" Đừng đứng một chỗ rồi sợhãi – Cứ đi sẽ có đường – Never Stop Action "

Cao huyết áp

Những bài thuốc trị bệnh bằng trái cây – Hà Duyệt Phi, Vương Lợi Kiệt

Phần 2: Các bài thuốc bằng trái cây

I. Chữa bệnh nội khoa

2. Cao huyết áp

Bài 1

– Thành phần: Táo tây 1 quả, sứa biển 60 gam.

– Cách chế: Táo gọt bỏ vỏ, thái miếng, sứa rửa sạch, thái miếng.

– Công hiệu: Điều trị cao huyết áp.

– Cách dùng: Ăn hết trong 1 lần, ngày ăn 2-3 lần.

Bài 2

– Thành phần: Nhân hạt táo chua 30 gam, hạnh nhân 15 gam, nhân hạt bách 15 gam.

– Cách chế: Đem 3 thứ trên sắc kỹ.

– Công hiệu: Điều trị cao huyết áp.

– Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.

Bài 3

– Thành phần: Hoa hướng dương 1 bông, hồng táo 20 quả.

– Cách chế: Cho hoa và táo vào luộc chín.

– Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định đối với bệnh cao huyết áp.

– Cách dùng: Vừa ăn táo vừa uống nước luộc mỗi ngày 2-3 lần.

Bài 4

– Thành phần: Vỏ quả cọ 9-18 gam.

– Cách chế: Đun sắc.

– Công hiệu: Chữa cao huyết áp.

– Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.

Bài 5

– Thành phần: Táo tàu 6 quả, hoa bách hợp (actysô) 30 gam, sa sâm 15 gam, gạo tẻ 250 gam.

– Cách chế: Cho táo, hoa bách hợp, sa sâm và gạo vào nấu cháo.

– Công hiệu: Chữa cao huyết áp.

– Cách dùng: Ăn cháo mỗi ngày 1-2 lần.

Bài 6

– Thành phần: Sơn tra 200 gam.

– Cách chế: Sao vàng, tán thành bột.

– Công hiệu: Có tác dụng điều trị bệnh mạch vành.

– Cách dùng: Mỗi lần uống 2-3 gam, ngày 2-3 lần.

Chữa ho

Những bài thuốc trị bệnh bằng trái cây – Hà Duyệt Phi, Vương Lợi Kiệt

Phần 2: Các bài thuốc bằng trái cây

I. Chữa bệnh nội khoa

1. Chữa ho

Bài 1

– Thành phần: Quýt tươi 1-2 quả, khế chua tươi 1 quả.

– Cách chế: Rửa sạch, bỏ vỏ, thái mỏng.

– Công hiệu: Trị ho.

– Cách dùng: Nhai nát nuốt lấy nước, mỗi ngày vài lần.

Bài 2

– Thành phần: Vỏ quýt tươi 30 gam (vỏ khô 13 gam), nước 600 ml.

– Cách chế: Sắc kỹ đến khi còn 400 ml nước thuốc.

– Công hiệu: Chữa ho do cảm mạo.

– Cách dùng: Hòa đường vừa phải, uống 200 ml lúc đang nóng, sau nửa giờ đun nóng uống tiếp 200 ml còn lại, ngày 2-3 lần.

Bài 3

– Thành phần: Rễ chuối tiêu tươi 120 gam, muối ăn một ít vừa đủ.

– Cách chế: Giã nát, vắt lấy nước đun sôi

– Công hiệu: Chữa ho do phế nhiệt.

– Cách dùng: Hòa nước uống, ngày 2-3 lần.

Bài 4

– Thành phần: Lê 1 quả, ma hoàng 1,5 gam.

– Cách chế: Lê bỏ lõi, cho ma hoàng vào, ninh nhừ.

– Công hiệu: Giảm ho.

– Cách dùng: Bỏ ma hoàng ra, ăn lê và uống nước sắc, ngày 2-3 lần.

Bài 5

– Thành phần: Hồng 6 quả, lá chè 3 gam, đường phèn 15 gam.

