã, “kiên trì” không bỏ HTX, giữ cho HTX “kiên trì” sản xuất hàng mẫu chào bán cho khách du lịch làm quà biếu. Từ đó về sau, ở Ba Nhất chỉ còn lại hai điều “mẫu hàng đẹp” và “mặt hàng khang trang” mà thôi!

Không ngờ mẫu mã hàng đẹp lại giúp Ba Nhất trở nên “ăn nên làm ra” lần nữa. Năm 1993, một người khách Pháp đem một mẫu hàng sản xuất bằng vỏ bắp của Trung Quốc đến đặt HTX làm y như vậy, nhưng bằng lá buông. Bằng chất liệu mới này, sản phẩm làm ra đẹp hơn, được khách hàng thích hơn. Cơ chế cũng thoáng hơn, HTX được ký hợp đồng với khách. Cuộc vực dậy, đi lên bắt đầu từ đó, doanh thu năm 1993 lên tới 50.000 USD. Năm đó, khách hàng ứng trước cho HTX 30% trị giá hợp đồng để làm vốn. Sang năm 1994, để được ứng trước tỷ lệ tương tự, HTX uyển chuyển “nhân nhượng” thêm về giá chút đỉnh. Tuy có Quỹ từ thiện Cidse cho HTX vay 10.000 USD không lấy lãi nhưng cũng có lúc cần vốn, HTX không sợ mà vay luôn bên nước ngoài với lãi suất 5% đến 7%/tháng. Chịu đựng được lãi suất này, theo lời bà Cúc, HTX Ba Nhất đã chứng minh được rằng Ba Nhất “đã hồi sinh bằng chính đôi tay, đôi chân của mình”.

Thấy các hợp đồng ký kết với khách hàng nước ngoài và thấy việc thực hiện nghiêm túc, đúng hạn các hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài Quốc doanh – VP Bank cho HTX vay tín chấp, với lãi suất 2,5%/tháng. Còn đến giờ, mỗi khi có tín dụng thư (LC) của khách mở về VP Bank, ngân hàng này cho HTX vay bằng thủ tục dễ dàng với lãi suất 1,8%/tháng. Nhờ vậy, mới cuối tháng 10-1995 mà HTX Ba Nhất đã có hợp đồng cho cả năm 1996 với trị giá 614.000 USD.

Nhưng bà chủ nhiệm HTX Ba Nhất không hề ngại nhìn thẳng vào sự thật, nghề nghiệp và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình: “Nhìn đơn thuần bề mặt kinh tế, ngành mây tre lá không hái ra ngoại tệ bằng nhiều cách xuất khẩu khác. Tuy vậy, xét về mặt lợi ích xã hội thì ngành mây tre lá có tác dụng lớn. Những năm 1985-1986, ngành đã thu hút 40.000 lao động, tạo việc làm cho 10.000 gia đình lao động, nếu tính cả lao động phụ thì tới 70.000 – 80.000 người”.

Những kiến nghị của Ba Nhất cũng thật cụ thể, thật sát sườn. Dưới thời bao cấp, được vay 50% trị giá hợp đồng với lãi suất ưu đãi không phải thế chấp. Nay đổi mới, chẳng lẽ vay vốn phải… thế chấp? Nhất là đối với một đơn vị thành viên đều hầu hết là nữ, lao động nghèo, có người là “người lầm lỡ vào đời sớm”. Do vậy, HTX mong sao các Ngân hàng Thương mại thực hiện đúng tinh thần Công văn số 591/CV-NH của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về vốn mới đây, để khuyến khích kinh tế HTX.