– Cách chế: Cho cả 3 thứ trên vào ấm đất, ninh nhừ.

– Công hiệu: Có tác dụng nhất định chữa ho nhiều đờm.

– Cách dùng: Trộn đều ăn, ngày 2-3 lần.

Bài 6

– Thành phần: Xoài 50 gam, đường trắng 25 gam, chè xanh 0,5 – 1 gam.

– Cách chế: Xoài bỏ hạt, lấy vỏ và cùi thịt, đổ 400 ml nước, đun sôi 3 phút, cho đường trắng và chè xanh vào là được.

– Công hiệu: Chữa ho nhiều đờm.

– Cách dùng: Ăn tùy ý.

Bài 7

– Thành phần: Nhân đào hạt 100 gam, đường trắng 50 gam, rượu 150 ml.

– Cách chế: Giã nhỏ nhân đào hạt, cho đường, rượu vào nồi đất, đun to lửa cho sôi rồi chuyển nhỏ lửa đun 10 phút là được.

– Công hiệu: Điều trị chứng ho do hư hàn ở người cao tuổi sức yếu, tân dịch nhiều.

– Cách dùng: Ngày 1-2 lần, uống liền 3-10 ngày.

Bài 8

– Thành phần: Cau 10 quả, đường phèn, nước vừa đủ dùng.

– Cách chế: Cho tất cả vào nấu trong vài phút.

– Công hiệu: Chữa ho nhiều đờm.

– Cách dùng: Uống thay nước chè.

Quả mận sinh tân dịch, tiêu thức ăn

Những bài thuốc trị bệnh bằng trái cây – Hà Duyệt Phi, Vương Lợi Kiệt

Phần 1: Đặc tính và cách sử dụng trái cây chữa bệnh

30. Quả mận sinh tân dịch, tiêu thức ăn

Quả mận thường có màu đỏ sẫm hoặc xanh, ăn vừa chua vừa ngọt, giòn, nhiều nước, được nhiều người ưa thích.

Người Trung Quốc gọi mận là lý. Lý với đào đi đôi với nhau thành “đào lý”, thường được ví với những gì tốt đẹp, chẳng hạn như cảnh đẹp thì có “xuân phong đào lý”; người đẹp “tươi như đào lý”. Người chân thành, trung thực có sức thu hút cũng được ví với đào lý, chẳng hạn như: “Đào lý không nói mà người dưới vẫn tự đến thành lối mòn”.

Mận cũng như đào thường ra hoa vào mùa xuân. Hoa đào đỏ thắm, hoa mận trắng ngần tô điểm cho sắc xuân thêm tươi đẹp. Quả mận có thể ăn tươi hoặc chế biến thành mận khô, mứt, mận hộp. Mận giàu chất dinh dưỡng, chứa nhiều axit amin, protein, chất thiên môn đông, cenlulose và nhiều loại muối khoáng, được các nhà dinh dưỡng học đánh giá cao.

Theo Đông y, quả mận tính hơi ấm, vị ngọt, chua, hơi đắng, cả hoa, cành, lá, rễ, vỏ đều có thể dùng làm thuốc. Mận có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân dịch, giải khát, giúp dễ tiêu hóa thức ăn, lợi thủy, tiêu thũng, dùng điều trị nóng trong, ăn khó tiêu, viêm gan phúc thủy (bụng có báng nước), khó tiểu tiện.

Tuy nhiên, nếu ăn nhiều mận sẽ sinh đờm, hại răng, người bị suy nhược cơ thể nên ăn ít loại quả này. Theo kinh nghiệm của người xưa, quả mận nào có vị đắng chát hoặc thả vào nước thấy nổi thì có độc tố, không được ăn.

Các bài thuốc chữa bệnh bằng mận

– Thanh nhiệt giải nóng: Nước mận, nước dưa hồng, nước nho mỗi loại 10 gam, trộn đều uống.