Về thuế, hiện tại Ba Nhất vẫn phải đóng thuế 5% trên giá mua, coi như vì mua hàng không hóa đơn, phải đóng thuế thay cho thợ rừng. Muốn mây tre lá rẻ, đúng thời vụ thường xuyên phải mua trực tiếp từ thợ rừng, gom góp mỗi nơi một ít mới đủ nguyên liệu sản xuất. Vậy làm thế nào để có hóa đơn của Bộ Tài chính từ những người thợ rừng tản mạn ấy? Có cách giải quyết nào khác hơn không? HTX cũng đề nghị Nhà nước xem xét lại thuế lợi tức, 35% trên lãi ròng của HTX khó có còn gì để tích lũy, xây dựng cơ sở vật chất. Và chuyện cuối cùng, khách hàng đến Ba Nhất đặt hàng theo catalogue, mua sản phẩm… nhưng HTX vẫn chưa được phép trực tiếp bán cho họ mà vẫn phải tiếp tục bán qua một công ty trung gian, để trung gian này, theo HTX “phết phẩy” thành quả lao động của xã viên! Có cách nào giảm bớt hay chấm dứt cảnh phết phẩy này không?(1)

===============================================

(1) Trần Quang Thịnh sưu tầm theo Thời báo kinh tế Sài Gòn số 7-12-1995.

Chương 11 Hai mươi phút với nữ đạo diễn Đức giàu có – Doris Drrie

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Là một nhà văn, đồng thời là một đạo diễn phim, Doris Drrie đã có những thành tựu khá lớn với nhiều tác phẩm được xuất bản. Tại Đức, bà đã bắt đầu sự nghiệp điện ảnh của mình với bộ phim “Những người đàn ông” chuyển thể từ một truyện ngắn của mình, và đã trở nên nổi tiếng ở nhiều nước. Năm 1995, D.Drrie được nhận giải thưởng Ernst Hoferichter về tác phẩm văn học, giải thưởng Montblanc cho tác phẩm “Lang thang” và huân chương “Vì công trạng” của Nhà nước CHLB Đức.

Ngày 26-5-1996, Doris Drrie đã chọn đúng ngày sinh nhật thứ 41 của mình để trình chiếu bộ phim “Những người đàn ông” trước thanh niên thành phố Hồ Chí Minh.

Không ai biết điều đó, cả ban tổ chức…! Với một tác phong giản dị và gần gũi, D.Drrie nói chuyện với khán giả trẻ của mình qua một thông dịch là người Đức. Nhiều tràng pháo tay nồng nhiệt vang dội khắp hội trường động viên cho những câu khó diễn đạt mà người bạn Đức đã cố gắng nói cho dễ hiểu. Ngắn gọn và pha chút hài hước, D.Drrie nói về bộ phim sắp được giới thiệu của mình: “Tôi hy vọng bộ phim sẽ rất dễ hiểu đối với các bạn. Bởi vì những người đàn ông trên thế giới đều luôn giống nhau”. Và khi nhìn xuống hội trường đông nghịt các bạn trẻ, D.Drrie hào hứng tiết lộ một bí mật: “Hôm nay là sinh nhật của tôi. Các bạn đã đến đây, đó là một món quà quý nhất đối với tôi”.

Với một khoảng thời gian rất ngắn, Doris Drrie đã bày tỏ quan điểm làm phim của mình trong một buổi tọa đàm ngắn cùng với một số nhà báo. Bà nói ngắn gọn:

– Tôi cho rằng điện ảnh phải có tính giải trí. Bởi vì khán giả có quyền được giải trí khi họ tới rạp xem phim.

– Theo bà, nền điện ảnh Đức hiện nay như thế nào đối với các nước phương Tây, nhất là đối với đại cường quốc điện ảnh Mỹ?

– Phim Mỹ chiếm 90% trên các rạp chiếu phim ở Đức. Phim Đức chỉ còn 10%, trong số đó cũng có lọt vào được vài phim Pháp, Ý…

– Còn phim Hồng Kông?

– Phim Hồng Kông xâm lấn thị trường phim Đức dữ nhất là vào thập niên 70. Hiện nay hầu như đã vắng bóng vì người ta đã phát ngán nó.

– Theo bà, những loại phim về lịch sử, truyền thống có sức hút với khán giả Đức không? Thị hiếu của giới trẻ nước bà hiện nay là gì?

– Người ta hoàn toàn thờ ơ với loại phim lịch sử. Nói cho đúng là họ ngán xem cái gì đó có vẻ nặng nề, giết chóc. Tâm lý người Đức bây giờ thích loại phim về chính đời sống của thời đại họ, và phải có chất hài hước, dí dỏm.

– Thế thì muốn làm những bộ phim truyền thống, Nhà nước phải tài trợ?

– Vâng, đó là quy luật. Mỗi năm Nhà nước phải bỏ tiền tài trợ cho thể loại phim này – khoảng 50 bộ phim. Mỗi phim trung bình có kinh phí 5 triệu rưỡi mác. Riêng bộ phim của tôi, “Những người đàn ông”, là có kinh phí nhẹ nhất: 800.000 mác.

– Khi đến Việt Nam bà có muốn tiếp xúc và tìm hiểu những nơi sản xuất phim của chúng tôi không? Xin hỏi thật lòng, bà đã xem phim của chúng tôi chưa và có nhận xét như thế nào về điện ảnh Việt Nam, xin bà cứ nói thẳng thắn ý kiến của mình.

– (Cười) Tôi thấy không cần thiết phải đến thăm các hãng phim của các bạn. Bởi tôi cho rằng nơi nào làm phim cũng giống nhau. Cũng bấy nhiêu máy móc, bấy nhiêu con người. Điều tôi cần quan tâm nhất là cách sống, là cuộc sống bình thường của người dân Việt Nam. Tôi cố gắng tìm hiểu phong tục, tình cảm, tâm hồn của người Việt Nam, và càng thấy nhiều điều lạ lẫm, nhiều khi đối nghịch với đời sống nhân dân tôi. Nhưng tôi thật sự thích, và có một nung nấu về đề tài này trong bộ phim sắp tới của tôi. Còn phim Việt Nam thì thật ra tôi xem cũng khá nhiều, nhưng xin lỗi, tôi không nhớ tên bộ phim nào (?!). Tôi cảm thấy nếu các bạn muốn cạnh tranh với sự xâm nhập của phim Hồng Kông, thì trước hết điện ảnh Việt Nam phải giữ được văn hóa của chính mình. Phải gần gũi hơn nữa với cuộc sống của khán giả, tức là nhân dân mình. à! Có một bộ phim tôi mới vừa được xem, đó là phim “Xích lô”.

– Thưa bà, rất tiếc đó không phải là phim Việt Nam, không phải do người Việt Nam làm.

– Vâng, tôi biết. Cho nên tôi nói “một phim về Việt Nam”. Tôi biết đó không phải là phim Việt Nam. Vì các bạn không thể làm một phim về mình mà hoàn toàn không có chút gì giống mình như thế. Tôi muốn nói là tôi cảm thấy bất nhẫn khi xem phim. Bởi vì, tôi và một số người bạn của tôi đã đến Việt Nam, nên đã biết rõ phim đã phản ánh hoàn toàn sai sự thật về đất nước bạn. Nhưng với những người chưa đến Việt Nam, nếu qua phim này mà hình dung ra đất nước bạn thì tôi cho là thật tai hại…!

Dù bà Doris Drrie không có gốc Việt, đã không học nói tiếng Việt và bà cũng không hề có ý muốn dùng đất nước này làm cái bàn đạp để mưu cầu những giải thưởng lớn của quốc tế, bà đã không bôi đen, dày xéo lên nó để gây ấn tượng lạ như một số người phương Tây đã làm. Tôi càng cảm ơn bà hơn khi câu đầu tiên bà nói với những khán giả trẻ Việt Nam đến xem phim của bà ở Nhà Văn hóa Thanh niên, không phải về phim “Những người đàn ông” mà là về phim Việt Nam: “Các bạn nên xem nhiều phim Việt Nam, phải ủng hộ và cổ vũ phim của mình. Có như thế điện ảnh Việt Nam mới phát triển, nếu không, các bạn sẽ đẩy nó xuống dốc đấy”…(1)

===============================

(1) Ngô Ngọc Vũ Long sưu tầm theo Báo Sài Gòn Giải phóng số 6787 – Chủ nhật 2-6-1996

Chương 10 Một số phụ nữ nổi bật trên chính trường thế giới

Filed under: Truyện chia sẻ — tonyfan @

Ngày nay, trên chính trường thế giới có nhiều phụ nữ đảm trách những nhiệm vụ quan trọng. Họ là những chính trị gia nổi tiếng, hoạt động của họ không những có ảnh hưởng mạnh mẽ trong nước mà còn tác động mạnh mẽ đến chính trường trong khu vực và trên thế giới.