– Kém ăn: Mận tươi vài quả, nho khô 6 gam, nhai ăn trước mỗi bữa cơm.

– Da phù thũng: Vỏ rễ mận 30 gam, rễ nho 30 gam, sắc uống.

– Báng nước do bệnh gan: Vỏ rễ mận 30 gam, rễ khế 30 gam, phật thủ 6 gam, thanh bì 9 gam, xuyên luyện tử 6 gam, sắc uống.

Quả mơ sinh tân dịch, giải khát

Những bài thuốc trị bệnh bằng trái cây – Hà Duyệt Phi, Vương Lợi Kiệt

Phần 1: Đặc tính và cách sử dụng trái cây chữa bệnh

29. Quả mơ sinh tân dịch, giải khát

Trong tiểu thuyết cổ điển “Tam quốc diễn nghĩa” của Trung Quốc có một đoạn kể về chuyện Tào Tháo dẫn đại quân hành quân đường xa. Dọc đường, trời nóng nực, xung quanh không có nước, tướng sĩ ai cũng khát khô họng. Tào Tháo bèn nghĩ ra một cách, bảo rằng: “Phía trước không xa có rừng mơ”. Mọi người nghe nói, chợt nghĩ đến vị chua của mơ, ai cũng đều ứa bọt, thấy đỡ khát. Đó chính là điển tích “vọng mai chỉ khát” được nhiều người biết tới.

Đúng là vị chua có tác dụng kích thích làm tiết nước bọt. Lợi dụng phản xạ có điều kiện đã được hình thành từ vị chua của mơ là hợp với khoa học. Thực ra, mơ chẳng những là thứ quả quý giải khát, sinh tân dịch mà còn là vị thuốc Đông y nổi tiếng.

Mơ xanh được gọi là thanh mai, đem ngâm rượu gọi là rượu thanh mai, có thể chữa viêm dạ dày, nôn mửa, đau bụng, phong thấp, đau khớp xương, phòng cảm nắng, cảm nóng. Thanh mai được sấy khô có màu sẫm gọi là ô mai, là vị thuốc thường dùng trong điều trị lâm sàng của Đông y. Ô mai vị chua, tính bình, vào đường kinh can, tì phế, đại tràng, có công hiệu nhiều mặt, chữa được nhiều bệnh.

Bị chứng ho lâu ngày làm tổn thương phổi, phế khí phù tán dẫn đến ho khan khó khỏi: Có thể dùng ô mai kết hợp với bán hạ, hạnh nhân, bách hợp, tử uyển, túc xác, hoàn phác hoa điều trị.

Đại tiện phân nát, tiêu chảy do tì hư, viêm đại tràng, sa hậu môn: Dùng ô mai kết hợp với đẳng sâm, bạch truật, kha tử. Đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều cũng có thể dùng ô mai kết hợp địa du, hoa hòe, ngải thán, thược dược, đẳng sâm để chữa. Ra mồ hôi trộm thì kết hợp ô mai với hoàng kì, đương quy, ma hoàng căn, cũng có hiệu quả điều trị khá tốt.

Ô mai còn có tác dụng sinh tân dịch, chữa khô khát: Miệng khát do phiền nhiệt, dùng ô mai kết hợp với thiên hoa phấn, ngọc trúc, thạch hộc. Để chữa cảm nắng cảm nóng và giải khát, sinh tân dịch, dùng ô mai với số lượng vừa phải, 3 thìa con đường, cho đổ nước đun sôi, để nguội uống. Người bị bệnh đái tháo đường, không tự chủ được tiểu tiện, cơ năng sinh lý tuyến giáp trạng quá mức bình thường dẫn tới miệng khô khát thì dùng bài lục vị địa hoàng thang thêm ô mai, ngũ vị tử và một ít nhục quế sẽ thấy hiệu quả rất tốt.