Khu vực Nam á có rất nhiều phụ nữ giữ trọng trách cao trong Chính phủ. Chính họ đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt chính trị của khu vực này. Trước hết, phải kể đến nữ thủ tướng Pakistan Benazir Bhutto người đã đấu tranh không ngừng vì hòa bình và ổn định của đất nước Pakistan, đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ và chăm sóc trẻ em trên thế giới. Nữ tổng thống Sri Lanca Chandrika Kumaratunga đã lãnh đạo đất nước thoát khỏi máu lửa của khủng bố của tổ chức Những Con hổ Giải phóng Tamil. Bà rất có công trong việc đánh bại quân phiến loạn để thiết lập một nhà nước thống nhất. Bà Begum Khaleda cũng là một nữ chính trị gia nổi bật trên chính trường Nam á. Hoạt động chính trị của bà có ảnh hưởng rất lớn trong việc thúc đẩy hòa bình trong khu vực. Nữ thủ tướng Khaleda còn là một người đấu tranh không biết mệt mỏi cho quyền lợi của phụ nữ trên khắp thế giới. Hai nữ chính trị gia cũng được nhiều người biết đến là bà Tansu Ciller, thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ và bà Gro Harlem Brundtland, thủ tướng Na Uy. Hai bà này có công rất nhiều trong việc đưa đất nước phát triển kịp với các nước trong khu vực. Nữ Thủ tướng Tansu Ciller có công rất lớn trong việc làm thay đổi bộ mặt kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ.

Bà Violeta Chamorro, tổng thống Nicaragua, là nữ chính trị gia nổi bật. Bà đóng một vai trò quan trọng trong khôi phục và phát triển kinh tế của đất nước. Bà là người đi đầu trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc và vì sự bình đẳng đối với phụ nữ. Bà Mary Charles, thủ tướng Dominica, đã góp một tiếng nói rất quan trọng trên chính trường ở Mỹ La tinh. Tất cả mọi việc làm của bà đều đem lại quyền lợi cho đất nước và dân tộc của bà. Gần 4 năm qua, bà Hyllary đã góp một tiếng nói quan trọng của mình trên chính trường nước Mỹ và thế giới. Đệ nhất phu nhân Hillary được coi là một cố vấn chính trị quan trọng của tổng thống Bill Clinton. Bà rất nhạy cảm trong các vấn đề chính trị. Do đó, bà có cái nhìn rất sắc bén đối với những diễn biến trên thế giới. Bà Hillary như là một tấm gương sáng trong hoạt động xã hội. Bà luôn đấu tranh để đem lại quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em trên thế giới. Vương phi Diana cũng được coi là một nhà hoạt động xã hội xuất sắc. Nhiều năm qua, người phụ nữ xinh đẹp và lắm tai tiếng này đã mang tấm lòng bao dung của mình đến với nhiều trẻ em bất hạnh, khổ đau trên thế giới. Bà đi đầu trong công tác từ thiện, vận động mọi người quyên góp để giúp đỡ cho những đứa trẻ nghèo khó.

Và còn hàng trăm nghìn phụ nữ khác trên thế giới ngày đêm hoạt động tích cực trong công tác xã hội không ngoài mục đích đem lại hòa bình và hạnh phúc cho nhân loại. Ngày nay, phụ nữ đã góp được một tiếng nói quan trọng trong cuộc đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, ổn định và hạnh phúc trên toàn thế giới (1).

===========================

(1) Vương Quang Vinh sưu tầm theo Báo Công an nhân dân số 388 – Thứ bẩy 9-3-1996

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.