Ô mai cũng có các tác dụng sau:

– Trị giun đũa, chữa nôn, giảm đau: Do ô mai có vị chua nên làm cho giun đũa bị mềm nhũn. Người có giun đũa thường buồn nôn, đau bụng. Có thể lấy 30 gam ô mai, 3 cùi dìa đường, sắc trong một cốc nước to, để nguội, đưa bệnh nhân uống sẽ nhanh chóng hết đau.

– Lợi mật, làm tan sỏi mật: Nếu bị đau quặn do sỏi mật, viêm túi mật, dùng ô mai kết hợp với kim tiền thảo, hải kim sa, diên hồ tố, kê nội kim, cam thảo chế sẽ thấy hiệu quả đáng mừng. Y học hiện đại qua nghiên cứu đã cho thấy mơ chứa các loại axít hữu cơ có trong táo tây, phật thủ, có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt, đồng thời làm co túi mật, thúc đẩy quá trình tiết mật.

– Bổ dạ dày, khai vị: Ô mai kết hợp với thuốc bổ khí có tác dụng tốt làm sản sinh nhanh tân dịch, giúp dễ tiêu, dễ hấp thụ thức ăn.

Ngoài ra, người bị trúng phong, hàm răng nghiến chặt có thể dùng ô mai đánh gió. Ô mai dùng ngoài còn có tác dụng làm mềm, làm tan mụn cóc (hạt cơm) trên da.

Hoa mơ chẳng những đẹp mà còn có tác dụng chữa bệnh. Nụ mơ mới hé nở đem thu hái, ướp đường hoặc dùng pha trà, pha nước chấm, nấu cháo đều tuyệt vời. Hạt mơ điều trị khá tốt tình trạng can khí uất kết, khó chịu trong ngực, dạ dày hoạt động kém. Lá mơ, rễ mơ, cành mơ đều có thể dùng làm thuốc điều trị bệnh phụ khoa, sỏi mật, viêm túi mật, bệnh tràng nhạc…

Do mơ vị chua, tính ấm, ăn nhiều hại răng, sinh đờm, thêm nhiệt nên người bị cảm mạo, dạ dày nhiều chất axit, trẻ em bị lên đậu cấp tính… cần kiêng dùng.

Các bài thuốc chữa bệnh bằng mơ

– Đau khớp dạng phong thấp: Vừa uống rượu thanh mai vừa dùng rượu này xoa bóp, ngày vài lần.

– Ra mồ hôi trộm: Ma hoàng căn, hoàng kỳ, đương quy, ô mai mỗi loại 10 gam, sắc uống.

– Đi lỏng dài ngày do tì hư: Đẳng sâm, bạch truật, kha tử, ô mai mỗi loại 10 gam, sắc uống.

– Miệng khô khát do phiền nhiệt: Thiên hoa phấn, ngọc trúc, thạch bộc, ô mai mỗi loại 6 gam, sắc uống.

– Đái tháo đường, không tự chủ được tiểu tiện: Thục địa, hoài sơn, đan phiến, ô mai, ngũ vị tử mỗi loại 10 gam, nhục quế 2 gam, sắc uống.

– Tẩy giun đũa: Ô mai 10 gam, xuyên tiêu 6 gam, gừng 3 lát, sắc uống.

– Sỏi mật, viêm đau túi mật: Kim tiền thảo, hải kim sa, diên hồ tố, kê nội kim, ô mai, cam thảo chế mỗi loại 15 gam, sắc uống.

– Trúng phong, răng nghiến chặt: Đánh gió bằng ô mai.

– Mụn cóc (hạt cơm) trên da: Ô mai 30 gam, ngâm nước muối 24 giờ, bỏ hạt, tra ít giấm, nghiền thành dạng cao, đắp trên mục cóc.

Quả phật thủ – vị thuốc nhiều tác dụng

Những bài thuốc trị bệnh bằng trái cây – Hà Duyệt Phi, Vương Lợi Kiệt

Phần 1: Đặc tính và cách sử dụng trái cây chữa bệnh

28. Quả phật thủ – vị thuốc nhiều tác dụng

Trái phật thủ khá to, có mùi thơm đậm đà thầm kín, để lâu vẫn giữ được mùi thơm. Người Trung Quốc xưa thường dùng phật thủ làm quà mừng thọ hoặc quà biếu, thậm chí cùng để lâu trong nhà với nấm linh chi cho mùi hương phảng phất mãi không tan. Quả và hoa phật thủ đều có thể dùng làm thuốc. Quả phật thủ chẳng những có thể dùng làm thuốc, làm mứt mà còn là thứ quả đẹp dùng trong trang trí, trưng bày.

Phật thủ là loài cây gỗ nhỏ thường xanh, lá khá dày, hình bầu dục, cành có gai ngắn cứng nhọn; cành già màu xanh xám, cành non hơi tím. Cây mỗi năm nở hoa 2-3 lần. Hoa phật thủ màu trắng, quả chín vàng óng. Quả, hoa và lá phật thủ đều chứa dầu bay hơi, có thể chưng cất thành hương liệu cho thuốc lá cao cấp, hương liệu chè và nước hoa.

Theo Đông y, phật thủ vị cay, đắng, chua, tính ấm, có tác dụng điều hòa khí và trung tiêu, thư can, chống nôn, thường được dùng điều trị các chứng can vị không điều hòa, khí trệ, dạ dày đau, khó chịu trong ngực bụng, kém ăn, nôn mửa… Trong lâm sàng, Đông y thường dùng phật thủ phối hợp với thanh bì, xuyến luyện tử để chữa can khí uất kết dẫn đến đau vùng dạ dày; phối hợp với trúc như, hoàng cầm trị nôn mửa khi thai nghén; phối hợp với giáng hương, trầm hương, kê nội kim chữa chứng nôn ợ, làm dễ tiêu, điều hòa chức năng dạ dày…

Y học hiện đại qua nghiên cứu đã cho thấy, phật thủ chứa nhiều vitamin C, đường, axit hữu cơ, dầu chanh, glucoxit, dùng làm thuốc thơm điều hòa khí, bồi bổ dạ dày, có công hiệu giảm đau, hòa khí, làm dễ tiêu, tan đờm, khỏe tỳ vị, giảm ho, giúp dễ chịu trong ngực, chữa nôn, giã rượu…

Ngoài ra, hoa phật thủ cũng là vị thuốc Đông y rất tốt, tính ấm, vị hơi đắng, có tác dụng lợi tỳ vị, trị nôn và các chứng bệnh như quả phật thủ, lượng dùng cũng tương tự. Tuy nhiên, nếu ăn nhiều phật thủ sẽ bị hao tổn khí, người hư nhược kiêng dùng.

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng phật thủ

– Đau lạnh bụng: Phật thủ khô 15 gam, gạo rang thơm 30 gam, sắc uống ngày ba lần.

– Ho nhiều đờm: Phật thủ 30 gam, đường phèn 15 gam, hấp cách thủy nửa giờ, ngày ăn một lần.

– Ợ hơi: Vỏ phật thủ tươi 30 gam thái lát, sắc uống.

– Đau bụng kinh: Phật thủ tươi 30 gam, đương quy 6 gam, gừng tươi 6 gam, rượu gạo 30 gam, cho nước vừa phải, sắc uống.

– Phụ nữ bạch đới ra nhiều: Phật thủ 30 gam, lòng lợn non 3 thước (1 mét), ninh ăn.

– Đau bụng do can khí, vị khí kém: Phật thủ 9 gam, thanh bì 9 gam, xuyên luyện tử 6 gam, sắc uống ngày 2 lần.

– Chữa say rượu: Phật thủ tươi 30 gam sắc uống

« Về Lại Trang TrướcXem Tiếp Trang Sau »

"Dẫu Bạc Vàng Trăm Vạn Lạng,
Cũng Không Bằng Kinh Sử Một Vài Pho."

--- Lê Quý Đôn ---

Việc Học Như Con Thuyền Ngược Nước, Không Tiến Ắt Lùi.

Toàn Hân - Học Chăm Mỗi Ngày.